|
1 / Triệu
Tuấn hiếu nghĩa và rất mực thông minh.Tánh tình cần cù ít nói.
Gia cảnh gã nghèo khổ, thân tộc tứ cố vô thân. Tuổi ấu thơ sớm
mồ côi cha, lớn lên chuyên việc bút nghiên chưa bao lâu thì mẹ
gã cũng qua đời. Đóng cửa cư tang ba năm xong, gã thôi việc đồng
áng để quảy gánh hàng rong. Triệu Tuấn vốn quen lao lực không sợ
khổ song suốt năm cúi mình trên mảnh ruộng, gã đã không còn thời
gian để đọc sách. Chưa thiết đến vợ con, ngoài túp lều tranh
rách nát ra Triệu Tuấn chỉ biết lấy chữ nghĩa thánh hiền làm sự
sản.Đấy là niềm vui của gã trong thanh bần đơn độc.Xóm làng
chẳng ai ngó tới cứ coi gã như kẻ ươn gàn.
Một buổi trưa hạn hán lâu ngày, gã dừng quang gánh ở gốc đa làng
nọ với nắm xôi qua bữa dọc đường. Đột ngột Triệu Tuấn kinh ngạc
ngừng ăn, chăm chú lắng nghe…Không chỉ ý nghĩa của một bài thơ
khiến gã nín thở quên ăn. Rõ ràng giọng ngâm sang sảng, đầy bi
hùng đang vang lên từ gian lều cô quạnh ở đỉnh đồi lộng gió kia,
đủ để làm gã bồi hồi tấc dạ.Triệu Tuấn chưa từng biết qua bài
thơ ấy ? Vâng, và có lẽ hai câu này sẽ còn đọng lại mãi trong
lòng gã : “Trượng nghĩa, đan tâm quân tử luận / Hàn thân,
độc ảnh tiểu nhân ưu”.
Ngơ ngẩn…hồi lâu.Triệu Tuấn rớm nước mắt bên gốc đa thầm lặng.Gã
thổn thức phận đời quạnh hiu. Đã thế, không sai…gã cứ vẫn là một
kẻ chẳng ra gì. Phải rồi, đau buồn về nghèo khổ, than thở mãi
cảnh độc ảnh cô thân thì đích thị là ưu sầu của hạng tiểu nhân.
Ai chính nhân quân tử, kẻ ấy chẳng lấy thế làm điều. Không
sợ nghèo cũng chẳng vì thiếu kẻ đồng tâm, vắng tri kỷ mà đổi chí
thay lòng… Bậc chính nhân quân tử chỉ một tấm lòng son sắt trong
sáng và những việc làm trượng nghĩa mà thôi. Đó là chỗ luận bàn
của họ. Nhưng không - dẫu chưa từng là một người quân tử -
Triệu Tuấn cũng quyết không để mình thành hạng tiểu nhân
nhu nhược…Gã chùi nước mắt thật nhanh, ngồi thẳng lên và tiếp
tục với nắm xôi còn lại.Từ đó, người ta thường thấy một kẻ quảy
gánh hàng rong đến nghỉ trưa dưới gốc đa kia. Gã luôn ngồi thẳng
và mãi
lắng tai nghe…Lắm lúc, nắm xôi vẫn cứ còn nguyên vẹn mà khuôn
mặt
gã dường như rất
hứng khởi. Miệng gã lập lại những câu thơ vừa nghe qua, cố nhớ
thật nhiều. Nét u sầu dần phai đi trên khuôn mặt kham khổ.
2 /
Giọng ngâm đã vang lên. Triệu Tuấn cũng vừa buông quang gánh. Gã
nhìn bóng dưới bàn chân đã đúng ngọ, không sai. Gian lều lộng
gió bốn bề. Những liếp phên như run rẩy nhiều hơn trên đồi. Gã
lại ngồi xuống gốc đa. Lão nhân quắc thước, râu bạc dài phơ phất
trước gió.Con mắt ông mở lớn ngước nhìn trời xanh. Tưởng như tâm
sự kia không nín giữ mà phải đường hoàng tỏ lộ. Ông đứng thẳng
giữa gian lều, thân rung lên theo từng chữ từng câu…Giọng mỗi
lúc mỗi vang rền. Âm thanh ấy chỉ nghe một lần vĩnh viễn không
cách gì quên được.Tựa hồ như sấm dội, như lớp lớp cuồng
phong bi hùng thổn thức một mình giữa trời đất cỏ cây…Chánh ngọ,
thời khắc quang minh chính đại nhất trong mỗi một
ngày.Thời khắc mặt trời lên thiên đỉnh.
Triệu Tuấn cúi đầu không dám nhìn thẳng vào mắt
lão nhân. Khí hạo nhiên toát ra từ con người ấy hình như còn
rung động đến cả cỏ cây. Gã ớn lạnh trong người. Chưa bao giờ
xúc động can trường đến thế. Một niềm kính sợ vừa thương cảm khó
nói nên lời khi ngước mắt nhìn lên đỉnh đồi kia.Gã đắn đo :
“Quyền giả hùng tâm”.Nếu kẻ quyền thế ưa bày tỏ hùng tâm
tráng chí thì “Hiền giả ưu nhân”, ngưòi hiền hay lo
âu cho đạo nghĩa của người đời. Phải chăng, lão nhân là bậc tài
cao đạo hạnh ? Tự nhiên, một ước vọng…bắt đầu nhen nhúm lên
trong lòng Triệu Tuấn. Gã không dám làm khinh động lão nhân. Gã
chỉ biết mỗi trưa đúng ngọ…lặng lẽ ở gốc đa tận hưởng cái cảm
giác ấm lòng. Một xúc cảm chỉ có gã, một mình riêng nhận.Cảm
giác thật thanh thản đầy bình an và nhẹ nhõm trong lòng.Tâm tư
gã như vừa có một định lực trong sáng nâng đỡ.Phiền luỵ day dứt
bao lâu từng đè nặng thì nay tự tan biến, như người bệnh đã lành
bước ra cửa thấy lại ánh dương quang.
Triệu Tuấn đọc sách, viết chữ chưa nhiều như những bậc thức giả,
đạo cao đức trọng song gã đã có đầy đủ khí chất của một kẻ trân
trọng chữ nghĩa đích thực. Gã biết, trước nhất ở đấy con người
được tu tâm dưỡng tánh nhiều hơn là công phu để làm chiếc thang
danh lợi.Sách vở thiếu gì lời dạy kia. Duy bậc hiền ẩn mới giúp
ý ấy được hiện bày, khiến lời dạy của thánh hiền không trở thành
hư ảo. Những hậu bối như gã được yên lòng, tự trong cảnh nghèo
vẫn giữ được mình không động tâm khắc khoải.Đó là ân huệ có thực
của chữ nghĩa, là khí hạo nhiên tiềm tàng qua sách vở giữa ngàn
thu.Triệu Tuấn là người đang mang ân huệ ấy.Gã cảm kích lão nhân
vô ngần.Đời gã rồi ra sao thì những giây phút đầy thầm
lặng này cũng đã là hạnh ngộ. Một hạnh ngộ giữa bao nhiêu phiền
ngộ
của kiếp phù sinh.Ao
ước gần gũi lão nhân trên đỉnh đồi kia để kính lễ suốt đời chăng
? Gã lại tự xót xa cho mình vì đã vấn vương điều vọng tưởng ?
Nửa ngày đã qua. Nửa ngày…còn lại áo cơm vẫn đang chờ.
Mặt trời lệch vai, tiếng ngâm thơ đã dứt. Triệu Tuấn cúi mình
vào đôi quang gánh. Gã bước đi bần thần, chân vấp phải vật cản,
lao đao. Một quả dưa đất lăn lóc ngay trước mặt. Thì ra không
chú ý, Triệu Tuấn đã đi ra ngoài lòng đường rất xa. Để quang
gánh xuống, gã bê quả dưa đất đặt vào chỗ cũ. Nó trầy trụa chút
ít và chưa lìa khỏi cuống. Một giọng nói sang sảng vang lên sau
lưng gã :
-
Hay cho anh kia.Kẻ chính
nhân đi dưới vườn đào không
đưa tay chỉnh mũ,
lúc qua vườn dưa chẳng cúi xuống sửa giầy…Hà cớ gì quang gánh
lạc vào chốn rau quả của lão phu ?
Triệu Tuấn giật mình bối rối. Lão nhân đang đứng ở lưng chừng
đồi ngó xuống, thần thái uy nghiêm vô cùng.Gã không gian tà gì
nhưng chính thị sơ suất do mình, không thể tránh né :
-
Vãn bối mãi suy tư đi vấp
vào đây nên phải cúi xuống
đặt lại cho ngay
ngắn.Không là hạng gian tà song đã sơ suất xin lão trượng tha
cho .May mà quả dưa vẫn chưa hề gì.
Lão nhân gật đầu nhìn thẳng vào mặt Triệu Tuấn. Con mắt ông như
soi thấu tâm can người đối diện, mỗi tiếng rõ ràng như khắc :
-
Ta chỉ mới nhắc nhở, chưa
từng bảo anh gian dối bao
giờ.Ở đời thiện ác
khó phân, chánh tà lẫn lộn…Đã là kẻ đọc sách sao ta dững dưng
không nói đôi lời. Anh kia, đừng sợ lời răn dè vì răn dè thì
chẳng bao giờ dư cả.
-
Vãn bối cung kính nghe lời
chỉ giáo. Được gần gũi lão
trượng để sửa
mình…âu chính là cái tâm của vãn bối lâu nay.
-
Nghe chừng như anh là người có học.Nhưng chưa từng gặp ta bao
giờ sao vội nói câu khách khí kia. Tánh ta bộc trực thường ghét
sự dua nịnh tâng bốc.Thôi hãy đi đi, không việc gì phải lo lắng.
Triệu Tuấn tần ngần chưa đi.Gã biết đây là cơ hội song khó nổi
tỏ bày…Lão nhân nghiêm mặt :
-
Không hổ thẹn hà tất phải
đắn đo.Phải anh còn oan ức
điều gì ? Cứ đường ngay ngõ thẳng mà đi. Nói năng cũng thế …
Như nhẹ cả người,
Triệu Tuấn bộc bạch thân thế. Gã đem ước vọng của mình thưa với
lão nhân, cuối cùng cung kính :
-
Thưa lão trượng, chỉ mới gặp
lần đầu vãn bối biết là vô lễ
nhưng không mạo muội tất về sau hối hận trong lòng.Tâm thành xin
người mở lòng đoái
tưởng bảo ban…Được thọ giáo ấy là tâm nguyện.
Thấy lão nhân không nói gì chỉ nhìn trời im lặng, Triệu Tuấn
nghẹn ngào cúi đầu.Gã biết việc khó thành, run run bên đôi quang
gánh :
-
Dẫu có vui lòng lão trượng
hay không,vãn bối cũng đã
nguyện với lòng kiếp này không còn kính lễ bậc tôn sư nào khác.
Nếu mỗi ngày còn được đến ngồi dưới gốc đa kia nghe…chữ, âu đã
là phước của vãn bối. Sở nguyện đã thưa rồi, xin lão trượng bỏ
qua tội đường đột với bề trên.Vãn bối cung kính tạ từ.
Lão nhân vẫn lặng im không trả lời.Triệu Tuấn đành lui về đôi
quang gánh, lòng bùi ngùi khó tả.Gã ra đi.Chừng mươi bước,lão
nhân mới lên tiếng :
-
Anh kia, đã có tâm cầu học
rất tốt. Đạo nghĩa thánh hiền
chẳng phải của riêng
ai. Đã thế nghe ta đôi lời.
Triệu Tuấn mừng rỡ quay lại. Lão nhân nói rõ :
-
Tình cảnh của anh khiến ta
thương cảm. Nhưng để làm
một môn đồ thì vẫn
chưa phải vội. Cứ chăm chỉ làm ăn, ôn luyện thi thư. Ngày…kia,
có thể ta sẽ trở về mở lại trường văn. Còn nay ư ? Há rằng
ta cứ đành lòng mặc vận nước hay sao ? Chưa phải lúc…
Ông quắc mắt râu vểnh ngược, nhìn chăm chăm vào chân trời hồi
lâu.Triệu Tuấn chẳng ngờ vô tình khiến lão nhân động mối can
tràng.Gã chẳng dám nói gì thêm cho tới lúc ông dường như sực
tỉnh :
-
Cổ thi có câu“Dũng tướng
bôn chinh vô vấn mệnh /Gian
thần toạ lộc hữu
gia vinh” Anh biết được gì…nói ta nghe thử ?
-
Thưa…Bao hào kiệt không kể
mạng sống vào sinh ra tử
cứu nước giúp dân.
Bọn gian thần ngồi yên ăn lộc mà lại được hưởng thêm cả
vinh quang…Ấy là mối lo của chánh đạo vậy.
Lão nhân cười lớn, xua tay :
-
Chưa đủ, thế đấy…Nếu giảng
giải suông chỉ mới gọi
là hiểu nghĩa.Còn
phải biết làm gì kia ? Đâu dễ tròn hai chữ hiểu biết được
ru ? Ta không hỏi hiểu hay không.Ta chỉ cần cái biết của anh.
Nếu để hiểu suông, chữ nghĩa nào khác món rượu chè để bọn sáo
rỗng ngâm vịnh rung đùi tâng bốc lẫn nhau. Hiểu thế mà chẳng
biết…để làm gì ư ?
Này anh kia…đừng phù phiếm nhầm lẫn cái học chân chính với cái
học
danh lợi của hạng
phàm phu tục tử. Học để thành đạt và học để thành
nhân rốt cục chỉ phân biệt nhau chừng ấy đấy. Thành đạt ở chốn
quan trường mà chẳng thể thành nhân thì chỉ là cái thành
của hạng tiểu nhân, gian thần không khác.Này,học chữ tất biết
nghĩa. Biết nghĩa để sống làm theo đạo lý. Vì thế, mặt rộng của
chữ nghĩa cũng chính là đạo nghĩa.
Triệu Tuấn bỡ ngỡ vì chưa từng rõ ràng lời chí lý mới nghe
như đơn giản ấy.Đã
sáng tỏ trong lòng, từ đó gã càng bình tâm đọc sách chẳng ai
nghe gã nói tới chuyện hoạn lộ quan trường.
3 / Cuộc gặp gỡ khá
lạ lùng ấy đã gieo vào lòng hai người vốn xa lạ - một già, một
trẻ - thêm những niềm tin vào chánh đạo, vào ý nghĩa đích thực
của chữ nghĩa thánh hiền. Triệu Tuấn, gã hàng rong có tâm cầu
học khiến lão nhân cảm xúc trong dạ.
Ông đâu hay, mỗi ngày dưới gốc đa kia vẫn có một đôi quang
gánh đến nơi khi trời vừa đúng ngọ.Gã hàng rong ấy cũng chẳng
thể biết rằng, đấy chính là thời khắc quan trọng nhất trong đời
của vị lão nhân kia. Ông trong lúc đang đắn đo vận dụng hết tâm
trí và cả nghị lực, can trường để làm một việc xưa nay chưa từng
có…Gian lều là nơi lão nhân tĩnh toạ để bắt đầu công việc. Ông
xa lánh người thân, nét mặt luôn đăm chiêu nghiêm cẩn. Có lúc
ngồi suy tư trầm lặng hàng giờ hoặc có lúc vỗ án, mặt giận
đỏ bừng tóc râu vểnh ngược. Có lúc ông dàu dàu nét mặt tưởng như
trong lòng chán nản buông xuôi. Thế nhưng, cứ vẫn đến đúng ngọ
dù nắng hay mưa ông đều cất tiếng ngâm thơ. Hình như rằng là để
nghe lại tiếng lòng mình, dốc hết bầu khí hạo nhiên tàng ẩn
trong từng câu chữ của người xưa. Ngâm thơ đối với ông như một
nghi thức chứng tri và tiếp nhận. Chứng tri tâm can và tiếp nhận
bầu khí hạo nhiên trong trời đất.Thế nhưng các ngày sau cuộc gặp
gỡ ấy, tiếng ngâm thơ chừng như im vắng .Cảnh vật lại trở nên
lặng lẽ.
Gã hàng rong thất thần. Lão nhân vẫn thấp thoáng trên đồi. Gian
lều cỏ tranh còn đó. Buổi chiều Triệu Tuấn hờ hững không buồn để
mắt vào quang gánh. Gã chờ đợi và…ngủ ngồi, tựa lưng vào gốc đa
quen thuộc. Không có một câu thơ nào gã được nghe thêm. Mặt trời
dần lặn xuống non đoài. Gã lầm lũi ra về cùng đôi quang gánh
chưa vơi như thường lệ.Triệu Tuấn không biết rằng, lão nhân bây
giờ đang chấp bút…
Ông đã qua thời gian đắn đo, suy tưởng. Một tờ sớ để hồi kinh
dâng lên đức hoàng thượng đương triều. Lòng dạ ông đã quyết dù
ra sao cũng cam đành. Lúc này, những câu chữ chừng như đã được
an bài không thể nào khác đi được nữa. Mỗi chữ như một ngọn Thái
sơn nặng đến muôn cân đặt xuống. Mỗi câu như một luỹ thành dựng
lên với khí độ can trường, dũng liệt.Ông viết như thu hết sức
bình sinh, tất cả khí lực một đời người
vào phút giây tối hậu. Viết để sau đó, mệnh vận nào cũng chẳng
còn hối tiếc
với đời sau…Hơn ai
hết, ông tự hiểu khi những dòng chữ ấy được
dâng lên cũng là lúc mà tai hoạ có thể sẽ giáng xuống bất kỳ.Ông
viết như trong thời khắc còn lại…sau cùng. Đấy không phải là
một áng văn chương nhả ngọc phun châu. Càng không giống thứ văn
sách nền nếp đầy
điển tích cổ kim nhằm ca tụng hoàng triều hoặc luận bàn cốt đẩy
đưa dua nịnh.Ông không mượn chữ nghĩa thánh hiền mưu cầu địa vị
như kẻ tiến thân hoặc an nhàn tiêu dao ngày tháng.Văn bút của
ông thật ra cũng để cầu an, song không phải cầu an lấy mình, mà
là thứ văn bút vì nghĩa lớn bốn chữ Đại An Thiên Hạ.Tờ sớ ngày
đêm ông đang chấp bút quả là vô cùng đặc biệt, tuyệt không màng
tới cái an nhỏ mọn bản thân mình. Ngược lại, để cái An lớn trong
thiên hạ được sáng lên, chắc chắn hiểm nguy sẽ đón đợi ông ở hai
đầu thế sự…
Khi đã viết xong, ông cho gọi người nhà thức giấc giữa đêm khuya
dặn dò trước sau rất cẩn mật. Chỉ nghe chuyến hồi kinh của ông
dữ nhiều lành ít…Không một ai biết rằng, sau mấy lớp áo trước
ngực ông là tờ sớ đã được viết trong gian lều cỏ ở đỉnh đồi.
Việc làm của ông một mình ông biết, quỷ thần cũng không
lường nổi. Sắp đặt xong việc nhà, ông một mình ra đứng ngắm cảnh
nông phu cày bừa ngoài đồng áng. Đến ban trưa trở vào gian lều
cỏ, ông chỉnh trang y phục mắt đăm đăm như chờ đợi một ai…
Ở gốc đa dưới đỉnh đồi, Triệu Tuấn cũng vừa buông quang gánh
xuống.Một người phía sau gốc đa bước ra khiến gã giật mình.Người
ấy nhìn vào đôi quang gánh dò hỏi :
- Bằng hữu là người lâu nay thường…hóng
mát ở đây ?
Chưa kịp gật đầu chào hỏi, người lạ đã nắm lấy đôi quang gánh
chừng muốn lấy đi. Triệu Tuấn sửng sốt :
-
Tôi chỉ nghỉ trưa, ăn nắm
xôi…chẳng làm hư hại gì nơi
đây cả.
-
Đúng thế, mời bằng hữu…Lão
nhân gia chúng tôi dạy
đợi ở đây để nói
rằng, bằng hữu sẽ cùng người dùng bữa trưa nay.
- Lão nhân gia…có phải vẫn thường ngâm
thơ trên ấy ?
- Vâng, bằng hữu ở xa chưa rành đấy
thôi…Xin đơn giản gọi người bằng ba chữ Chu tiên sinh là đủ.
Người rất ghét tâng bốc. Đã cho gọi, không việc gì phải lo sợ.
Triệu Tuấn bàng hoàng, chân bước lên đồi mà người như trong
mộng. Gã mừng rỡ tưởng không nói nên lời, nhẩm lại :
- Chu tiên sinh…Chu tiên sinh…Phải chăng
quan…
- Vâng, là Tế tửu Quốc Tử Giám mặc dầu,
song người rất
ghét sự tâng bốc, khúm núm trước mặt nhà quan. Thời gian này
người hiện đang thong thả đôi chút vì chưa bắt đầu khoá giảng
hằng năm. Kinh
sư rất gần, người về
lều tranh thăm quê và cũng đang sắp sửa hồi kinh.
4/ Một mâm cơm
rau cà và hai chung rượu trắng. Kẻ giúp việc đã lui ra chỉ còn
hai người, một già một trẻ trong gian lều lộng gió bốn bề. Liếp
phên vẫn rung lên bần bật liên hồi.Bầu trời chính ngọ bên ngoài
cao vời vợi, bạt ngàn mây trắng.
Chu tiên sinh ngồi chủ vị chiếu trên. Triệu Tuấn khách vị chiếu
dưới, gã hết sức rụt rè.Tiếng chủ nhân cất lên :
-
- Ta đã cho phép, tất anh cũng
phải thật lòng không nên
câu nệ.Dùng bữa
xong, anh để ta hỏi vài việc không phải tầm thường… Anh đi tìm
thầy học, chứ có đến nhà quan đâu ?
Gã hàng rong vâng dạ, lòng hồi hộp chẳng thiết gì ăn uống. Khi
đã xong bữa để bắt đầu câu chuyện, Chu tiên sinh hỏi gã :
-
Thân thế, gia cảnh của anh
ta đã nghe qua. Nay cũng nên
cho biết việc nhà anh phải chăng đang rảnh, anh chưa hề bận bịu
chuyện thê noa cho đến bây giờ ?
-
Vâng. Vãn bối đã từng thưa
qua…Tất cả đều là sự thật không dám sai trái nửa lời.
-
- Được. Còn nghe anh có tâm
nguyện theo ta làm môn đồ.
Nếu học để đợi lều chõng nay mai vào kinh ứng thí, hạng như anh
cũng đã có thể tự mình…không phải cần ta dẫn dắt. Nay hỏi rằng,
anh đang muốn bái ta làm tôn sư hay làm người luyện chữ
trường thi ? Phải nói thật. Nếu không, về sau tất hối hận trong
lòng.
Triệu Tuấn đã hiểu ý, gã cố nói nên lời song giọng lạc đi vì
xúc cảm
-
- Vãn bối không cha không mẹ,
sống quạnh quẽ vô cùng .
Chuyện đèn sách theo đuổi công danh đã sớm bỏ bê, nay chẳng còn
đeo nặng. Với tôn sư, vãn bối vẫn khát khao như muốn có một
người cha sớm hôm bên cạnh…Gã ngừng nữa chừng, không còn ngăn
được ngọn trào lòng.
Chu tiên sinh cười lớn. Ông cảm khái vô cùng. Câu nói của ông
sau đó
dường như chỉ để tự nhủ với mình :
-
- Nhà nghèo mới hay con hiếu.
Nước loạn ắt biết tôi trung.
Thời thơ ấu của anh và ta đều có chỗ đau buồn bất hạnh. Song
đừng vì thế mà mất chí cầu học. Ta sớm cách xa thân phụ…Nay có
người quạnh quẽ như anh muốn gần gũi ta cũng vì lẽ ấy. Nhớ đến
thân phụ, ta cớ gì không đoái tưởng tới anh. Người cầu học không
ít, nhưng thiết tha như
anh e rằng có một. Để làm thầy anh, lại coi như cha…ta không vui
lòng
sao được. Ôi, đời
nay lắm khi chỉ một phận sự có người suốt đời vẫn còn chưa chu
tất, huống hồ anh lại muốn đa mang…
Quá mừng rỡ, gã hàng rong quỳ vội xuống giữa gian lều
Triệu Tuấn dập đầu
trước Chu tiên sinh làm lễ bái sư.Ông nghiêm sắc
mặt nói rằng :
-
- Từ nay ta với anh đã nghĩa
thầy trò.Chí anh thế nào ta
đã biết, song tâm ta
anh chưa rõ nông sâu.
Nay là lúc ta sắp lên
đường hồi kinh đại sự. Là…việc sống chết tựa đường tơ kẽ tóc,
nhưng ta quyết đem nắm xương tàn báo đền ân vua nợ nước.Chuyện
nhà, ta đã sắp đặt xong xuôi. Nghiệm kỹ, để khỏi náo loạn thê
noa ta vẫn giữ kín việc làm chưa từng thố lộ cùng ai. Nay anh
gặp ta đúng vào lúc này phải chăng trời định ? Anh vốn
chẳng có gì vướng bận lo toan. Ta đem theo để có thầy có trò sớm
hôm, phòng khi tối lửa tắt đèn.Thế thì lúc ấy…có anh dẫu ta ra
sao cũng được chút vui lòng.
Nói đến đây mắt ông chợt rực lên dữ dội, song hai cánh tay
run run phải vịn vào
lưng ghế. Triệu Tuấn toát mồ hôi trán. Gã linh cảm những điều
kinh hoàng sắp tới với bậc tôn sư mà gã chỉ mới phút giây tao
ngộ. Đã từ lâu, gã lầm lũi một mái lều tranh cô quạnh chẳng bạn
bè thân thích giao du. Việc quốc sự, nhân quần chỉ thoảng
ngoài tai như gió đồng không…Nay gã chợt giật mình tự thấy mông
lung mù mịt. Tại sao tôn sư nói những lời trầm trọng.Người sắp
hồi kinh ? Đại sự nào ? Là một vị văn quan chân yếu tay mềm chưa
từng đánh đông dẹp bắc, nay như đang chuẩn bị lên đường ra chiến
địa. Những lời dặn dò cho…hậu sự ư ?
Chu tiên sinh biết Triệu Tuấn hoang mang.Ông chỉ nói thêm đôi
câu trước khi đứng dậy :
-
- Bây giờ ta chỉ cho anh hay
chừng ấy. Đúng ba ngày sau
tất phải lâm hành. Thời gian đủ để anh quyết định. Có theo ta
hồi kinh hay không, anh cứ vẫn là môn đồ của ta. Nếu trở lại,
lúc ấy những gì cần biết ta sẽ để anh tận tường. Đấy cũng là lúc
mà việc thầy sắp làm gì, trò không thể không hay.Anh hãy về nhà
suy nghĩ, thu xếp gọn gàng…
- Lòng con như nhất. Song tôn sư đã dạy,
tất phải vâng theo. Đã theo thầy, kiếp dư sinh này chỉ có
vui…con còn mong gì hơn
thế. Xin tôn sư hãy đợi con tam nhật an trí việc nhà.
Bậc tôn sư nhìn theo người môn đồ mới thu nhận, gã bái biệt ông
cùng đôi quang gánh xuống đồi. Bóng chiều buông lãng đãng non
xa. Chu tiên sinh ngước nhìn mây trời phiêu hốt, lòng ông vui
buồn lẫn lộn. Đôi quang gánh ấy càng khiến ông khắc khoải…Vì đâu
? Môn đồ cũ của Chu tiên sinh có một người cũng đã từng
mang “quang gánh” trên vai. Song đấy là một gánh sơn hà. Khác
Triệu
Tuấn chỉ mới vừa
bái kiến tôn sư trong hôm nay. Người môn đồ cũ ấy đã ra
người…thiên cổ - Trần Hiến Tông hoàng đế - băng hà chỉ trên
tuổi đôi mươi, người đã thọ giáo ông lúc còn ở cung Thái Tử. Từ
khi ấy, Chu tiên sinh hiểu rằng, vận khí nhà Trần đã không còn
cơ chấn chỉnh.Nhưng với tấm lòng son sắt của một kẻ cô trung,
bốn chữ Đại An Thiên Hạ vẫn khiến ông tiếp tục cuộc hành trình
đơn độc của riêng mình. Một hành trình đầy bi tráng và trơ
trọi đến hoang vu…Hành trình chỉ dành riêng những kẻ đầy
đủ khí hạo nhiên dấn bước.Với ông, cố chấp khư khư vào thành,
bại đã không còn. Điều đáng nói - vĩnh cữu hơn - là câu
hỏi có hay không ? sự tồn tại của khí phách văn chương trong
thời ông đang sống. Ngoài ông ra, ai có thể trọn vẹn trả lời câu
hỏi đó ? Bằng hữu và tri kỷ là đâu ? Chu tiên sinh vẫn
đứng đó, lặng lẽ cho tới khi trời chập choạng bóng hoàng hôn…
5/ Công
quán, ngói âm dương dột nát, là ngôi nhà rường nhỏ nép mình sau
Quốc Tử Giám ở kinh đô. Nơi lặng lẽ, không có bóng dáng quân
binh nào canh giữ. Quan Tế tửu Chu Văn An ở đây trong thời kỳ
công vụ. Đang triều Dụ Tông nhà Trần, vua kế tục Hiến Tông.
Từ khi Chu tiên sinh hồi kinh, người lính già nua hầu cận cũng
đã ít khi lai vãng. Đúng kỳ, mỗi tháng số bổng lộc khiêm nhượng
và phần lương khô được đem đến. Bây giờ, nhiệm vụ phục dịch hằng
ngày của người lính già kia đã giao cho Triệu Tuấn lo toan. Gã
hết sức cần mẫn chăm sóc Chu tiên sinh không khác cha già.
Trần Dụ Tông hoàng đế vẫn không lâm triều trong thời gian vô hạn
định. Quan Tế Tửu như lửa đốt tâm can, không thiết uống ăn mỗi
khi từ Quốc Tử Giám trở về. Trước án thư, ông vẫn đăm đăm
từng đêm thao
thức.Những ngày sóc, vọng, hối, huyền lần lượt trôi qua.
Không thể chần chừ thêm nữa, dặn dò Triệu Tuấn cẩn mật xong, Chu
tiên sinh chỉnh đốn áo mão đại triều vào quỳ trước điện vàng một
mực xin bệ kiến long nhan.Ông đến đúng vào lúc chánh ngọ.
Năm tên cẩm y thị vệ lập tức quát hỏi :
-
- Quan Tế tửu coi thường phép nước,
chưa có thánh
chỉ đã tự ý xin vào
bệ kiến long nhan. Không sợ phạm vào tội chết ư ?
-
- Hạ quan vì quốc sự không thể đợi
chờ. Việc lâm triều
đã từ lâu chẳng còn thông lệ. Do tồn vong chính sự khẩn thiết,
bất đắc dĩ hạ quan phải liều mạng dâng trình tấu sớ lên đấng cửu
trùng.
Lát sau, viên tổng quản thị vệ bước ra. Hắn đi xiêu vẹo, trên
tay đang cầm bình rượu, nạt lớn :
- Quả là to gan lớn mật. Mau đưa
tấu sớ cho ta và lập tức
lui ra. Dựa vào chút
công sức nhỏ mọn của chức Tế tửu kia, há rằng ngươi dám
khi quân phạm thượng ? Không muốn sống nữa ư ? Đưa mau.
-
Hạ quan muốn đích thân tấu trình.
Phi hoàng thượng ra
không thể qua tay ai khác. Phiền tổng quản niệm tình.
Biết không thể đọc trộm được tấu sớ, viên tổng quản cười gằn hăm
doạ. Hắn làm cử chỉ như muốn rút gươm ra :
-
- Rượu mời không uống, muốn uống rượu
phạt. Để xem
ngươi quỳ gối được bao lâu.Chữ nghĩa liệu có sắc bằng vật này
chăng ?
Hắn lật đật bỏ vào nội cung. Một chốc sau, trong góc khuất có
tiếng người thầm thì to nhỏ với viên tổng quản. Hắn ra chiều xum
xoe cung kính :
-
- Bẩm vâng. Việc này để hạ quan lo
liệu. Quả là có tấu
sớ thật. Hình như lão luôn để trong ngực áo. Đại nhân yên tâm.
Trước khi đến tay hoàng thượng, bằng mọi cách hạ quan sẽ khiến
cho ngài biết trong đó viết gì.
-
- Tốt nhất
đừng đụng chạm đến thân thể lão ta. Ít nhiều thì
hoàng
thượng cũng có đôi chút trọng thị vì tiên đế trước đây…Bọn ta
chỉ cần ngài không nghe lời tấu trình kia là đủ. Kẻ sĩ trung
nghĩa ư ? Ồ, sớm muộn cũng phải về thoái ẩn mà thôi.Thân cô thế
cô, sẽ không ai dại bỏ phú quý vinh hoa theo con đường của
lão.Nếu một mực khư khư, tất cái chết đã gần kề.Ngươi thử nói
đi, ngoài lão ta ra có ai là người không nịnh hót bọn ta ? Ha
ha…lập tức truyền thuộc hạ dò xét.
-
Đại nhân dạy
không sai. Hạ quan xin ra sức khuyển mã.
Quan Tế tửu vẫn một
mực quỳ trước sân rồng. Nắng và sức già khiến con người cô
trung ấy run run giữa trời hạn hán. Mồ hôi ướt dầm thân thể. Ông
rạp mình xuống, úp mặt vào sân gạch lưu ly thở dốc. Nhờ thế tấu
sớ trong ngực sẽ không bị nhèm đi. Có những tiếng cười gằn thoá
mạ nổi lên…Tiếng gươm giáo chạm nhau kêu lách cách.
Cho đến ngày thứ ba,
ông vẫn đến quỳ ở đây. Cứ thế cuối giờ thân khi cổng thành sắp
đóng mới chậm chạp ra về.Triệu Tuấn vội ra dìu tôn sư vào công
quán, chỉ thấy Chu tiên sinh im lặng lắc đầu.Gã vừa xót thương
vừa kính trọng, chỉ lo chăm sóc tôn sư mà chẳng biết nói gì. Ông
không cho Triệu Tuấn thay áo trong, nơi cất giũ bản tấu sớ như
một vật bất ly thân. Gã đã hiểu rõ tầm quan trọng của tờ giấy
mỏng manh kia.Tuy không được tận mắt song tôn sư đã nói qua cho
gã biết để phòng khi…hậu sự. Ông nói từ buổi lên đường hồi kinh.
Câu sau cùng hôm ấy khiến người môn đồ trẻ tuổi sững sờ, quặn
thắt :
-
Đệ tử của ta
chẳng ít, không ngờ kẻ lo hậu sự cho thầylại
là một người chỉ mới vừa gặp gỡ đầu hôm sớm tối. Âu là cái duyên
trời định cho ta được hưởng phước làm thầy trong mấy khắc…sau
cùng. Ta vui lòng biết bao. Riêng đối với
anh lại là phận bạc, gặp gỡ ta đúng vào khi bất trắc hiểm nguy.
Có khi…đành bỏ lại anh trơ trọi.Cứ lấy hôm nay những gì ta làm
là bài học duy nhất - đầu tiên và cuối cùng - cho anh đấy. Thầy
xót thương anh cho dù chưa bao nhiêu ngày tao ngộ cả. Vì có lẽ,
thêm lần nữa anh lại phải tự học tự sống lấy một mình. Nhưng
kìa, ai cho phép…anh chảy nước mắt. Anh có từng nghe ta ngâm thơ
chưa hử ?
Đấy, cũng là khóc song chỉ có cổ nhân và
núi sông là nghe được…Không được khóc bởi bọn tiểu nhân, gian
thần sẽ lấy đó làm vui…Cứ kẻ dững dưng, người khóc lóc sợ chết
rồi xu phụ để an thân hưởng chút lợi lộc có là bao xa ? Từ thiên
cổ, nhân gian ai là người không chết. Sống ra sao, bao nhiêu
cũng chưa đủ…duy chỉ lúc sau cùng “cái quan luận định”
mới có thể trọn vẹn một kiếp nhân sinh. Sống, ta chưa từng tự
kiêu đã đủ… Chết, ta quyết không để tiếng chết thừa…Phút cuối
đời có anh khiến thầy vui lòng thế này, lại phải khóc lóc kia ư
?
6/ Ngày thứ tư, Chu tiên sinh dậy sớm khi
còn bóng đêm dày đặc. Triệu Tuấn hầu trà bên thầy sau khi thổi
xong mâm cơm đạm bạc. Hôm nay ông sẽ đi vào buổi sáng và
trọn ngày quỳ ở sân rồng cho tới giờ…thân. Chỉ gắng gổ hai bác
đầy, ông không cách gì cố thêm được nữa. Miệng đắng cổ khô, có
ấm trà bạch mao giúp ông thêm tỉnh táo đôi phần. Đổ đầy trà vào
một bầu rượu…rỗng, Triệu Tuấn cẩn thận cột sợi dây đeo cái vật
nhỏ nắm tay kia vào thắt lưng người thầy râu bạc. Buổi
trưa trời đang hạn hán lâu ngày, vật ấy sẽ giúp Chu tiên sinh
cầm sức ở giữa sân rồng. Ông yên lặng cảm nhận rõ hai bàn tay
người môn đồ run
rẩy…Một việc làm chưa hề hỏi qua ông. Gã
tự ý và đang chờ lời trách mắng.Liếc nhìn chồng sách trên án
thư, Chu tiên sinh biết ba ngày qua anh ta chưa hề đọc được chữ
nào. Ông đứng dậy bắt đầu mang áo mão đại triều.
Sáng hôm ấy, ngay đầu
giờ mão khi cổng thành vừa mở thì các thị vệ đã nhìn thấy quan
Tế tửu đến quỳ giữa sân rồng. Bọn chúng kinh ngạc bật cười nghĩ
rằng chính cái nắng hạn hán lúc chánh ngọ như thiêu khiến kẻ
liều mạng kia thay đổi…
Chốc sau, dưới một bức
cấm thành, viên tổng quản thị vệ lại xuất hiện. Vẫn cái tiếng
thầm thì nhỏ to bên tai hắn :
-
Thế nào ?
Nói ta nghe thử. Liệu cái đầu của ngươi đấy.
- Bẩm, đã có
cách…Hiện tên lính già lưu lại công quán đã
hết công vụ, hắn chỉ việc đem lương thực tới mỗi tháng một lần.
Người nhà lão ta xin theo hầu hạ đã hơn tháng nay. Hiện không
còn tai mắt dò xét. Xin đại nhân bớt giận. Vu oan giá hoạ ắt dễ
hơn nhiều. Hiềm vì lẽ không được phép động vào lão ta, cái thứ
chữ nghĩa chết tiệt kia. Hạ quan vốn quen việc võ biền. Chỉ còn
một cách...
-
- Là cách nào
? nói mau. Để cho ngươi đầu giờ ngọ phải
tra ra bằng được. Nếu không, chớ trách bọn ta bạc đãi. Một trăm
nén…vàng chờ ngươi thuận buồm xuôi gió đấy. Ta ngờ rằng, khó
bưng bít lâu hơn nữa. Khi ngự giá lên vọng lâu hóng gió, hoàng
thượng đã nhìn thấy việc lạ. May mà bọn ta bày trò vui khiến
ngài bỏ quên chưa hỏi tới. Để tiện cho ngươi ra tay, bọn ta đã
mật lệnh cho Cửu môn Đề đốc phải nhắm mắt không được xét
hỏi gì lôi thôi. Lập tức đi ngay.
Quan Tế tửu đã khiến
trời đất cảm thông chăng ? Ngày hôm nay chỉ mới đầu giờ thìn mà
nắng chẳng thua gì chánh ngọ. Đấng cửu trùng ngự lên vọng lâu
sớm hơn những ngày trước. Điều ấy khiến các cận thần không sao
ngăn cản được. Ngài phóng mắt rồng ra xa và nhìn thấy kẻ đang
phủ phục ngoài kia.Chúng thần bẩm tấu sự việc. Dụ Tông chợt nhíu
mày, ngài lưỡng lự hồi lâu rồi truyền chỉ cho
vào.
Khi quan Tế tửu lê bước
tới dưới vọng lâu, tung hô lễ bái xong thì đã không còn đứng
vững. Chỉ có giọng nói vang và một thần trí dũng liệt, còn thân
xác ông tựa hồ như kiệt sức. Dụ Tông truyền ca nhân mỹ nữ im
lời, từ trên cao ngài phán bảo :
-
-
Quan Tế tửu ưu tư quốc sự nào ?
Không thấy cảnh thiên hạ đang âu ca hoan lạc
đấy ư ? Đựơc hưởng ơn vua lộc nước tại sao Chu hiền khanh lại
phải tự mình đày đoạ tuổi già ?
-
- Muôn tâu
thánh thượng, thần vì báo đáp trong muôn một
nên không thể không dâng lên tấu sớ. Trộm nghĩ, xưa nay lẽ hưng
vong quốc sự đều không ngoài việc dùng người của đấng quân
vương. Lẽ rằng, hiền tài đắc dụng ắt tiểu nhân, gian thần phải
thoái. Đấy là đầu mối của việc trị quốc an dân và điều hoà chính
sự. Ngược lại, tiểu nhân lộng hành tất hiền tài chẳng đất dung
thân. Đấy là cơ hội cho bọn gian thần lũng đoạn làm hư hao chính
sự, khiến suy quốc khổ dân. Nay gian thần lộng hành, ngạo khinh
phép nước. Bên trong, chúng ngấm ngầm ra sức sâu mọt, vơ vét
gian tham khiến trăm họ kêu ca, nơi nơi đồ thán. Bên ngoài một
mặt cố bưng bít, mặt khác lại chuyên lấy việc tâng bốc, ngợi ca
khiến thánh thượng vui quên. Bàn tay chúng muốn che cả mặt trời
tâu bày không thật, trước mặt giả cách trung lương mà sau lưng
mưu đồ danh lợi…Đấy chẳng khác gì bọn phản quốc, khi quân. Trong
khi…kẻ hiền tài, người quân tử cô thế đành phải im hơi không dám
tâu bày. Bọn tiểu nhân, gian thần luôn sẵn cái cớ vu hoạ làm
giặc để hãm hại khiến người người lo sợ. Lẽ đó, cửu trùng
chỉ nghe tám phương hưng thịnh. Thiên tử những tưởng bốn biển an
nhàn…Quả thực tội lỗi gian thần đã cao như núi. Đích thị hiểm
nguy của lũ tham tàn rộng sâu tựa biển. Muôn tâu thánh
thượng. Thần là kẻ hưởng ơn vua lộc nước lẽ nào chẳng thấy đau
lòng ? Lòng dạ sắt son dẫu chết không từ, nguyện vì bốn chữ Đại
An Thiên Hạ thiết tha thảo sớ dâng lên ngay trước cửu trùng.
Xin hãy chém ngay bảy đứa nịnh thần để chấn hưng phép nước, răn
kẻ gian tà. Vẫn biết thiên tử sẽ nổi trận lôi đình, thần vì
nghĩa lớn dẫu thác chẳng chút oán than. Ngưỡng mong thánh ý hồi
tâm, chuẩn tấu.
Quan Tế tửu lấy tờ
tấu sớ từ trong ngực áo, cung kính hai tay nâng khỏi đỉnh đầu.
Hoàng cung lặng ngắt như tờ, cận thần xanh mặt. Đấng cửu trùng
nghe như sấm nổ bên tai, long nhan biến sắc. Sự cố ấy quá bất
ngờ khiến tất cả đều bàng hoàng kinh dị…Cuối cùng, bàn tay ngài
cũng đưa ra. Lập tức một tên thái giám bước khỏi vọng lâu thu
sớ.
Quan Tế tửu mồ hôi ướt đẫm triều phục,
thân hình ông run run chực quỵ xuống song hai cánh tay vẫn nâng
cao không chút lung lay. Cảm giác nhẹ hẫng đi khi tên thái giám
quay lưng, tâm can ông chợt thanh thản vô cùng…song cũng là lúc
thể xác con người cô trung kia cạn kiệt , mặt úp xuống sân gạch
lưu ly, ông thở hơi nặng nhọc. Nắng loá mắt hừng hực chung quanh
tưởng trời đất như đang trong lò than lửa. Bụng quan Tế tửu kê
lên một vật tròn. Ông lần tay nắm lấy, chợt thấy man mát một
chút tình của người môn đồ quang gánh theo ông. Bầu nước nhỏ nắm
tay cột ở thắt lưng còn đó…
Khi đấng cửu trùng
đã đọc xong tấu sớ, ngài lặng lẽ gấp tờ hoa tiên mà không giao
lại thái giám như thường lệ. Các cận thần len lét nhìn nhau,
không thể biết tấu sớ đã nêu rõ chức tước những ai ? Bảy tên
người mà quan Tế tửu đòi chém kia vẫn còn trong bí mật…Quả là
một thỉnh nguyện táo gan, động trời chưa ai nghe nói. Rất lâu,
trong không khí ngột ngạt ấy thánh ý mới được truyền ra. Đấng
cửu trùng phán bảovới giọng nói bình thường. Rõ ràng, ngài không
nổi trận lôi đình song có vẻ như sự êm dịu đã tự nói lên mức độ
ảnh hưởng mà ngài đang muốn tìm cách phủ nhận :
-
- Tất cả đều
là bề tôi của trẫm, ngay cả Chu hiền khanh
cũng
thế.Ai nấy đều khuông phò xã tắc, mỗi người đều có tính cách
riêng cứ gì ai phải giống ai.Việc quốc gia đại sự, tự trẫm đã
liệu rõ trắng đen Chu hiền khanh đã…quá lo xa rồi đấy. Để khỏi
mất đi hoà khí giữa các quan bản triều với nhau, nay trẫm bỏ qua
không xét việc làm này của Chu hiền khanh. Tờ tấu sớ này phải
coi như…chưa từng có trên đời. Không chứng cớ bắt tội quan Tế
tửu. Song, từ nay Chu hiền khanh cũng không được sớ, biểu gì nữa
khiến trẫm lại phải nhọc công hoá giải bất hoà. Ai bất tuân
thượng dụ…trẫm đều không tha tội chết, lập tức chém đầu.
- Tạ ơn hoàng
thượng. Thần tuân chỉ.
Trước khi rời khỏi
vọng lâu để hồi cung, Dụ Tông truyền đốt bỏ tấu sớ ngay trước
long nhan. Các tàn lửa mong manh bay lượn rơi dần xuống trên đầu
quan Tế tửu chưa hết thì đoàn ngự giá đã khuất sau cổng Nghi
môn. Đang mùa hạn hán nhưng hình như có một thứ giá rét thấm
vào lòng người phủ phục giữa sân rồng vắng lặng.
7/ Cửa Huyền Vũ phía bắc kinh thành.
Chiều đã bắt đầu nhạt nắng. Quan Tế tửu chậm chạp lần bước tới
đây sau khi rời khỏi hoàng cung. Ông dừng lại dưới bóng mát một
khắc để lau mồ hôi và điều hoà hơi thở. Hai tên lính cầm giáo
chụm đầu vào nhau thì thào to nhỏ, lom lom nhìn ngó…Một lát sau
chừng như không còn nghi ngờ gì nữa chúng khoái trá gọi nhau :
-
- Mau lên ngựa
bẩm báo Tổng quản. Lão ta đang chuẩn bị
treo mũ
áo từ quan. Từ nay trong triều đình chẳng còn ai dám hạch tội
các vương công đại thần. Quan ngài không phải còn e ngại nữa…Ha
ha.
Chúng thấy rõ quan
Tế tửu Quốc Tử Giám cởi bỏ bộ triều phục, hia mão…treo tất cả
lên cửa Huyền Vũ và cung kính chín lạy, chín quỳ. Chỉ như vậy,
đủ để từ nay chức vị kia trả lại cho đấng cửu trùng. Quan tước
nào dù to lớn đến đâu, cũng chỉ trong khoảnh khắc một đời người.
Cuối cùng, còn lại sau tất cả…vĩnh viễn ông cứ vẫn là Chu tiên
sinh muôn thuở. Thật đơn giản, đời ông sáng vằng vặc dường như
không có chỗ cho ân hận, sự biện minh về những ươn hèn, tự đánh
mất mà lắm lúc có thể người bình thường khác vẫn phải đối
diện…trước lòng mình. Để đích thực là con người vì Tất Cả , ông
tuyệt nhiên không tư vị riêng ai ngay với cả bản thân mình. Rất
có thể - người như ông - cũng chẳng hề chủ tâm để được tiếng
trong sạch, thanh cao như một thứ trang sức đặc biệt trong đời.
Đơn giản, đấy đã là khí cốt tự nhiên. Tại sao những người không
như ông vẫn mải miết đi tìm ? Khí hạo nhiên kia có hay không
giữa trời đất bao la ? Chu tiên sinh và những hạng người như ông
dường như sinh ra, cốt trả lời câu hỏi ấy. Câu hỏi suốt ngàn thu
chưa bao giờ thôi ẩn hiện ở đằng sau bóng chữ, khuất lấp trong
nếp gấp văn chương.Ông rời cửa Huyền Vũ khi trời đã nhá nhem.
Tới cũng như lúc đi bước chân không có gì đổi khác, mặc những
đôi mắt cú vọ săm soi.
8/ Chu tiên sinh bồi hồi về đứng trước
công quán.Nơi bao ngày qua ông tận tuỵ một thời. Đìu hiu và lặng
lẽ …Từng làn gió đêm thổi ngược làm tóc râu ông phất phới. Hơi
nóng như vẫn còn lẩn khuất giữa không gian. Bước lần qua cổng
với cảm giác trống vắng, thư thả… Ông vấp vào chiếc đôn sứ nằm
lăn đổ giữa đường đi. Không thấy bóng dáng Triệu Tuấn chạy ra
đón đỡ bên thầy ? Cây đèn lồng treo đêm trước thềm hiên vẫn chưa
thắp. Bấy giờ, Chu tiên sinh mới chợt thấy lạ lùng ? Lặng ngắt
bóng đêm, chỉ có những cánh dơi xập xoè qua lại. Công quán dường
như chỗ không người. Linh cảm điều bất tường vừa đột biến…Chu
tiên sinh bước vội vào, hai tay quờ quạng trong bóng tối. Mở
nhanh hai cánh cửa chỉ khép hờ, ông lờ mờ cảnh xiêu đổ tan tành
khắp nơi trong công quán. Chân ông vấp vào những sách vở, bút
nghiên đầy dẫy nền nhà…Bộ trường kỷ ở căn trên, hiện đã dời ra
giữa. Thoang thoảng mùi máu tanh. Lòng dạ Chu tiên sinh quặn
thắt.
Không biết bao lâu
ông mới tìm ra lửa để thắp lên. Ánh nến vừa đủ để nhìn rõ cảnh
thê lương. Không nơi nào còn nguyên vẹn. Tất cả đều lăn lóc, đổ
bể, giường chiếu lật tung, y phục xé rời ra từng mảnh nhỏ.
Những tờ hoa tiên vật vờ, bị giẫm nát.Một hình hài rũ rượi nghẹo
đầu, bị trói chặc vào cột gỗ lim, không động đậy. Triệu Tuấn. Y
phục trên thân xác người môn đồ trẻ tuổi ấy rách bươm, để lộ ra
từng vệt máu tím bầm ngang dọc vắt chéo qua mặt mày, thân thể.
Gã đã bị cực hình tra tấn. Một vũng máu nhầy nhụa dưới chân. Bậc
tôn sư khó nhọc lần từng múi dây thừng, bàn tay run lên bần
bật…Cố hết sức già, Chu tiên sinh không để cho thân xác người
môn đồ đổ sấp. Ông kéo chiếc trường kỷ nặng nề tới vừa đủ một
người buông xuống, nằm xuôi. Chút vốn liếng dạy dỗ tâm đắc nhất
cuối đời ông đây sao ? Đạo trời đây sao ? Con mắt già ấy
đang quắc lên dữ dội mà hình như đã ướt…
-
Không bao
giờ…Không…Không.
Chu tiên sinh tự nói
với lòng chăng ? Vâng, song đấy cũng là giọng thều thào vừa lọt
ra từ một cửa mồm đầy máu. Triệu Tuấn chưa chết ư? Gã đang mê
man và bắt đầu nói sảng. Mạch máu lưu thông nhờ sợi thừng
được cởi bỏ cùng với chấn động của thân hình vừa đặt
xuống.
-
Không…Không
phản thầy. Ta thà chết không nói…
Nhểu một tí nước vào
môi gã, ông phập phồng hy vọng. Cái bầu nước nhỏ nắm tay đã giúp
Chu tiên sinh quỳ suốt giữa sân rồng hạn hán. Cái bầu ấy cũng sẽ
giúp gã hồi sinh. Cái bầu rỗng rượu…nhưng đầy nước bên trong…còn
đủ để những người như hai thầy trò ông tin tưởng dù cô thế giữa
đất trời bao la này thực, song chánh đạo vẫn còn. Dẫu có khi đi
bằng những bước lẽ loi, nhưng tiếng vọng của nó thì tuyệt nhiên
không bao giờ vô ích. Dẫu hoạn nạn hoặc bình an, dẫu thanh bần
hay phú quý, là thành công hay thất bại…Tất cả, rồi cuối cùng
chẳng có ai còn lại. Có chăng ? Chỉ tiếng vọng của khí hạo nhiên
là bất tử.
9/ Mấy ngày sau… ngược phía bắc rời kinh
sư. Trên con đường tinh sương mới rõ mặt đã có tiếng người trò
chuyện. Lão nhân chống gậy đi trước, râu bạc phương phi con mắt
đầy thần khí lẫm liệt. Bên lưng ông là chiếc bầu nắm tay lủng
lẳng. Theo sau, người thanh niên với một đôi quang gánh toàn
sách vở, bút nghiên. Gã xanh xao và đầy thương tích trên khuôn
mặt hiền lành. Hai người một trước một sau bước chân không có gì
vội vã. Cứ chừng nửa dặm, họ lại dừng bên vệ đường…Mỗi lần thế,
câu chuyện lại được nối theo rôm rã. Nhìn họ, khó ai biết hai
người vừa qua cơn sinh tử kinh hồn.
Lão nhân ngồi xuống
chiếc đòn gánh úp sấp, bắt ngang qua hai đầu quang gánh. Thanh
niên tựa vào gốc cây, đứng sau thủ lễ.
-
- Đệ tử không
kịp giấu cất những trứ tác của người. Kinh
sách thông dụng không việc gì. Chúng chỉ huỷ hoại tâm huyết một
đời của tôn sư…Nhất là bộ Tứ Thư thuyết ước mười quyển đã
không còn.
Lão nhân cười lớn,
nói như chẳng việc gì :
-
Nực cười cho bọn tiểu nhân, chúng biết có thể hại được ta nhưng
không bằng tiêu huỷ tâm ta nên xoá sạch đi trứ tác. Thế,các
người như anh muốn sống theo ta hay chỉ cần đọc đủ sách ta trứ
tác
?
-
- Vâng, đệ tử
rất mừng vì đoán chắc nay mai tôn sư ắt
lập trường dạy học. Việc truyền thụ của người chính vì thế sẽ
cặn kẽ hơn nhiều so những gì chúng con chỉ được đọc qua trứ
tác.
-
- Bài giảng
lớn nhất của ta, anh đã học. Thế đấy, mà rồi
nhớ thử xem…ngoài đôi quang gánh theo ta cho đến nay, đã khi nào
anh có đủ một ngày ngồi nghe sách, viết chữ với thầy đâu ?
Thanh niên cảm động.
Ôi, dẫu đã phải chết hôm ấy vì thầy thì cuộc đời nhỏ mọn của gã
cũng đã vô cùng mãn nguyện. Huống hồ… Vâng, anh ta đã được giảng
dạy bài học lớn nhất của tôn sư.Một bài giảng mang thực nghĩa
đến tận cùng rốt ráo. Bài giảng ấy không phải cần lớp học. Bài
giảng mà người chỉ giáo lẫn kẻ môn đồ đều tận tuỵ ngay trên mạng
sống của chính mình.
Hai kẻ bộ hành lại
cùng chia nhau bầu nước nhỏ. Thầy trước, trò sau. Đôi quang gánh
và chiếc gậy tre tiếp tục cuộc đăng trình. Họ trở về ư ? Vâng,
nhưng là để chuẩn bị cho một cuộc lên đường mới. Họ sẽ đi về
phía mái trường và thế hệ tương lai…
(thành
nội Huế - 2005 )
Trần Hạ Tháp
Trở về Trang Chính
|