|
Khi tư tưởng được truyền thông, nói và nghe là tương quan
biện chứng. Xuất hiện từ rất xưa hơn hai ngàn rưởi năm về
trước, song mọi bổn kinh nhà Phật đều khởi đầu bằng"Như thị
ngã văn" - Ta đã từng nghe như thế…Bốn chữ ấy gián
tiếp nói lên vị trí và giá trị văn hóa nghe đã được tôn
vinh một cách trang nghiêm, tối thượng ở phương đông.
Người Huế - truyền thống - thông thường vẫn nghe nhiều hơn nói.
Với họ, thì im lặng nhiều khi không hàm ý chối từ hay bặt dứt tư
duy. Đấy là im lặng lắng nghe và chiêm nghiệm. Im lặng của tư
tưởng.
Không chỉ ở thị tứ mà bất
cứ nơi đâu cũng trở nên ngột ngạt, ồn ào khi con người dần đánh
mất không gian. Đấy là lúc nhân loại phải chấp nhận mọi thứ
tiếng xô bồ của thị phi náo nhiệt. Ai cũng muốn thể hiện mình,
muốn nói vì mình hơn là nghe người khác. Không gian thu hẹp
dần, khiến tư tưởng con người chỉ chuyên về đối phó. Sự phóng
khoáng của tâm hồn trở thành xa xỉ phẩm và tính thực tế nhanh
chóng lên ngôi. Những mơ mộng lâu dài sẽ bị thay thế dần bằng
những giải trí có lập trình. Khuynh hướng ấy đang hiện hữu với
sức mạnh toàn-cầu-hóa.
Tại sao người Tây phương du lịch, đi tìm về các giá trị mà xã
hội văn minh thời @ hôm nay đang mai một ? Họ đi tìm những gì có
thể đã đánh mất ngày qua…Du lịch thực chất để được đi,
được biết, được nhìn…Nhưng ngoài ra còn để được im lặng và lắng
nghe người khác nói.
Ở một nơi như Huế, thiên
nhiên đã cứu rỗi con người.Thanh thoát với núi, nước, trời,
mây…Tư tưởng con người có nhiều cơ hội hơn để vươn cánh ra khỏi
không gian toan tính mỗi ngày. Nhu cầu nói tự giảm, thêm một
phần cho mơ mộng, tư duy…Từ đó, trầm tư trở nên một phần trong
tính cách Huế. Có nghĩa, im lặng là chiều sâu và lắng nghe là tư
tưởng. Con người nơi đây dễ dàng bắt gặp những "Giao
thoa" mà chỉ với im lặng thành khẩn mới đích thực được
hòa mình và rung cảm…
Trước thiên nhiên, là lúc im lặng lắng nghe gì ? Phải chăng đấy
là lúc tư tưởng vỗ cánh bay xa, bỏ sau lưng những không gian đời
thường đầy mỏi mệt. Là sự vượt thoát ra khỏi khống chế bi kịch
của "thời gian đóng hộp". Người Tây phương đã chỉ cho chúng ta
biết đâu là ích lợi thiết thực từ những giây phút mộng mơ ?
Vâng, sự hóa giải "Stress", những sản phẩm không mời gọi của nền
văn minh hiện đại.
Từ mộng mơ đến tư tưởng để phôi thai nghệ thuật và sáng tạo,
phát minh…Đều mang dấu ấn của lắng nghe và im lặng.
Lắng nghe nội tâm dạt dào, thổn
thức. Im lặng để cảm nhận và thấu triệt những tiếng vọng ẩn
khuất còn trầm tích dưới đáy sâu tư tưởng. Điều ấy trả lời cho
câu hỏi vì đâu ? Người Huế rất yêu thơ và đam mê nghệ thuật. Họ
vẫn thường hay mơ mộng…"Đất là người". Tư tưởng phương tây từng
nói thế.
Quả thực Huế giàu có sự nhàn hạ, không gian và tư tưởng. Văn hóa
nghe được đánh giá như một trong những giá trị đặc thù,
truyền thống. Nhưng những gì điển hình nhất mà người Huế
lắng nghe ?
Tiếng chuông chùa tinh sương lan tỏa giữa màn đêm khi trời đất
yên tĩnh đợi bình minh một ngày dần hé lộ…Buổi sáng ở đây luôn
thanh thản và bắt đầu sớm hơn so những nơi nào khác. Vì thế,
thời gian một ngày như dài hơn để có thể cho ta thêm chút bình
tâm, quên vội vã. Mỗi ngày đến nhẹ nhàng tựa đóa sen nở ra từ
bóng đêm, vẫn còn đẫm hơi sương tinh khiết. Đó là lúc người Huế
thức giấc để lắng nghe Đại hồng chung ngân nga…Tiếng chuông chùa
Thiên mụ.
Tách trà của cụ già trong ánh lửa đầu ngày - trang
trọng nhưng hết sức đơn sơ
- với một nét hồn đầy tĩnh lặng. Sự độc ẩm bây giờ không mang
nghĩa cô đơn hay phiền lụy. Tiếng vọng trầm của hồi chuông giúp
con người hồi tưởng việc hôm qua…Đó là cơ hội để giải tỏa ẩn ức
hay bình tâm quán xét lại buồn và vui nhân thế. Tất cả đều có
thể, rồi sẽ như khói tỏa ở chung trà. Sẽ tan đi nhẹ nhàng và
trôi tận cõi hư vô… Vâng, độc ẩm mà như đang "song ẩm"
bên - tiếng chuông - người bạn tri âm không phải cần gặp
mặt. "Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình". Người xưa, chỉ cần tiếng
lòng đủ để hiểu nhau dù vẫn cách xa vạn lý. Đã bao lâu ? Người
xứ Huế là tri âm của tiếng chuông chùa Thiên mụ ?
Thời gian đi qua với bao nhiêu lần đứt nối, phế hưng
song thời gian trong âm thanh kia dường như là hằng cửu.
Đó là tiếng thời gian lan tỏa khắp không gian. Thứ vọng
âm hiện hữu đủ nguyên bản cổ sơ, đi thấu suốt, chạm tới mọi ngõ
ngách không gian, vượt thời đại để gặp gỡ vị lai. Im lặng,
lắng nghe vọng âm ấy, tư tưởng như được bay cao bay xa vào
vô tận…
Bây giờ, khi mà tiếng chuông chùa xứ Huế được ca ngợi,
được tôn vinh nhiều nhất - như một quán tính phong trào - cũng
là lúc không gian xưa trở nên lạ lẫm đã từ lâu. Tiếng Đại hồng
chung ấy mất hút giữa những tiếng động rền rĩ của nền cơ giới
văn minh. Chuông chùa xa khuất, mơ hồ không còn trầm hùng lồng
lộng giữa trời đêm. Từ cuối thập niên 60 trở về trước, một tiếng
chuông chùa Thiên Mụ lúc tinh mơ nghe được đến tận những thôn
làng heo hút, vượt qua Bồ giang thong thả ngân nga…Chạm tới cả
lau lách dọc con sông Mỹ Chánh. Gần hơn, trong địa bàn thành
phố, mỗi tiếng chuông lúc ấy mỗi chấn động mặt đất dưới
chân người nhè nhẹ…Đi chân trần mới thấu hiểu vì sao ai
đã gọi, có "tiếng trống nổi trời" và "tiếng chuông dậy đất" ?
Tiếng chuông chùa xứ Huế vẫn còn đây, song tất cả chừng ấy đã
khác xa trong quá vãng…
Uống trà độc ẩm, nghe chuông chùa Thiên mụ giữa tinh
sương để tĩnh tâm và bắt gặp những tư tưởng trong sáng đầu ngày,
có còn là di sản tinh thần tiếp tục lung linh trong ký ức Huế
hôm nay ? Tiếng chuông như một tặng vật kỳ diệu dành cho ai biết
lắng nghe và điều hòa tâm tưởng. Tặng vật giúp "thân tâm thường
an lạc".
Cheo leo nơi sườn núi, đỉnh đồi có tiếng Đại hồng chung kia
buông thả, khoan thai. Thông điệp vô thường, nhắn gởi tới con
người cái chớp mắt "Sát na" trên mọi nẻo đường danh lợi.
Còn dưới kia, dòng sông xanh lơ lững…Mặt nước sông Hương muôn
đời bình lặng. Trước im lặng của dòng sông, gợi tưởng sự im lặng
của con người xứ Huế. Lặng lẽ để xanh trong. Sự xanh trong mang
tâm hồn ẩn sĩ. Những con người lấy "Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen". Ngay dưới bóng thành quách
rêu phong ấy, vẫn lẩn khuất đâu đây đôi dáng người buông câu
trên mặt nước. Thú "yên hà" của những ai chọn thiên nhiên làm
"bằng hữu tâm giao". Họ là những kẻ im lặng bên
dòng để lắng nghe vọng âm từ tiết tấu thiên nhiên. Một
nét tư tưởng Lão Trang, cái đẹp nhẹ nhàng tranh thủy mặc.
Cho đến khi hoàng hôn xuống, lãng đãng tiếng lòng ai vỡ nhòa
trên mặt nước mênh mông ? Giọng hò mái đẩy. Có người đứng giữa
lau lách một bờ sông để lắng nghe thứ tiếng ấy mãi cho đến khi
bóng con thuyền khuất xuôi về cửa biển ? Giọng hò như treo vào
trong gió, lất phất bay cơ hồ từ một cõi khói sương nào phiêu
dạt…Con thuyền mờ tỏ giữa thứ ánh sáng giao hòa đêm và ngày kỳ
ảo. Câu hò giọng Huế khiến thổn thức lòng ai…
Cảm giác ấy không hiện hữu ở một nơi nào khác nữa, dẫu người đi
khắp muôn dặm quan san. Thuyền khuất dạng giữa màn đêm buông
xuống. Một mặt nước mênh mông xao xuyến còn vướng lại nỗi niềm
trên ngọn cỏ bờ lau. Đó là lúc tư tưởng con người vừa nhận được
thông điệp của thời gian. Sự mênh mông và bất tận tháng ngày.
Còn lại đó là lặng lẽ bâng khuâng từng câu hỏi, về đâu ? Một con
thuyền mong manh mặt nước. Hay, về đâu ? Con người giữa thời
gian vô thủy đến vô chung. Phận người lênh đênh là thế, sao câu
hò vẫn nhắn gởi một tình thương…Buồn mà đẹp biết bao nhiêu. Ôi,
đạo nghĩa làm người và "trường ca" bi tráng trên sông !
Giọng mái đẩy không vỗ về, gần gũi như âu yếm ru hò bên tao nôi
người mẹ. Không xôn xao rạo rực như giọng hò giã gạo thức trắng
đêm thanh. Đó là thứ tiếng lòng cô quạnh buông thả giữa dòng
sông…Mỗi nhịp chèo là một lần khuấy động nỗi niềm không biết tỏ
cùng ai ? Giọng hò ấy từ những tâm hồn mộc mạc, chỉ biết đem tâm
sự với thiên nhiên những gì mà con người chưa nói
đủ với con ngưòi…Tại sao giọng hò ấy khiến những bậc tài trí anh
hào vẫn xúc cảm không nguôi ? Vâng, sự kỳ diệu ấy không đợi chờ
tư tưởng. Tư tưởng hiện thân cốt giải thích mọi điều. Song tư
tưởng có lúc cũng trở về im lặng. Im lặng lắng nghe những gì
không thể lấp đầy bằng ngôn ngữ. Bên dòng Hương giang
kia, còn giọng hò mái đẩy. Đó là lúc tư tưởng lặng lẽ trên bến
bờ "Bất tư nghị".
Giọng hò mái đẩy xa vắng nao lòng kia không sanh phách đẩy đưa.
Một con thuyền chơi vơi và "nhân ảnh" nhạt nhòa…Chỉ có lá trúc
lay và dòng sông bát ngát. Đó là thứ tiếng nguyên thủy của dòng
sông, là hồn vía từ ngàn xưa lưu lại giữa đôi bờ.
Con sông ấy vẫn còn đây...
Như tiếng chuông chùa Thiên mụ, giọng hò mái đẩy cũng đã thuộc
về thứ vọng âm không thể nào lãng quên của Huế. Một - ngân nga
giữa đêm trường cho tới lúc bình minh. Một - thả dài trên bến
bãi cuối ngày khi hoàng hôn đọng bóng. Cả hai đều tồn tại do bản
chất của không gian nguyên sơ, khoảng khoát nơi nầy. Tất cả sẽ
nhạt nhòa, sẽ chỉ còn là vang bóng thời gian khi núi, nước,
trời, mây dần chia cắt phân ly. Những vọng âm kia là ấn chứng
vĩnh cửu cho đặc thù văn hóa nghe của Huế. Hãy ước mong
cho không gian làm nên chúng…Vẫn mãi rộng, mãi còn như tấm lòng
những đứa con xứ Huế, khi sinh ra là đã cưu mang vọng âm kia
trong suốt cả cuộc đời.
(thành
nội - Huế)
TRẦN HẠ THÁP
Trở về Trang Chính
|