|
quanh
Xoài
về!
Tiếng
vọng ghê gớm có sức mạnh làm người ta run lên vì lo sợ. Không
ai hiểu “xoài” là tên của vị hung thần, ác thần nào đó hay là
mùa xoài chín. Nhưng “xoài về” đối với người dân quê một thời
đồng nghĩa với cơn dịch họa đang từ đâu giáng xuống trong cơn
nóng bức của mùa Hạ.
Hiện tượng của “xoài về” năm nay là chuột. Chuột
sinh sôi nẩy nở thành đàn, thành lũ kéo đi rúc rỉa khắp mọi hang
cùng ngõ hẻm. Người ta sợ uy danh của chuột đến độ phải kiêng
cử để khỏi phạm húy bằng cách gọi chuột là “ông Thiên”!
Khi “ông Thiên” đã kéo nhau ăn sạch mùa màng cây
trái thì đua nhau chết và đua nhau sinh. Chuột sinh ra nhiều
đến độ nhiều người cho rằng, ba ngày mà chưa tắm gội kịp thì sờ
lên trên đầu cũng có tổ chuột. Người và chuột đều thi nhau
chết. Xác chuột chết càng rãi đầy làng xóm thì số người chết
cũng gia tăng theo khắp xóm dưới làng trên. Chuột chết không
biết vì đâu. Còn người thì hiện tượng rẩy chết rất giống nhau.
Đang mạnh khỏe, bỗng cảm thấy ớn lạnh, khát nước, rồi sốt nóng
quằn quại, ruột gan nóng sôi và đau rát như có ai xẻ ra từng
mảnh. Cơn lạnh ập đến làm người co rúm, máu trào ra rồi chết.
Sự lây lan càng về sau càng nhanh. Nỗi sợ hãi kinh hoàng càng
ngày càng dồn dập.
Từ miệng cụ già đến em bé, người ta nghe chuyền tai
nhau những tiếng lạ lùng, nhưng có một tác động chết chóc ghê
gớm: “Dịch tễ. Dịch hạch!”
Làng mạc, thôn xóm như đang sống giữa sự đe doạ và
tàn phá của một cơn đại loạn. Ban ngày mà nhà nào cũng đóng cửa
im ỉm. Người trong nhà dùng vôi, lá trầu, các loại lá cây có
mùi hăng hắc, giã nhuyễn bôi lên mặt, lên người… để cho ma quỷ
gớm ghiếc khỏi nhòm ngó.
Nhóm Vườn Thuốc Thái Ấp của Trí Hải trở thành một
chỗ dựa tốt nhất cho quần chúng trong cơn khủng hoảng “xoài về”
nầy. Tuy thuốc của vườn Dược thảo Thái ấp không trực tiếp đương
đầu nổi với nạn dịch chuột đang lan tràn, nhưng đã góp phần năng
nỗ vào việc cứu chữa bệnh nhân. Dinh ông Hoàng nhanh chóng trở
thành một bệnh viện cấp cứu và Thái ấp trở thành nơi “trốn dịch”
được mọi người đồn đãi nhau như là khá an toàn.
Từng đoàn người lũ lượt dắt díu, bồng bế nhau tới
Dinh Ông Hoàng trốn nạn. Khi cả dinh thự và cánh đồi không còn
chỗ chen chân, người ta cắm dùi ngay trên những cánh đồng trồng
thuốc.
Trí Hải nhớ lại có lần bệnh dịch hạch lan tràn ở
Paris khi ông và hoàng tử Cảnh đang có mặt. Nguyên tắc y khoa
chữa trị thời đó là giữ vệ sinh, diệt chuột và uống thuốc Tây
phòng ngừa và chống bệnh. Nhóm Trí Hải vừa chữa bệnh, vừa đi
nhiều nơi giảng giải phép vệ sinh và diệt chuột. Nhưng việc giữ
vệ sinh “chống vi trùng” dịch hạch là điều quá xa xôi và mới lạ
mà quần chúng chưa hiểu nổi để chấp nhận và thực hành. Diệt
chuột là điều mà rất ít người dám làm vì tâm lý vẫn còn nơm nớp
lo sợ… ông Thiên!
Xác chuột không có người hốt, xác người không có đất
chôn càng làm cho tình cảnh trở nên trầm trọng hơn. Ngay Đại
Nội cũng phải khóa chặt cửa thành, không ai được phép ra vào vì
sợ dịch “xoài về” vào thăm cung cấm!
Vắng bóng Phạm Xảo, mỗi chiều về khi nhóm Trí Hải
quây quần quanh chiếu cơm đạm bạc, không khí trầm lại và buồn
hơn. Cái lý vô thường không còn nằm trong lý luận mà đã xông
vào cửa chính kéo Phạm Xảo ra đi. Đêm đêm, Trí Hải trăn trở
nhiều hơn và lâu hơn. Sống như một hiện sinh thiên nhiên thì
dễ, nhưng tìm một ý nghĩa đích thực cho cuộc sống thật khó. Sau
cái chết phảng phất màu huyền thoại của Phạm Xảo, Trí Hải vẫn
thường tự hỏi, một đời của Phạm Xảo có ý nghĩa gì và một đời của
chính Trí Hải mang ý nghĩa gì? Trí Hải đã từng cười chế nhạo
thầm nhóm ông hoàng bà chúa Phủ Đệ thường họp nhau tiệc tùng ca
xướng và tự đặt cho nhóm cái tên vừa buồn cười, vừa buồn bã là
“Hội ăn chơi chờ chết”! Nhưng nếu không phải là như thế thì đâu
là hướng đi cho hết cuối đời? Cuộc đời trở thành quá ngắn khi
có nhiều việc đáng làm mà chưa đủ thời gian làm hết. Nhưng đời
sẽ dài lê thê khi mỗi ngày mặt trời lên cùng với câu hỏi: “Biết
làm gì cho hết phần đời còn lại?!”
Sau những ngày dài làm việc mệt nhoài trong hoạt
động Vườn Thuốc, nhóm Trí Hải vẫn thường dành những sớm, những
chiều và những đêm ngắm trăng uống trà đàm đạo. Câu chuyện
thường vẫn hướng về ý nghĩa của đời sống. Thầy Tiều luôn bị gán
ép làm diễn giả kết luận sau cùng. Ý thầy bao giờ cũng giống
nhau. Theo thầy thì vạn vật đều nằm trong quy luật “thành, trụ,
hoại, diệt”. Nhưng đừng chờ cho một thứ tự như vậy tuần tự diễn
ra mà phải thấy được rằng, trong sinh đã có diệt nên trong thành
đã có trụ, trong trụ đã có hoại và trong hoại đã có diệt. Bởi
vậy, người hay vật mới sinh ra là đang già từng khoảnh khắc,
đang rã dần, đang cũ bệnh trong từng chớp mắt đi qua và đang
nhích dần đến cái chết. Ý nghĩa của đời sống không nằm ở tương
lai mà ở ngay trong lúc đang diễn ra. Phần đông quên hiện tại
và dành quá nhiều thời gian cho việc đã qua và việc chưa tới.
Đừng bận tâm tra hỏi ý nghĩa việc làm của anh là gì vì đó vẫn là
điều xa xôi mà phải hỏi là anh có biết anh đang làm gì không?
Một người khỏe mạnh và xinh đẹp có ai tự thức tỉnh
mình để trả lời là: “Tôi đang chết…” không? Thế nhưng đấy là
câu trả lời trên cửa miệng của thầy Tiều. Có lẽ nhờ vậy nên
dường như trong thầy Tiều không có một chỗ nào để chứa những tác
động của ngày qua và ham muốn của ngày mai. Thầy hồn nhiên và
vui đùa như một đức trẻ thơ thú vị với đồ chơi trước mắt.
Trước sự đòi hỏi cấp bách của hoàn cảnh, nhóm Vườn
Thuốc không còn dừng lại ở giới hạn hốt thuốc và cấp thuốc nữa
mà mọi người trong nhóm phải chuyển tải từng bao lá thuốc vào lò
nấu để sắc lấy nước cho hàng nghìn người bệnh đang nằm la liệt
khắp các ngõ ngách trong Thái Ấp. Sức người thì giới hạn mà sự
đòi hỏi cấp cứu thì mỗi lúc càng tăng. Cảm giác cũng đành,
buông tay bắt đầu xâm lấn từng người trong nhóm. Tâm An, Thiện
Giả, Ba Gấm giữ vững tinh thần nhưng thể chất trên đà sa sút
thấy rõ. Chỉ còn thầy Tiều và Trí Hải vẫn chạy ngược, chạy xuôi
có vẻ như chưa đến hồi nao núng. Thầy Tiều vẫn còn ngồi thiền
định từng đêm sau mỗi ngày làm việc cật lực.
Cho đến một buổi sáng thầy Tiều vắng mặt trong giờ
uống trà, ăn cháo điểm tâm. Bốn người còn lại dáo dác tìm quanh
và thấy thầy Tiều đã lặng lẽ bỏ đi đâu từ trong đêm. Vì công
việc bắt buộc, chỉ có một mình Trí Hải là được ủy nhiệm tạm nghỉ
tay đi tìm thầy Tiều.
Trí Hải tìm quanh gần nửa ngày mà vẫn không thấy dấu
vết của thầy Tiều nơi đâu. Cơn gió Nồm từ phía sông thổi về mát
rượi và mầu nắng vàng đã phai trong buổi xế chiều gần cuối Thu
như vô hình kéo chân Trí Hải men theo lối cũ vào khu rừng đốt
than trong buổi đầu gặp gỡ thầy Tiều.
Chiều tím về trên núi xanh. Không có dãi khói nào
bay lên chứng tỏ có người ở đó. Trí Hải vẫn bước đi với tâm
trạng kiên nhẫn kiếm tìm.
Khi đến gần phiến đá có hầm than ngày cũ, Trí Hải đã
thấy bóng thầy Tiều ngồi xếp bàn lặng lẽ ở đó. Nhìn dáng thầy
ngồi đĩnh đạc như một bức tượng đá, Trí Hải không biết là thầy
đang đạt đến một trạng thái nào vì đã có nhiều lần, người ta tìm
thấy thầy ngồi yên lặng như thế ngày nầy qua ngày khác mà không
có dấu hiệu của hơi thở. Sau đó, thầy gỉải thích là trong trạng
thái định tâm sâu lắng nhất, nếu hành giả đã đạt đến một mức
nhập định cao sâu nào đó thì có thể đi vào trạng thái bế hơi
thở, làm ngưng lại nhịp đập của tim mà vẫn không cắt đứt dòng
sống.
Quan niệm về dòng sống và sự sống của thầy Tiều mang
một nội dung khác hẳn với khái niệm đời thường. Dòng sống, theo
thầy Tiều, là một tiến trình tiếp nối miên viễn trong dòng “Suối
Nguồn Vũ Trụ”. Nguồn Sống ấy là suối nguồn không có sinh ra,
không có hủy diệt, không có thời gian, không có không gian,
không bờ, không bến, không có bên nầy hay bên kia. Tất cả là
một chuỗi biến động không hình, không ảnh xảy ra liên tục trong
từng nhấp nháy của một đơn vị thời gian nhỏ nhất mà con người
hay tri thức của con người có thể nghĩ tới được. Chữ nhà Phật
gọi đơn vị thời gian đó là “sát na”. Mỗi sát na nhanh đến mức
chỉ có khái niệm, đặt tên được mà không thể đo lường được. Vì
một chớp mắt từ khi mí mắt mở ra và nhắm lại là đã trải qua muôn
vạn ức sát na. Nhanh đến thế nhưng chẳng bao giờ ngưng lại. Có
thể trước và sau một sát na, con người và muôn vật đã thay đổi
từ sống sang chết, từ còn sang mất, từ có tới không… nên không
có sự vật nào trên đời nầy là thường tại, là hằng thường cả.
Tất cả đều vô thường.
Sự sống
thực sự là một cuộc “tổng phản công” của con người và muôn vật
chống lại cái chết. Đấy là sự cố gắng thường trực, quy tụ hết
thảy những khả năng vật lý, sinh lý, tâm lý, luận lý, tín lý… để
chống lại sự thay đổi vì thay đổi là tiền đề, là cách nói khác
của hủy diệt. Trong Suối Nguồn Vũ Trụ đó, hễ có hiện tượng sinh
thì phải có hiện tượng diệt và có diệt là có sinh. Sự sống như
nguồn sáng và bóng tối. Nguồn sáng không thấy ở đâu cả nhưng
đâu cũng có. Nó ở khắp nơi. Hễ đến mặt trời thì thành tia
nắng, đến mặt trăng thì thành ánh trăng, qua các vì sao thì
thành ánh sao, giữa cơn giông bão thì thành sấm sét, vào bếp thì
thành lữa bếp, vào giống côn trùng bắt sáng thì thành con đom
đóm. Nó ẩn tàng đâu đó, nhưng lại tức khắc hiện ra – xẹt lữa –
khi hai khoáng vật chạm nhau. Nó vào thân xác vạn vật thì thành
dương tính, tạo hơi ấm để bình hành với hơi lạnh. Nguồn sáng
quay mòng mòng. Nguồn sáng không có nguồn mà tự nó là sáng.
Không ai loại trừ, thay đổi hay chôn giữ cất dấu nó được mà tự
nó là nó. Đi cũng là đến mà tắt cũng là đỏ, mất cũng là còn.
Tất cả vô số lượng hình thái chỉ là sự chuyển hóa, biến tướng
tùy theo đối tượng sinh hay diệt mà nó bị hút vào, bị đẩy ra
liên tu bất tận. Chữ nhà Phật gọi Nó là “Luân Hồi”.
Sự sống thường xuyên chống lại cái diệt đã đành,
nhưng cũng chống luôn cái sinh vì không diệt thì không sinh.
Con người hôm nay là kẻ tử vong qua muôn trùng đại kiếp. Vì
thế, nó mệt mõi, nó run sợ và kinh hoàng trong cuộc viễn du từ
vô thủy đến vô chung đó. Sự sống, tự nó đang chiến đấu tả tơi
đi tìm một sự an nghỉ, một sự sống đời đời trên Thiên Đường hay
nơi cõi Niết Bàn đầy hứa hẹn.
Với thầy Tiều thì “tôn trọng sự sống” là tôn trọng
cuộc chiến đấu của mỗi con người và của mỗi sinh thể trong muôn
vật. Thời nhỏ, khi thầy Tiều còn là một chú tiểu ở chùa, có một
lần chú hỏi thầy của mình rằng:
“Thầy
ơi! Thầy dạy con phải tôn trọng sự sống. Hôm qua con gánh nước
bên bờ suối bỗng gặp một bác thợ săn đang bẫy được một con
trăn. Con hỏi bác ấy tại sao Bác không ăn chay như Thầy mà phải
giết trăn làm thịt tội nghiệp vậy. Bác thợ săn cười và bảo con
về hỏi thầy rằng, Thầy phải làm sao khi con trăn đang nuốt một
con chồn, con chồn đang nuốt một con quạ, con quạ đang nuốt con
chim sâu, con chim sâu đang nuốt con sâu. Cũng theo lời Bác ấy
thì các con vật đang còn sống và dãy dụa cố thoát ra khỏi nanh
vuốt nhau, trong lúc sinh vật mạnh hơn cứ bám riết để nuốt sự
sống của sinh vật yếu hơn. Tất cả, bác thợ săn và năm con vật
trăn, chồn, quạ, chim, sâu đều vì sự sống của mình mà giết chúng
sanh khác. Thầy ơi, thầy dạy cho con đi. Con phải làm sao để
đừng sát sanh mà vẫn bảo vệ được sự sống quanh đây thầy nhỉ?”
Thầy
trụ trì không nói gì cả mà chắp tay đi vào trong. Lát sau, thầy
trở ra với cây roi mây dài trên tay. Thầy đưa cây roi cho chú
tiểu và bảo:
“Cầm
cây roi nầy và ráng hết sức tự đánh mình một trăm roi.”
Chú
tiểu chắp tay xá và nhận cây roi từ tay thầy. Nhưng thay vì tự
đánh mình, chú quỳ xuống trước mặt thầy, thưa:
“Thưa
thầy, con không tự đánh mình được vì con chưa biết mình đã phạm
lỗi gì mà bị phạt như thế.”
Gật
đầu, thầy dạy chú tiểu:
“Thầy
vừa giúp con tự trả lời câu hỏi của con rồi đó: Tôn trọng sự
sống là không bức hại ai, không làm đau đớn ai và ngay cả chính
mình, một cách vô lý.”
Chú
tiểu vẫn còn thắc mắc:
“Thầy
ơi! Thầy chưa dạy cho con cách nào để cứu những con vật đang
giết nhau trong câu chuyện cá lớn nuốt cá bé mà con vừa kể cho
thầy nghe.”
Thầy
trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi trả lời:
“Ngày
xưa khi ra khỏi bốn cửa thành bên ngoài cung cấm, thái tử Tất
Đạt Đa đã thấy cảnh như thế.”
“Rồi
thái tử làm sao để cứu cảnh mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ vào lúc
đó, thưa thầy?” Chú tiểu bức rức hỏi.
Thầy
chậm rãi trả lời:
“Lòng
lành của thái tử chấn động sâu xa trước cảnh đời đau khổ chung
quanh. Sau đó về thành ngài lặng yên suy nghĩ trong bao nhiêu
ngày tháng…”
“Sao
ngài không nhảy vào cứu nguy như con muốn làm?”
“Con đã
muốn làm gì?”
“ Con
muốn giật con sâu ra khỏi miệng con chim sâu. Giật con chim sâu
ra khỏi miệng con quạ. Giật con quạ ra khỏi miệng con chồn…”
“Giỏi
lắm! Lòng thương loài vật của con thật là đáng khen, đáng quý.
Nhưng mỗi ngày, hàng triệu triệu cảnh muôn loài ăn nhau, nuốt
nhau như thế xảy ra, còn làm sao cứu hết nổi.”
“Như
vậy, người tài giỏi như thái tử Tất Đạt Đa hễ thấy việc ác nhỏ
thì không đáng cứu, phải không thầy?”
Thầy
nhìn chú tiểu gật gù và nói tiếp:
“Không
có việc ác nào là quá nhỏ mà cũng chẳng có việc thiện nào là quá
lớn hết con ạ. Một cục than con quên dập tắt sau khi thổi cơm
cũng có thể đốt cháy cả làng nầy. Một vạn hộc lúa vua ban chắc
gì đã quý hơn một bát cơm của người nghèo khổ. Xưa thái tử Tất
Đạt Đa cũng có lòng nhân như con, như mọi người. Ngài đã từng
bỏ nhiều thì giờ, công sức để cứu một con chim bị thương ra khỏi
tay người anh em họ độc ác của mình…”
Chú
tiểu cảm động, hỏi thêm:
“Tại
sao thái tử không lên làm vua, rồi đem quân lính dẹp hết người
ác, việc ác mà phải bỏ nhà đi tu thầy nhỉ?”
“Làm
vua tốt thì chỉ giúp được dân nước mình, trong thời mình còn
sống mà thôi. Đi tu thành Phật thì giúp được mọi loài, mọi
người trong nhiều đời nhiều kiếp.”
“Thầy,
như con đang tu học với thầy thì giúp được ai đây?”
Cầm tay
chú tiểu, thầy nói:
“Giúp
ai cũng được, miễn là con thương sự sống và không làm hại người
hay vật để kiếm lợi cho mình.”
Thầy
Tiều một đôi lần kể lại thời thơ ấu đi tu. Giọng thầy vẫn chùng
xuống khi nhắc lại lời thầy mình “giúp ai cũng được, miễn là
con thương sự sống và không làm hại người hay vật để kiếm lợi
cho mình”, rồi kết luận:
- Quý
hữu à. Lời dặn dò của thầy tôi mộc mạc và chân quê quá. Ai
cũng biết, phải không. Vậy mà đã gần hết cuộc đời tôi vẫn còn
nương theo để tu trì và hành thiện, nhưng mong gì đạt đến một lý
tưởng cao cả như thế.
***
Trí Hải cùng ngồi xuống định tâm bên cạnh thầy Tiều
không biết đã bao lâu, nhưng bỗng giật mình vì tiếng cười khanh
khách và giọng nói hồn nhiên của thầy Tiều:
- Cả
hai đều bị lạc trong rừng. Không biết ai đang tìm ai đây?
Trí Hải
cười theo và hỏi ngay vào đề:
- Thầy
đã tìm ra cách?
Thầy
Tiều hỏi lại nhanh:
- Cách
làm gì?
- Giết
chuột, bảo vệ sự sống cho mọi người.
Trầm
ngâm một lát, thầy Tiều nhắc lại:
- Cách
làm của người xứ Tây mà quý hữu đã thấy hồi trước ở Ba Lê là hợp
lý nhất. Phải ngăn cho được cái gốc rồi mới mong cứu được cái
ngọn.
- Theo
thầy thì chuột và bệnh, cái nào là gốc chính. Bệnh sinh ra
chuột hay chuột sinh ra bệnh?
- Đôi
bên tương tác, tương sinh. Chuột mang mầm bệnh truyền đi. Bệnh
làm ô nhiễm môi trường sống tạo hoàn cảnh cho chuột sinh sôi nẩy
nở; nhưng chuột là chính quý hữu ạ.
Trí Hải
có cái nhìn thẳng ngay vào vấn đề:
- Nếu
đúng như thế thì tại sao chúng ta không bứng cái gốc là sẽ yên
chuyện?
Thầy
Tiều nhìn Trí Hải cười chúm chím, rồi trả lời:
- Cái
gốc đâu phải nằm trong hang ổ của bầy chuột mà nó ở cao tột đâu
đâu tận trên trời, dưới biển.
- Ô!
Tôi nhớ ra rồi. Người dân sợ cái “oai” của các “ông chuột” nên
xưng là “ông thiên” đó mà!
- Còn
xa hơn thế nữa kia. Nó ở tận trong triều đình kia hoàng thân ạ.
Trí Hải
ngạc nhiên:
- Bệnh
dịch có gốc từ trong triều đình nghĩa là sao, thưa thầy?
- Sáu
bộ đương triều gồm bộ lại, bộ hộ, bộ lễ, bộ binh, bộ hình và bộ
công cai quản mọi việc trong cả nước và có quyền lực cao nhất
nước. Nhưng quý hữu thử nhìn kỹ lại thì chẳng có bộ nào đặt ra
để lo cuộc sống cho dân cả. Hoàng thượng và các quan chỉ lo trị
dân mà chẳng có bộ nào để giúp dân thuốc men và bệnh tật. Khi
cần đến thì lúng túng đóng cửa thành ngăn dịch bệnh khỏi vào.
Đó là gốc của dịch họa, bệnh tật đó quý hữu à.
Trí Hải
cúi đầu nhìn những thôn trang kéo dài dưới vùng đồng bằng xa
tắp, tưởng tượng đến hàng đống xác người vô danh chưa có người
chôn. Thầy Tiều giữ im lặng và đắm mình trong cơn suy tưởng.
Trí Hải
phá tan bầu không khí im lặng của rừng chiều, hỏi:
- Sự
sống của con người và sự sống của con chuột đang ở trong thế
tương quan nghịch chiều. Người chết càng nhiều chừng nào thì
chuột càng sinh ra nhiều gấp bội chừng ấy. Cần phải giết chuột
để cứu người. Thầy có cho rằng giết chuột để cứu người là phạm
vào giới sát sanh không?
Thầy
Tiều chưa trả lời vội mà nhìn rất xa về phía rừng sâu. Lát sau,
thầy trả lời:
- Quý
hữu! Tôn trọng sự sống, trước hết, là tôn trọng ý nghĩa của sự
sống. Sự sống của con bướm vàng trên đóa hoa cũng có một ý
nghĩa riêng như sự sống của người vũ nữ trên sân khấu. Ý nghĩa
của sự sống lúc nầy là cái Đẹp…
- Thế sự sống của con chuột trong hang ổ có giống
như sự sống của con người trong căn nhà của họ hay không?
- Giống, vì cả hai đều ham sống sợ chết. Con người
kinh hoảng đi trốn hùm beo thì có khác gì con chuột run rẩy chạy
trốn con mèo.
- Như thế là theo thầy, không được giết chuột để cứu
người sao?
- Khi hai sự sống là mối đe dọa tiêu diệt lẫn nhau
hay sự sống bên nầy sẽ hủy hoại sự sống bên kia thì sự sống
không còn là sự sống. Sự sống biến thành vũ khí, thành phương
tiện bức hại nhau mất rồi. Khi một con người cầm dao trên tay,
cố tình giết người khác để chiếm đoạt của cải, thì con người đó
đã biến thành kẻ sát nhân, là tên cướp. Bởi vậy, vua quan nhà
Trần thuở xưa, hầu hết đều tinh thông đạo lý. Họ đều hành thiện
và tôn trọng sự sống muôn loài, không nỡ ra tay giết một con voi
què, bỏ bê một bầy ngựa ốm. Nhưng họ đã đằng đằng ra trận đánh
tan tác quân Nguyên.
***
Một
thầy Tiều qua bao ngày lăn lộn giữa cơn dịch họa để cứu giúp
người bị nạn đã nhuốm vẻ phong trần trong chiếc áo tu vàng cũ
gần với màu đất. Nhiều đường may sứt chỉ và trên vai áo đã lốm
đốm những vết rách xác xơ. Thầy Tiều có vòng hào quang của một
viên thuyền trưởng can trường trên chiếc thuyền bị nạn mà không
ai nghi ngờ sẽ chết theo tàu để nhận lấy trách nhiệm hướng đạo
và lãnh đạo của mình.
Đôi
mắt trần gian thấy Thầy gần với cảnh đời hơn cảnh Phật. Nhưng
với đôi mắt đầy thương yêu nhìn chúng sanh thì lại thấy Thầy gần
với cảnh Phật hơn cảnh đời. Mạng sống của những con người giữa
dòng đời bên cạnh thầy cần phải được cứu. Thầy không có một
cảnh Niết Bàn hay Cực Lạc riêng cho mình. Cảnh trời vi diệu ấy
là lý tưởng cao cả cho một đời xuất gia tìm đạo của thầy, nhưng
thầy tìm thấy ngay giữa cuộc đời nầy. Không mong cầu, không hứa
hẹn, không cứu chuộc, không nằm tận đâu đâu trên chín tầng trời
cao viễn mà nó ở đây. Nó nở trên những nụ cười nhăn nheo của mẹ
già, giữa tiếng cười giòn ngây thơ của em bé. Nó ở trong xóm
vắng hoang sơ, ngoài chợ đời xao động. Nó ở ngay trong lòng
người.
Đoàn
người rãi lá trừ chuột hái từ vùng núi đốt than của thấy Tiều
tỏa ra khắp kinh thành, thôn xóm. Là ánh sáng xóa dần bóng tối,
chuột sinh theo đám nên chết theo bè. Chuột vắng đi, con người
trỗi dậy…
Cơn
bệnh giảm dần; cơn đói lại tăng theo…
Giữa
cơn đại nạn chao đảo và nghiêng ngữa đang hoành hành toàn xã
hội, chỉ những người quên mình mới dám xông pha để sống cho
người khác. Có hai sự quên mình lớn nhất: Quên mình hiện tại để
sống cho mình mai sau mà người đời thường gọi là “lý tưởng” hay
là quên mình cho một Tình Yêu. Yêu mình, yêu một người, yêu
cuộc đời hay yêu cả nhân thế đều nằm trong một chuổi nhân duyên
của tình yêu. Người không yêu mình trước, tự tìm cách hủy hoại
chính mình thì sẽ chẳng yêu ai được cả. Ba Gấm trở thành một
biểu tượng tình yêu cho toàn nhóm Vườn Thuốc Thái Ấp. Trong cơn
hoạn nạn, Ba Gấm đến với mình và với người bằng nụ cười an lạc.
Người đàn bà xinh đẹp bình dân mà quý tộc ấy yêu được hết thảy
cả bệnh nhân hôi hám nhất; cười được nụ cười an ủi, thoa dịu khổ
đau trong tiếng khóc; mở rộng hết cửa gia tài đồ sộ của riêng
mình để cứu giúp mọi người mà không có một người nào riêng biệt
để nhớ hay cần phải trả nghĩa, mang ơn.
Chuột
đã ăn hết mùa màng lương thực. Chết bệnh không quằn quại bằng
chết đói. Ba Gấm như một chiến tướng xông pha tìm mua và huy
động những đoàn ghe thuyền chở lương thực từ Nhật, từ Trung Hoa,
Tân Gia Ba, Thái Lan về cứu đói. Trong thinh lặng, không có
tiếng tung hô, ca ngợi vang rền, nhưng có hết cả những hạt bụi
trần gian dừng lại ở mỗi chớp mắt, có nét cười nhân ái của Ba
Gấm trên những người đau khổ.
Khi trận chiến cứu khổ vẫn còn tiếp diễn vào hồi gay
cấn nhất, Ba Gấm đã gục xuống. Một sinh vật thánh thiện hay sự
thánh thiện trong mỗi sinh vật là chất lượng, là nghĩa sống tiềm
tàng, tích tụ tập hợp trong chính nó. Mọi sinh vật đều phải
chết. Nhưng Dòng Sống cuối cùng của một cá thể nhỏ bé sẽ tách
rời thân xác tạm bợ để về nơi đâu trong Suối Nguồn Vũ Trụ đang
luân chuyển triền miên mới là ý nghĩa đích thực sau cùng. Không
một sức mạnh nào có đủ quyền lực mang đi hay đặt để Dòng Sống
nhỏ bé của một người, một sinh thể đang trút bỏ xác thân về với
Dòng Đại Nguồn hay Suối Nguồn Vũ Trụ, ngoài chính nó. Ba Gấm
đang mang ý nghĩa đời mình ra đi.
Sau cơn sốt kéo dài trong mê man, Ba Gấm tỉnh lại.
Trí Hải, thầy Tiều, Tâm An và Thiện Giả đều có mặt. Một nụ cười
tươi tắn xuất hiện bất ngờ trên khuôn mặt bỗng sáng rỡ ràng như
tỏa hào quang của Ba Gấm. Chìa tay ra tìm nắm bàn tay Trí Hải,
Ba Gấm nói thật dịu dàng:
- Cám ơn Hoàng thân đại nhân… Anh… cám ơn anh đã cho
em được làm người. Cám ơn anh đã cho em nụ cười, cho em tiếng
khóc, cho em niềm vui, cho em nỗi buồn, cho em những tuyệt vọng,
cho em những ước mơ… Nhưng trên tất cả là anh đã cho em tình
yêu. Em đã nhiều lần ngã xuống và vịn tình yêu anh mà đứng
dậy. Anh đã cho em đam mê và cũng giúp em thức tỉnh từ đam mê.
Anh đã giúp em biến một nỗi lòng thành một cõi lòng và một cõi
lòng thành vạn tấm lòng… để thương và để sống. Cám ơn anh. Em
đi…
Ba Gấm quay mặt nhìn về phía mọi người, môi mấp máy
không thành tiếng trong ánh mắt thành khẩn đầy tri ân, đa tạ.
Đôi mắt ấy bỗng đậu trên khuôn mặt thầy Tiều. Lời thì thào
thành tiếng:
- Huynh đệ, xin tạ ân. Thầy! Con chưa quy y…
Thầy Tiều hiểu ý tiến lại gần nắm chặt cả hai tay Ba
Gấm:
- Được… được rồi! Tín nữ Ba Gấm đã hóa thân sống
hạnh Bồ Tát giữa cuộc đời nầy… đâu cần quy y.
Nghe tiếng thầy Tiều, nét cười lại hiện lên khuôn
mặt như đang hướng về cõi trời xa của Ba Gấm. Tiếng thì thào
đứt quãng:
- Thầy cho con… một… pháp danh.
- Pháp danh con là… Ba Gấm.
- Dạ! Ba… Gấm…
Có một giọt nước mắt lặng lẽ làm ấm nụ cười an lạc
về với hư không.
Ba Gấm
ra đi như một cánh chim mỏng bay vút lên mây. Xuân, hạ, thu,
đông… rồi đến xuân. Nhưng xuân trước và xuân nầy không cùng mầu
hoa và mầu tóc.
Vào một
sớm mai ửng hồng từng giọt sương trên cây cỏ, những người chết
cuối cùng vì nạn dịch ở cuối phố, làng trên chỉ còn là hiện
tượng lẻ tẻ hay bị nhiễm bệnh dịch lâu ngày, giờ đuối sức bệnh
mới phát ra. Trong ngôi nhà cũ dùng tạm làm chùa vắng vẻ hơn
sau cơn dịch họa, chỉ còn lại mình thầy Tiều trong cái vắng lặng
mênh mông của đêm tối. Cơn sốt se se đầu hôm thình lình ập đến
lúc nửa đêm. Cả thân mình thầy Tiều như muốn bốc lửa vì nóng.
Thanh lặng một mình trong đêm, đã từng định tâm nội soi trong
bao nhiêu năm thiền định, thầy Tiều nhắm mắt lại và biết rõ cái
đuôi dịch chuột còn sót lại đã tìm đến thân xác của thầy làm nơi
trú ẩn. Thầy Tiều không một mảy may ân hận vì đã để hết tâm lực
lo chạy chữa cho người khác mà hằng đêm quên bế mạch để ngăn
chận bệnh dịch cho mình…
Gần
sáng, Trí Hải, Tâm An, Thiện Giả và những người thường lui tới
ngôi nhà cũ được dùng làm tịnh xá đều có mặt bên cạnh thầy
Tiều. Trên tấm phản gỗ lâu đời, mòn nhẵn, thầy Tiều chỉ còn mặc
bộ áo quần cụt màu nâu vá trước, vá sau nhiều đoạn. Chiếc áo
vàng được xếp gọn gàng đặt kê lên đầu như để làm gối. Đó là
chiếc áo cà sa duy nhất còn lại của thầy Tiều sau những ngày vật
lộn với nắng gió, đất bụi, bệnh tật cấp cứu giúp đám quần chúng
vô danh từ khắp nơi tản cư, tỵ nạn dịch chuột, ùn ùn kéo về Thái
Ấp. Gia tài vật chất trần gian duy nhất còn lại bên cạnh Thầy
là chiếc bình bát bằng gỗ trống không và xâu chuỗi còn nguyên
vẹn 108 hột bồ đề.
Thầy
Tiều nằm ngay ngắn, hơi thở nhẹ nhàng nhưng đứt quãng. Mắt Thầy
lim dim, bình thản như đang ở trạng thái tham thiền. Giữa sự im
ắng với nắng vàng và lá xanh xào xạc ngoài kia, có tiếng gõ cửa
nhè nhẹ. Rồi cánh cửa gỗ xưa cũ, nặng nề của căn nhà xịch mở.
Nắng phản chiếu hắt vào nhà rực lên nguồn sáng vàng tươi mới.
Một nhà sư áo vàng nhẹ nhàng bước vào nhà làm mọi người quay lại
nhìn:
- Sư
Trúc Lâm!
Có
tiếng ai kêu lên như vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ.
Nhà sư
chấp tay vái chào mọi người và bước đến bên cạnh thầy Tiều. Mắt
thầy Tiều mở lớn. Qua một thoáng bất ngờ nhất, thầy Tiều từ từ
ngồi dậy. Thầy ôm chiếc áo cà sa trước ngực và cố đứng dậy.
Hai nhà sư cùng đảnh lễ cung kính chào nhau. Mọi người cùng
chấp tay đứng dậy vây quanh. Đôi mắt quầng thâm vì phải chiến
đấu với cơn bệng đang hoành hành của thầy Tiều đảo quanh như
đang cố gắng tìm ai. Đôi mắt ấy sáng lên và đậu lại trên khuôn
mặt Trí Hải. Níu tay áo sư Trúc Lâm làm điểm tựa, thầy Tiều
bước lại gần Trí Hải. Có vẻ như Thầy cố vận dụng hết sức lực
còn lại của mình để làm một điều gì trọng đại cuối cùng. Thầy
run run lần tay lên chiếc áo xếp duy nhất mà Thầy đã kê đầu lên
trong mấy ngày qua. Thầy mở rộng chiếc áo cà sa, khuôn mặt hốc
hác vì cơn đau nhưng đượm vẻ thành kính, lâm râm nói gì không ai
hiểu. Thầy cung kính hai tay cầm chiếc áo lướt qua đầu, vắt lên
vai, khoác lên mình Trí Hải. Có tiếng ai vang vang:
- Chiếc
áo rách hết rồi!
Im
lặng…
Không
biết mùi bùn đất quê hương, mùi hoa đồng cỏ dại hay mùi trầm
hương lan tỏa thơm lừng mùi thơm chơn chất, từ bi.
Tiếng
sư Trúc Lâm trầm, nhẹ như vọng lên từ đầu non:
-
Không. Chiếc áo tu hành không bao giờ rách. Đức Thế Tôn đã
khoác chiếc áo đó lên mình trong suốt 49 năm hành đạo. Chư Tổ
và chư Tôn Đức cũng đã khoác chiếc áo đó qua hơn hai nghìn năm
vân du hóa độ. Chiếc áo nhà tu chỉ bị bị xé rách khi những vết
cắt phát khởi tự bóng tối của vô minh.
Trí Hải
vẫn chưa dám đụng tay vào chiếc áo còn nằm nguyên trên mình do
thầy Tiều vừa khoác lên và tìm cách dìu thầy Tiều về chỗ nằm.
Mắt thương nhìn thế sự của Thầy Tiều vẫn phóng hết sức sống vào
đời. Đôi mắt Thầy chợt mở to hơn. Thầy nhìn lên chiếc áo cà sa
trên mình Trí Hải. Mắt Thầy ánh lên nỗi mừng vui rạng rỡ. Nét
nhìn tỏa sáng đó chiếu lên khuôn mặt cả Tâm An và Thiện Giả;
lướt đến với mọi người và từ từ khép lại. Miệng thầy Tiều mấp
máy điều gì không rõ, sư Trúc Lâm phải ghé sát tai vào nghe.
Đôi môi thầy Tiều hé ra, rồi đóng chặt. Mãi mãi. Lời sư Trúc
Lâm lập lại sau cùng:
- Thích
Trí Hải. Tu giữa bụi trần.
* * *
Giàn
hỏa thiêu bùng lên ngọn lửa.
Những
người dân còn sống sót sau cơn dịch họa thấy đó là Lửa Từ Bi.
Thân
xác thầy Tiều khuất dần sau màn khói, rỗng lặng với duyên tan.
Chắp
tay vái nhẹ lần cuối, sư Trúc Lâm lần đầu và cũng là lần cuối
xuống núi, hướng về giàn hỏa lâm râm bái biệt thầy Tiều: “Tôi
chỉ là người khéo tu, nhưng thầy mới chính là bậc chân tu. Thầy
tu giữa cuộc đời gió bụi. Tu giữa bụi trần. Thầy cùng với sinh
linh hít thở bụi trần, thấy được bụi trần và quét bớt những lớp
bụi trần gian bám trên thân, đọng trong tâm để tìm an lạc và tìm
cứu độ ngay giữa cuộc đời nầy”.
Có
tiếng ngựa xe rộn rã. Có tiếng loa truyền của ngự lâm quân báo
tin triều đình mang lệnh sắc phong đến cho “đại sư tân viên
tịch”. Nhưng giàn lửa đã tắt.
Quan
thượng thư Lê Trung Ẩn, quan tổng đốc Trần Minh dõi mắt tìm
kiếm. Nhưng sư Trúc Lâm và Trí Hải không còn bóng dáng. Cả hai
người là một rặng núi xa xăm.
Trần
Kiêm Đoàn
(Trích chương 28,
chương cuối, của truyện dài Tu Bụi)
Email:
Doantran@sbcglobal.net
Web:
Trankiemdoan.net
Trở về Trang Chính |