|

Huế một thời… mỗi lần cúng
đất, ngoài những thức ăn xào nấu thịt thà gà vịt, mẹ tôi bao giờ
cũng chuẩn bị chu đáo một dĩa rau khoai luộc và một chén mắm
nêm. Loại “mắm nêm nước cốt” mà người chưa từng trải giang hồ
với trường mắm ruốc, nếm vào một chút là đã thấy đầu lưỡi tê tê
như miếng cắn vụng dại…! Tôi thường tẩn mẩn hỏi mẹ, rằng: “mắm
nêm hôi rứa mà mạ cúng ai ăn?” Mẹ tôi giải thích là nơi làng tôi
đang ở “lúc tê (ngày xưa) là quê hương của giống Ma Hời”. Tôi
chưa hề biết Ma Hời đẹp giống Tây Thi hay xấu như Thị Nở, nhưng
chỉ một tiếng “Hời” không thôi cũng đủ làm tôi cảm thấy những
mảnh linh hồn lang thang, phiêu bạt tới tận đâu đâu của giống
Hời, Chiêm quốc.
Bởi vậy, Huế là vùng đất
của thực và mộng. Thực, không hẳn luôn luôn là nỗi xót xa và
mộng, không phải luôn luôn là thế giới tuyệt đẹp như trong khái
niệm đời thường. Thực và mộng ở đây là vừa có nhau vừa mất
nhau. Đi giữa Huế mà không biết Huế nơi mô; xa Huế mà cứ thấy
Huế mồn một trong lòng mình.
Quê tôi, một vùng quê ven
Huế, là đất xưa của Chiêm Thành. Khi lớn lên qua thành phố Huế
học, tôi lại được học trường Hàm Nghi, tức là trường Quốc Tử
Giám cũ. Tôi chỉ biết mơ hồ trường Quốc Tử Giám là nơi ngày xưa
chỉ dành riêng cho con vua cháu chúa học. Ngày tôi vào trường
năm 1957, chỉ còn thấy nét phôi pha của những bức hoành phi,
những câu đối bằng chữ Hán, những hình hoa văn còn in dấu trên
tường bên ngoài lớp học. Học trò nơi đây không còn là cô chiêu
cậu ấm con nhà quan mà con nhà dân tứ xứ. Lúc chưa vào trường,
tôi cứ tưởng tượng các thầy cô giáo “Quốc Tử Giám Hàm Nghi” đều
mặc áo dài đen đội khăn đóng đi dạy. Không ngờ, các thầy cô Hàm
Nghi thuở ấy đều trẻ trung, xông xáo và sôi động không ngờ:
“Cô Túy Hồng vừa đi, vừa chạy. Thầy Lê Khuê vừa dạy vừa đờn…!”
Tôi từ Hàm Nghi lên Quốc
Học, văn khoa, sư phạm và “học dài” qua tới Mỹ. Nhưng những
thầy cô để dấu ấn đầu đời sâu đậm nhất, không chỉ cho riêng tôi
mà cho cả một thế hệ học trò thời đó, vẫn là các thầy cô Hàm
Nghi. Tâm lý học phương Tây cho rằng đó là giai đoạn “định hình
bản sắc xã hội” (social identity establishment) của tuổi tiền
dậy thì (pre-teen). Tôi thì khỏi mất công đi xa như vậy mà chỉ
nghĩ đơn giản rằng, dấu ấn mà thầy cô Hàm Nghi để lại trong
chúng tôi là do thầy cô tận tâm dạy dỗ nên học trò thương kính
thầy cô. Đơn giản rứa thôi. Giới thầy cô Huế qua Mỹ cũng nhiều,
nhưng một vị thầy Hàm Nghi chiếm nhiều cảm tình nhất của học trò
thời đó mà tôi và các bạn đồng môn được gặp lại trên đất Mỹ là
thầy Võ Văn Dật. Dù sau đó thầy chuyển qua làm thẩm phán tòa
án, nhưng bản thân tôi và bạn bè đứa nào cũng thương quý thầy.
Trong văn chương, thầy Võ Văn Dật là nhà văn Võ Hương An, tác
giả của những bài ký sự, hồi ức, khảo luận rất sinh động và công
phu về Huế, cung đình Huế và văn hóa Huế.
Thời xa Huế, tôi lại nghe
không biết bao nhiêu là tiếng gọi da diết về những tâm tình
thương Huế, nhớ Huế.
Hình như là với một người
Huế khi xa quê, sẽ không biết mình nhớ gì ở Huế; và khi mường
tượng một chân dung của Huế, sẽ không biết Huế “ra răng”. Phải
chăng Huế là những cơn mưa dầm héo úa, là những trận nắng cháy
da, là dòng sông Hương hiền như Mẹ, là núi Ngự cùng dãy Trường
Sơn vững chải như Ba, là hoàng thành lăng miếu triều Nguyễn, là
tóc thề, nón bài thơ và những mối tình đầu “chỉ có hôn nơi má” –
một lần – mà muôn trùng dâu bể vẫn không quên?! Huế là từng
mảnh đời vụn rời như thế hay tất cả hòa quyện nhau “muôn muôn mà
một” giữa đời này?
Nền văn hoá Huế định hình
từ 700 năm trước, nhưng sự nhất quán về một “tính Huế” tiêu biểu
thì vẫn còn nhuốm mầu tưởng tượng và suy diễn không giống như
một nền văn minh “Miệt Vườn” với hơi thở của rừng U Minh, mùi
phù sa của Rừng Mắm trong các tác phẩm điển hình của Bình Nguyên
Lộc, Sơn Nam.
Gặp nhà văn Sơn Nam trong
một quán cà phê cóc trên đường Lý Chính Thắng đâu khoảng mười
năm trước, tôi ngõ ý ngưỡng mộ tác phẩm Hương Rừng Cà Mau
của anh với hình ảnh “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh
canh”. Sơn Nam vén hai ống quyển chân gầy gò của một thân xác
chưa đầy bốn chục ký xương da của anh và nói cứng: “Nhị túc
cương như thiếc – Hai chân cứng như sắt - nầy đã đi khắp mọi
miền lục tỉnh mới hửi được hơi hướm rừng U Minh…” Huế có rất
nhiều người viết văn, làm thơ, làm nhạc, làm họa, nhưng vẫn chưa
có một nhà văn hay môt nghệ sĩ tiêu biểu điển hình của Huế.
Phải chăng vì tất cả chỉ khảo luận, suy nghĩ, ngắm nhìn để mô
tả và suy diễn về Huế mà chưa từng “lặn lội” đi trong Huế như
Sơn Nam đã từng dép vệt gót, áo sờn vai giữa Cà Mâu, Đồng Tháp?
Trong nhiều tác phẩm văn
chương viết về Huế, một tác phẩm mới nhất vừa mới ra đời mà khi
đọc, tôi bỗng có cảm tưởng tác giả có được dáng vẻ “giày vệt
gót, áo sờn vai” với Huế. Đó là tập Huế Của Một Thời của
Võ Hương An
Tác giả Võ Hương An giới
thiệu: “Huế Của Một Thời là tập hợp những bài viết về Huế của
một thời đã qua, thấp thoáng bóng cung đình, trong hoài niệm của
một người xa xứ ở vào tuổi xế chiều, nhớ nhớ, quên quên…”
Với 18 bài viết, khởi từ
Đường Xưa Thành Nội đến Mấy Lần Thất Thủ Kinh Đô, Võ Hương An đã
kết hợp các thể loại văn xuôi phổ biến như truyện, ký, tiểu
luận… lại với nhau thành một hợp thể “thật thật, hư hư, quên
quên, nhớ nhớ” như thể loại “creative non-fiction” trong văn
chương Anh Mỹ. Có những đối tượng rất thật như những con đường
Thành Nội cũ. Nhưng khi những con đường đó đã lùi lại sau những
đôi giày vệt gót, đã nóng lạnh xa gần qua nhiều lăng kính kỷ
niệm, đã chỉ còn dư bóng nhớ nhớ, quên quên trong tâm tư và ký
ức của tác giả thì những đường con xưa Thành Nội biết bao lần
thay chủ đổi tên trở thành một mạng lưới ân tình, một bức tranh
tâm ảnh qua bút ký của Võ Hương An. Nhiều chuyện ngỡ như một
viễn cảnh sau lớp sương mù mường tượng, đó là những chuyện về
hình ảnh và nếp sinh hoạt cung đình triều Nguyễn, khi hiện lên
qua ngòi bút của Võ Hương An lại trở thành rất thật và rất gần
gũi nhờ sự hiểu biết tường tận qua nội kiến (insight) của chính
tác giả.
Từ giã khung cảnh cao
sang, quý tộc của cung đình, tác giả lại nhẩn nha rong chơi giữa
đời Huế rặt. Một Huế “ngẳng đời” – nhìn thấy vẻ “trong như nước
đái bà chúa” ngay trong ly nước của mình hay ví von “chạy rong
như ngựa Thượng Tứ” cho một người đẹp năng nỗ đi đó đi đây –
cũng xuất hiện làm cho câu chuyện thêm giòn, hình ảnh thêm vui
tươi.
Tôi cũng có viết lách lai
rai về Huế nhưng lại “ham chơi” hơn thầy Võ Hương An của tôi.
Khi chợt “dừng bước giang hồ” đọc lại sách viết về Huế của Thầy
mình, tôi lại càng thương kính thầy và thích Huế mình hơn. Huế
thì bao năm vẫn trầm lặng và dịu dàng như thế. Thầy Võ Hương An,
đã gần 50 năm từ ngày tôi được học với thầy ở trường Hàm Nghi,
dù qua bao thăng trầm giữa dòng đời và biến động trong lòng
người, nhưng phong thái thầy vẫn không có gì thay đổi. Điều nầy
đã thể hiện một cách đậm nét qua văn phong của thầy trong Huế
Của Một Thời: Nhẹ nhàng và nhân ái. Nhẹ nhàng qua phong vị
khiêm khung, đơn sơ mà trang trọng. Nhân ái vì lấy nhãn quan
trung đạo nhìn thế sự thăng trầm pha một chút “mắm muối” cười
cợt, tươi vui.
Đọc sách là chơi canh bạc
nhỏ với thời gian. Đọc để mua vui là lợi nhỏ; đọc để giúp suy
gẫm chuyện đời là lợi vừa, đọc để biết những điều mình chưa biết
là lợi lớn. Với người khác thế nào tôi chẳng rõ. Riêng tôi,
đọc sách Huế Của Một Thời của Võ Hương An tôi bỗng được một lúc
cả ba điều đại lợi.
Trần
Kiêm Đoàn
Sacramento, tháng 3 năm 2006
Ý Kiến xin gửi về:
trankiemdoan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |