|
Càng
lớn tuổi, càng được nhiều tiếng tăm và danh vọng, con người càng
dễ làm quen nhưng khó làm bạn. Thời son trẻ, khi hai người làm
bạn, cả hai đều mở rộng hai tay, hai mắt và tấm lòng của mình để
đến với bên kia dễ dãi, vô tư, không tính toán. Nhưng càng về
già, trong mỗi nụ cười và trong từng cái bắt tay hình như có ẩn
chứa vài mảnh hoài nghi và dăm ba câu hỏi. Hoài nghi và câu hỏi
làm cho tình người và tình thân đeo nhiều lăng kính. Rồi từ đó,
nhìn nhau qua những cặp kính màu nên càng khó trãi rộng giao
tình thân thương và chân thật để đón lấy nhau. Người ta tự quấn
mình trong nhiều lớp vỏ lẩn quẩn từ ta đến tôi, tới mình, sang
tớ… rồi cảm thấy cô đơn. Trí Hải nhận ra sự trống vắng khi Phạm
Xảo không còn nữa. Phạm Xảo là chiếc bóng của Trí Hải. Chiếc
bóng là người bạn không nói nhưng luôn luôn có mặt bên mình.
Khi sống một mình không có chiếc bóng Phạm Xảo, Trí Hải cảm thấy
như nguồn sáng lơ lửng vẫn treo đâu đó nhưng không chiếu xuống
đời mình, nên bóng mình bỗng khuất.
Tình cảm nhớ thương là ý hướng đi
tìm một sự thiết thân bị mất. Trí Hải nhớ Phạm Xảo trong nỗi
thèm muốn đi tìm một dáng xưa, một nguồn tình cảm quen thuộc.
Khi nhớ một người đã mất thường gặp nỗi hụt hẫng của kẻ đi tìm
mà chẳng biết tìm ai. Nỗi nhớ mịt mù, rồi bỏ cuộc, chẳng còn
tha thiết đi tìm để chỉ còn đối diện với trống vắng, hư không.
Tuổi trẻ lấy thương làm nhớ.
Tuổi già lấy nhớ làm thương. Từ ngày Phạm Xảo mất, đêm đêm, sau
khi mọi người đi ngủ, Trí Hải vẫn còn thức một mình. Giữa đêm
khuya thanh vắng, mang chén cơm để dành trong bữa ăn chiều, đặt
trên bệ đá dựng ở bồn hoa trước sân, Trí Hải thắp một cây nhang
và ngồi tưởng nhớ Phạm Xảo. Ông ngồi nhìn đốm sáng cháy đỏ theo
gió trên đầu cây nhang cho đến khi nhang cháy hết.
Đêm rằm
tháng Bảy, trăng sáng mênh mông. Trí Hải định quay bước trở vào
thì bỗng nghe tiếng chân rón rén của ai bước lào xào trên lá.
Ba Gấm. Tiếng nói rất nhẹ mà cũng làm chao đọng ánh trăng:
- Mới
đó mà Phạm huynh đã ra đi vừa đúng 49 ngày.
Không
quay lui, Trí Hải nhắc thêm:
- Và
cũng vừa hết thân trung ấm.
Tiếng
Ba Gấm ngập ngừng:
- Làm
sao mà biết được hết hay còn, hở huynh?
Trí Hải
hỏi Ba Gấm:
- Thế
Ba Muội có bao giờ nghe ai nói về thân trung ấm là gì không?
- Dạ
có, huynh ạ. Hồi còn ở trong cung, muội có đọc một số sách vở
nhà Phật bàn về sự sống chết. Muội chỉ nhớ mang máng rằng,
người ta gọi “Thân trung ấm” là sự sống còn tồn tại và chuyển
tiếp sau khi chết. Nhưng muội không ngờ mà cũng chẳng tin.
- Tin
thì có mà không tin thì không có thôi.
- Muội
nửa tin nửa ngờ là không biết có còn hay không một trạng thái
sống sau khi chết. Trong khi sách vở nói rằng, linh thức (linh
hồn và tâm thức) của con người còn kéo dài đời sống đến 49 ngày,
rồi tùy theo nghiệp lực mà đầu thai. Thời đó, mỗi khi bị sai
vào dọn dẹp phòng trống của một cung nữ già vừa mới chết, muội
cứ mường tượng cái “thân trung ấm” là con ma mới còn lẩn quẩn
đâu đó chờ tái sinh mà sợ hết hồn. Ơ, mà tại sao lại 49 ngày hở
huynh?
Trí Hải
giải thích một cách ngập ngừng:
- Vì
chẳng phải là hành giả phát nguyện tu theo đạo Phật, nên tôi chỉ
có chút hiểu biết giới hạn qua sách vở về ý nghĩa của con số
“linh tính”. Số lớn nhất của dân Trung Hoa là số 9, trong khi
đó số lớn nhất của dân Ấn Độ là số 7. Theo quan niệm triết học
Ấn Độ, số 7 là con số biểu trưng cho sự hoàn hảo của vũ trụ. Nó
được xác lập trên 7 nguyên lý tổng hợp của thời gian 3 thời (quá
khứ, hiện tại, vị lai) và không gian 4 hướng (Đông, Tây, Nam,
Bắc). Theo tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ nhân sinh
từ vật nhỏ như vi trần đến vật to lớn như núi Tu Di, tất cả
không ngoài con số 7. Phật cũng có 7 ngôi vị (thất Phật).
Người tu theo Phật cũng có 7 hạng (thất chúng). Bởi vậy con số
lớn nhất, tròn trịa nhất và gần gũi nhất của truyền thống Ấn Độ
là 7 lần của 7 tức là 49. Muội đọc sách Phật mà có nhớ hình ảnh
thái tử Tất Đạt Đa sinh ra bước 7 bước, mỗi bước nở một hoa
sen. Hoàng hậu Ma Gia sinh thái tử Tất Đạt Đa được 7 ngày thì
mất. Hành giả Tất Đạt Đa nhập định 49 ngày dưới cội Bồ Đề hốt
nhiên đại ngộ thành Phật và thuyết pháp trong 49 năm không? Có
chăng con số 49 này cũng có gốc rễ từ số 7?
- Ô,
phải rồi đó huynh ạ. Muội được đọc một ít sách cổ của Phật giáo
Ấn Độ và cứ bị con số 7 ám ảnh hoài trong trí. Tại sao lại là 7
mà không 6 hay 8? Rồi phải chăng 12 nhân duyên khi sinh sôi nẩy
nở tối đa đến 7 lần, nhân lên 7 lần 12 sẽ đạt tới mức 84 là cao
nhất. Và 84 thiên biến vạn hóa thành ra 84 nghìn hoàn cảnh và
mỗi cảnh đều có một cách riêng, nên có đến 8 vạn 4 nghìn pháp
môn để tùy cảnh và tùy duyên mà đối trị.
Trăng
khuya càng sáng vằng vặc. Lại có tiếng chân ai bước tới. Một
người vừa đến, nổi lên tràng cười thoải mái. Thì ra, tiếng thầy
Tiều:
- Đúng
hôm nay là thất tuần của tướng quân Phạm Xảo.
Vớ được
thầy Tiều, Ba Gấm reo lên:
- Thật
là buồn ngủ mà gặp chiếu manh! Thầy ơi, xin Thầy giải thích cho
ra con số 49 đầy ám ảnh nầy.
Thầy
Tiều đằng hắng giọng như để cân nhắc về một con số chính xác nào
đó rồi lên tiếng:
- Với
nhà Phật, tất cả những con số chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Vì
con số tròn đầy nhất của đạo Phật mà quý hữu thường nghe là “vô
lượng vô biên”, “hằng hà sa số” không có giới hạn. Rồi những
dòng số vô tận đó cũng chỉ là không.
Ba Gấm
lại thắc mắc:
- Không
có số đếm thì làm sao để tính toán, thưa thầy? Vẫn còn số đếm
tam quy, ngũ giới, tứ diệu đế, bát chánh đạo, mười hai nhân
duyên kia mà.
- Tất
cả chỉ là phương tiện tạm thời. Con thuyền cũng phải có ván đóng
kín ba mặt trong một giới hạn nào đó mới nổi được trên mặt nước
để chèo qua sông chứ.
- Vậy
thì thưa thầy, thời gian 49 ngày có phải là phương tiện cần
thiết để cho một linh hồn mới lìa khỏi xác chuẩn bị đầu thai
không?
- Quý
hữu đã biết là thân trung ấm hay còn gọi là thân trung hữu.
Trong tín lý nhà Phật, thời gian tồn tại của thân trung ấm cũng
có nhiều lý thuyết khác nhau. Có bốn nhà luận sư được nhắc đến
nhiều nhất là: Luận sư Tỳ Bà Sư cho rằng nó chỉ có trong khoảnh
khắc sau khi chết, liền sau đó đầu thai. Luận sư Thế Hữu cho
rằng nó tồn tại lâu nhất được bảy ngày. Luận sư Thiết Mặc Đạt Đa
cho rằng nó có thể tồn tại trong bảy lần bảy là bốn mươi chín
ngày. Riêng luận sư Pháp Cứu thì cho rằng thời gian tồn tại của
thân trung ấm sau khi chết không nhất định. Tùy theo nhân duyên
mà thọ sanh. Do nghiệp lực rất mạnh thúc đẩy, nếu trung ấm đáng
thọ sanh vào loài người thì khi hội đủ duyên liền sanh vào loài
người; trung ấm đáng thọ sanh vào loài súc vật thì khi hội đủ
duyên, liền sanh vào loài súc vật. Như Hoàng thân quý hữu vừa
nhắc lại đó, “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, có hay không là
do mình tin hay không mà thôi.
Ba Gấm
hỏi một cách hồn nhiên:
- Thế
Phạm huynh bây giờ ở đâu? Chết là hết hay
còn?
Thầy Tiều
với giọng bông đùa:
- Biết làm
gì cho vội. Cứ chờ cho đến khi chết hẵng hay tín hữu à.
Nương
theo lối nói đầy hài tính của thầy Tiều, Ba Gấm hỏi tiếp:
- Đúng
quá! Nếu thế thì thầy cũng phải chờ cho đến khi biết đích xác
“hương linh” có hay không mới đọc kinh cầu nguyện vãng sanh nước
Cực lạc chứ.
Thầy
Tiều hỏi lại Ba Gấm:
- Thí
chủ Ba Gấm khuyên thật chí lý về cái còn và hết. Thí chủ nổi
tiếng là người giàu có trong thiên hạ. Vậy gia sản của thí chủ
bây giờ ở đâu hết?
Bị hỏi
một cách đột ngột Ba Gấm lúng túng:
- À,
dạ. Ở khắp nơi thầy ạ.
- Nếu
ngay bây giờ không may Ba Gấm lăn đùng ra chết thì tiền của đó
có còn không?
- Dạ
vẫn còn chứ.
- Còn ở
đâu?
- Đâu
đó giữa cuộc đời nầy.
-
Không, tôi muốn nói tiền của mà Ba Gấm mang theo kìa.
- Chẳng
còn gì cả ngoài hai bàn tay trắng thầy ơi.
- Không
đúng, còn! Xưa nay sách vở đời thường dạy sai cả khi cứ đua
nhau “dọa” rằng, chết là hết, là chỉ còn hai bàn tay trắng,
chẳng mang theo được gì. Cái gì của riêng mình đều được mang
theo hay phải mang theo.
Ba Gấm
reo lên thú vị:
- Thiện
tai! Thiện tai! Chết rồi mà vẫn còn mang sự giàu sang theo
được. Nào, thầy phát tâm từ bi dạy cho con cách mang tiền của
theo khi đã hết thở rồi đi. Thích quá thầy hỉ.
Thầy
Tiều cười hỉ hả theo sự kích động trẻ thơ của Ba Gấm. Thầy nói:
- Người
ta có thể giúp đỡ hay chỉ dạy cách làm ăn cho kẻ có chí, có tài
trở nên giàu có khi còn sống. Nhưng không ai dạy được cách mang
theo tài sản sau khi chết được cả.
- Coi
kìa! Thầy vừa nói “còn” tài sản mang theo được sau khi chết mà.
- Phải,
phải. Cái nghiệp trong tâm, trong trí, trong đời đã tạo ra khi
còn sống đều phải mang theo sau khi chết. Nghiệp lành như trí
tuệ, tình thương được bồi dưỡng hay nghiệp dữ như hận thù, ngu
dốt của mình trong lúc còn sống, khi chết phải mang theo. Không
ai có quyền hưởng phước lành hay chia nghiệp dữ của người khác
sau khi người đó qua đời. Như tướng quân Phạm Xảo không còn nữa,
nhưng những tài sản mà Phạm hữu giúp nuôi Trần Minh nên người
vẫn còn mãi mãi trong dòng sống của Trần Minh hiện tại hay những
Trần Minh nầy, Trần Minh nọ, Trần Minh kia… trong dòng sinh diệt
và biến tướng không ngưng nghỉ về sau nầy. Cũng vậy, tài sản mà
thí chủ Ba Gấm tiêu dùng vào việc đúng hay việc sai vẫn còn mãi
trong dòng sống của những người tiếp nhận nó bằng lúc nầy hay
lúc khác; cách nầy hay cách nọ. Tất cả sự sống quá khứ, hiện
tại, vị lai là một vũ trụ nhỏ, tạm tách ra, rồi lại trở về vũ
trụ Đại Nguồn nên gia tài của mỗi chúng ta chẳng bao giờ mất đi
một mảy.
- Thầy
ơi! Thầy nói nghe thì hay nhưng mơ hồ quá. Làm sao ta biết được
mình đã tạo phước; mình mắc nợ hay ban ơn cho ai đó trong chuỗi
dài sinh diệt hở Thầy?
Vẫn với
dáng điệu vui vui mà đầy suy tưởng, thầy Tiều cười cười giải
thích:
- Mới
gặp một người ta thích ngay hay ghét ngay. Có khi gặp một người
từ đâu tận chân trời góc biển lù lù hiện đến rồi kết tình, kết
nghĩa sống gần gũi và san sẻ một đời. Có những sự giúp đỡ bất
ngờ mà ta gọi là “may”; hay sự phá phách làm hại mà ta gọi là
“rủi”… Tất cả những sự tác động qua lại đó, thường ngỡ như xa
xôi và cách trở, nhưng chỉ là chuyện “trong nhà”, là sự tương
tác trong một dòng chung của Suối Nguồn Vũ Trụ. Cảm giác ta
thương ghét khi gặp một người chỉ là tác động đến sau, là kết
quả của “gia tài” đã ban phát hay lấy đi; cho hay mắc nợ giữa ta
và người đó.
- Như
vậy thì con thấy mình còn quá nghèo Thầy ạ.
- Sự
giàu nghèo tự chúng nó tính toán với nhau, tự nhiên và công bằng
như nước chảy về chỗ thấp; như nồng độ mặn nhạt, nóng lạnh phải
hòa nhau. Cái “thấy” của thí chủ Ba Gấm là một ấn tượng chủ
quan. Như kẻ nghèo thì sung sướng với cảm giác giàu có khi kiếm
được dăm ba đồng. Nhưng người giàu thì thất vọng với cảm giác
nghèo nàn khi có được bạc vạn mà không lên tới bạc triệu.
- Nếu
đã có một sự tự điều hòa và san sẻ công bằng như thế thì cần làm
việc tốt là đủ, cần gì phải đi tu nữa, phải không Thầy.
- Đi tu là
phương tiện. Chiếc thuyền chưa phải là sự đảm bảo cho việc qua
sông, qua biển mà cần phải có phương hướng đúng, tay chèo hay.
- Một
người đi tu so với một người thường sống giữa thế gian, thì ai
hơn ai kém nhau về mặt nào, thưa Thầy?
- Mặt nào
là mặt nào?
Ba Gấm xác
định:
- Như về
mặt đạo cao đức trọng; mặt tiếp xúc với đời sống tâm linh; mặt
giá trị làm người; mặt tu hành đắc đạo… chẳng hạn thì ai hơn ai
kém?
- Không ai
hơn mà cũng chẳng ai kém.
- Lạ
quá. Sao lại như thế được?
- Vì
khi đánh giá hơn và kém là phải dựa vào một tiêu chuẩn hay thước
đo nào đó có giá trị đúng tuyệt đối. Nhưng chẳng có một giá trị
nào tuyệt đối cả. Người đi tu và kẻ ở đời thường chỉ khác nhau
về nề nếp sinh hoạt, nghĩa là khác nhau về phương tiện, hình
tướng. Dùng phương tiện, hình tướng để gột rửa vô minh, đi tìm
ánh sáng. Tu là sửa đổi, là chuyển hóa từ thấp đến cao, từ xấu
sang tốt, từ tối tăm sang sáng suốt. Bất luận người xuất gia
hay kẻ tại gia hễ một khắc dừng lại và thỏa mãn với cái mình
đang có là đang chìm đắm; ngược lại khi chuyển mình cải hóa là
tu.
- Như
thế thì với thiện tâm cầu đạo, xuất gia đi tu chẳng có lợi gì
hơn là ở nhà sống cuộc đời thường để tự mình tu sao Thầy?
- Người
đi tu có giới luật và hình tướng thường xuyên nhắc nhở nên biết
mình đang tu và phải tu. Còn người đời thường hoàn toàn tự do
nên thường quên là mình cần phải chiến đấu với lòng ham muốn của
mình từng khắc một để vươn lên; lại có khi hẹn rày, hẹn mai “sẽ
tu” và thường hóa ra quá muộn. Giữa cõi vô thường nầy, ai biết
được đôi khi chỉ trong một nhấp nháy mở mắt ra là còn sống mà
nhắm mắt lại là đã chết.
- Có
phải đi chùa, cầu nguyện để cầu xin giải thoát là cách tu tốt
nhất không?
- Cầu
xin ai? Muốn khấm khá thì phải siêng năng làm ăn. Mình mắc nợ
thì mình phải trả. Chỉ biết nhắm mắt trông cậy vào người thương
hại và tìm người tốt bụng đứng ra để rước nợ cho mình tha hồ
tiêu xài thỏa thích là mơ mộng viễn vông. Đi chùa, cầu nguyện
là phương tiện thấy và nghe. Đọc kinh để thấm hiểu lời nhắc nhở
của các bậc hiền thánh cho mình chứ thật ra chẳng có ai đang đợi
mình ở tượng, ở đài, ở chùa, ở tháp, ở tận đâu đâu chờ khi mình
gọi, mình kêu để đến dắt mình đi về cõi hạnh phúc, giải thoát
cả.
- Thế
thì tại sao muốn cho thân tâm an lạc lại phải đi chùa Thầy nhỉ?
- Đôi
mắt nhìn, cảm giác riêng và tác động của âm thanh, hương vị là
cửa ngõ đi vào tâm. Đặt chợ trước cửa ngõ thì tâm dao động ồn
ào, náo nhiệt. Đặt vầng trăng thanh trước ngõ thì tâm vắng
lặng, thảnh thơi. Đặt cảnh chùa, mùi trầm hương và tiếng kinh
như lời thơ trước ngõ thì tâm an lạc.
- Có
người đến chùa thường xuyên mà tâm vẫn loạn động là tại sao?
- Chỉ
vì người đó thân thì ở chùa mà tâm thì ở chợ. Chân bước vào
chùa mà tâm hướng thiện không mang theo thì dẫu có ở cả đời
trong chùa tâm vẫn là tâm loạn.
Ba Gấm lặng lẽ nhìn thầy Tiều.
Vị tu sĩ nầy thật kỳ lạ. Ông nói chuyện đạo mà chẳng bao giờ
thuyết phục người nghe đi vào thế giới thần bí hay mầu nhiệm của
tôn giáo. Ông nói chuyện đi tu cũng thản nhiên và rạch ròi như
chuyện đốn củi, làm ăn. Chính vì đã được đọc quá nhiều sách vở
tôn giáo, nên Ba Gấm có cảm tưởng như thầy Tiều vừa là một tu sĩ
đơn giản chẳng có gì đáng học hỏi; vừa là một ngọn núi Linh Sơn,
có một suối nguồn tâm linh phong phú, ẩn dấu phía bên kia sườn
núi mà ánh nắng mặt trời không bao giờ chiếu tới.
Ba Gấm càng hỏi tới:
- Thưa thầy, nếu tự mình tìm
đường giải thoát cho mình thì những người theo đạo Phật niệm
danh hiệu Phật, cầu xin chư bồ tát và long thần hộ pháp cứu khổ,
cứu nạn thì có ích gì đâu?
- Kêu cứu để được vớt lên khi sắp
bị chết đuối, chứ không phải kêu cứu để nhờ người tập bơi. Muốn
biết bơi cho khỏi bị chết đuối thì tự mình phải tập bơi trước
đã. Tôn Ngộ Không theo phò Tam Tạng để cứu nguy chứ không phải
để thỉnh kinh thay cho vị Đường Tăng đó.
- Nói vậy thì Thầy có tin hay
không tin lời cầu nguyện?
Không do dự, thầy Tiều đáp ngay:
- Tin lắm chứ.
- Như vậy là Thầy cũng phải dựa
vào một nhân vật khác rồi.
- Nói đúng hơn là dựa vào sức
mạnh chứ không dựa vào nhân vật.
- Đức Quán Thế Âm là một nhân vật
hay một sức mạnh?
- Cả hai thí chủ Ba Gấm ạ.
- Thầy trả lời khó hiểu quá, thưa
Thầy.
- Có một sức mạnh vô hình của
trời đất, vũ trụ. Ta có thể gọi đó là “Năng Lực Vũ Trụ” hay gọi
gì tùy thích. Năng lực đó ẩn chứa trong Suối Nguồn Vũ Trụ. Con
người sinh ra là đã có khuynh hướng nối kết với Suối Nguồn Vũ
Trụ đó rồi. Cầu nguyện là gởi năng lực nhỏ bé và yếu ớt của cá
nhân mình vào năng lực suối nguồn vũ trụ to lớn vô biên đó. Khi
nguy biến, dốc tâm nguyện cầu là mở rộng cửa để lấy lại năng lực
đó. Sự thành tâm cầu nguyện cũng ví như hình thức “giải mã” để
năng lực vũ trụ bắt gặp cửa ngõ của cá nhân mà hút vào và biến
tướng dưới vô số hình thức. Quán Thế Âm là Nghe Tiếng Trần
Gian. Đó là trạm chuyển tiếp năng lực vũ trụ vào nhu cầu của
hoàn cảnh con người trần gian một cách kịp thời và chính xác
nhất. Đức Quán Thế Âm là một vị đại Bồ Tát, nhưng đồng thời
cũng là một Năng Lực Siêu Nhiên Tuyệt Đối nên không bao giờ suy
suyển, vắng mặt hay thiếu hụt bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu có
nhu cầu trong vũ trụ, càn khôn nầy. Có thể cùng lúc biến thành
vô số nhân vật khác nhau tùy theo nhu cầu của hoàn cảnh: Thiên
Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi. Phật giáo có đức Quán Thế Âm.
Dân gian Việt Nam có ông Trời, ông Bụt và mọi dân tộc, mọi tôn
giáo xưa nay và bất cứ nơi đâu, đều có một đấng cứu khổ tương tự
như ngài Quán Thế Âm. Người tiến hóa có một hình ảnh thánh linh
để cầu. Người cổ sơ cầu đá, cầu cây, cầu mưa, cầu gió… đều là
một hình thức giống nhau để tiếp cận với năng lực thường hằng
trong Suối Nguồn Vũ Trụ đó.
- Thật là thú vị khi nghe Thầy
giải thích một hình thức tâm linh, tôn giáo bằng lời lẽ “như
thật” mà chỉ có những đầu óc quen lối lý luận Tây dương mới
thường nói đến. Nếu vậy, thì điều Thầy nghĩ có trái với nội
dung kinh sách của nhà Phật mà Thầy đang theo không ạ?
- Nếu ai cho trái thì đó là vì họ
nghĩ trái. Đức Phật đã nói rằng vạn pháp đều là Phật Pháp.
Cách suy nghĩ dẫu có trái với kinh điển cũng là Phật Pháp nhìn
theo một lăng kính khác. Cái đúng chẳng qua là một cách nhìn
khác của cái sai mà thôi.
Ba Gấm vừa cười vui, vừa ôm đầu
nói lớn:
- Ôi! Thầy ơi. Nếu lỡ con vào
chùa mà nhìn sai tượng Phật với một vị hộ pháp thần thông nào đó
thì chắc là sẽ bị các thầy trụ trì cho ăn đòn liền…
Khoác tay như để trấn an Ba Gấm,
thầy Tiều nói bằng giọng phóng khoáng, thân mật:
- Thí chủ Ba Gấm chớ lo. Chính
đức Phật đã liệu trước điều nầy nên ngài dặn dò:
"Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã.
Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai".
Ba Gấm vui theo niềm vui của cả
nhóm và dịch ngay ra bằng thơ:
- Ai
đem sắc tuớng nhìn ta,
Lấy âm thanh bảo Phật Đà là đây.
Theo tà đạo chính người nầy,
Làm sao thấy được bóng thầy Như Lai.
Có tiếng cười vui tán thưởng và tiếng vỗ
tay bôm bốp. Dưới ánh trăng khuya vằng vặc, cả nhóm Vườn Thuốc
ngồi quanh thầy Tiều và Trí Hải, theo dõi câu chuyện giữa thầy
Tiều và Ba Gấm trong im lặng. Cùng trong nỗi nhớ Phạm Xảo,
những người cùng nhóm Trí Hải có tấm lòng với đời, với đạo, với
bạn, với mình còn bắt gặp niềm vui chung về một lối suy nghĩ
không rời nếp cũ xa xưa; nhưng cũng đầy suy tư và khai phá vào
những chân trời sáng tạo riêng mình.
Thiện Giả xích gần lại thầy Tiều, lên
tiếng:
- Thưa Thầy, có phải vì không xem trọng
việc xuất gia tu hành, trì trai, giữ giới nên mới có hiện tượng
“đồ tể quăng dao thành Phật” không ạ?
Thầy Tiều không trả lời mà hỏi lại Thiện
Giả:
- Quý hữu có tin như vậy không?
- Dạ không, tin làm sao được mà
tin. Thành Phật là một đại sự, đâu có dễ dàng như thế được.
- Sao là
dễ, sao là khó?
- Đức Phật
Thích Ca đã tu vô lượng kiếp mới đạt được kiếp sau cùng làm thân
thái tử. Sau đó xuất gia, đại ngộ thành Phật.
- Thì người đồ tể kia cũng đã tu
vô lượng kiếp và kiếp sau cùng phải qua nghiệp đồ tể. Thái tử
Tất Đạt Đa là thái tử đông cung bỏ ngôi đi tu và đi đến giác ngộ
thành Phật; người đồ tể quăng dao để tu theo cách của mình và
cũng giác ngộ thành Phật thì có gì khác nhau đâu. Làm vua hay
làm đồ tể cũng chỉ là cái nghiệp nhân sinh mà thôi. Bỏ ngôi hay
bỏ dao đồ tể để giải nghiệp và hành đạo, tuy hình thức khác nhau
nhưng ý hướng thâm sâu cũng chỉ là một.
Thiện Giả nhìn Ba Gấm mỉm cười,
nói giễu:
- Tỷ tỷ Ba Gấm với tóc mây, má
hồng, xiêm áo đẹp đẽ thế kia mà cũng có thể là đang tu sao?
Thầy Tiều nghiêm nét mặt, gật
đầu:
- Bất kỳ ai đang làm việc tốt là
đang tu.
Trăng sáng mênh mông. Trong xóm
đêm lại nổi lên tiếng mõ cầm canh đổi phiên. Nhóm vườn thuốc
vẫn chưa ai muốn chia tay về ngủ. Thiện Giả nói với thầy Tiều:
- Đã
qua ngày thứ 49, Phạm huynh hết làm thân “trung ấm” quanh quẩn
với chúng ta rồi. Phạm huynh vừa bước vào một kiếp khác. Thưa
thầy, với cuộc đời của tướng quân Phạm Xảo, kẻ thường làm việc
tốt cho đời như thế, thì sẽ được về đâu trong 6 nẽo luân hồi?
Thầy
Tiều lắc đầu, trả lời:
-
Nghiệp lực đưa Phạm hương linh về đâu thì về đó, làm sao biết
được.
-
Nghiệp lực là gì?
- Là
tổng kết mọi việc làm của một người từ vô số kiếp. Gồm cả việc
thiện, việc ác, tốt, xấu, hay, dở, sáng, tối, cao, thấp, công,
tư… không một mảy may khuấp lấp. Tất cả mọi việc làm lớn nhỏ,
tự chúng tác động qua lại chi li và chính xác như phép tính toán
cộng, trừ, nhân, chia để đưa ra kết quả sau cùng không sai một
ly, không đi một mảy. Đạo Phật gọi đó là nghiệp lực, đạo Chúa
xem đó là sự phán xét cuối cùng của Thượng Đế và dân gian cho đó
là lưới Trời, không ai thoát khỏi.
- Như
thế thì con người cũng chỉ là một tên nô lệ buông tay, bất lực
để cho nghiệp dẫn đi đâu thì đi hay sao, thưa Thầy?
-
Nghiệp do mình tạo chứ có ai khiêng nghiệp đến để trên vai mình
bắt gánh đâu.
- Nếu
thế thì con người có thể chuyển nghiệp được hay không?
-
Nghiệp do thân, miệng, ý phát sinh ra. Muốn chuyển nghiệp thì
phải biết làm chủ hành động, lời nói và ý nghĩ.
- Bằng
cách nào vậy, thưa Thầy?
- Hành
động lương thiện và ngay thẳng; nói lời chân thành và nhân ái;
nghĩ điều chính đáng và hướng thượng ấy là đang tự mình giải
nghiệp, chuyển nghiệp ác sang nghiệp lành.
- Cuộc
chuyển nghiệp đó bao giờ mới xong?
- Không
bao giờ ngừng nghỉ. Cứ tiếp tục duyên nghiệp trùng trùng cho
đến khi dứt nghiệp.
- Làm
sao dứt nghiệp?
- Đừng
tạo nghiệp.
- Nhưng
sống là tạo nghiệp mà.
- Cũng
có nhiều lối sống. Sống buông thả cho lòng ham muốn làm chủ thì
nghiệp chướng chồng chất. Sống đời trong sạch trong chánh niệm
thì nghiệp chướng sẽ lui dần. Sống trong giác ngộ thì nghiệp
chướng sẽ được dứt sạch.
- Vậy,
sống đời tu hành như Thầy thì nghiệp có còn tạo ra cho Thầy nữa
không?
Ngửa cả
hai bàn tay với nụ cười mở rộng, thầy Tiều hỏi lại như nói đùa:
- Này
Thiện Giả, quý hữu có thấy tôi làm đúng như lớp áo cà sa tôi
đang mặc, suy nghĩ trơn tru như chiếc đầu tròn và nói năng thích
hợp như kẻ tu hành không?
- Dạ
thưa thầy, hoàn toàn thích hợp.
Tỏ vẻ
thích chí, thầy Tiều trả lời:
- Nếu
như thế thì nghiệp chướng trên tôi đang nhẹ dần.
- Và
khi nào thì hết nghiệp?
- Làm
sao tôi biết được những nghiệp chướng do chính mình gây ra trong
bao nhiêu đời kiếp trước.
- Thì tu
hành là hết nghiệp. Khi chết sẽ lên ngay chốn Niết Bàn.
- Không
đơn giản thế đâu quý hữu ơi! Như ngài Mục Kiền Liên là đại đệ
tử của đức Phật có thần thông bậc nhất, thế mà vẫn bị bọn cướp
hung hãn tầm thường đâm chém giết chết.
Thiện
Giả kêu lên:
- Ôi!
Đau quá! Tại sao lại có thể như thế được? Tu hành một đời đạo
cao, đức trọng thế kia mà vẫn bị đọa sao thầy?
- Nói
“bị đọa” cũng đúng mà không đúng. Ngài Mục Kiền Liên phải trả
cho cái nghiệp báo vì sợ vợ mà bỏ đói cha mẹ giữa rừng sâu từ
trong một kiếp trước xa xưa.
- Nhưng
ngài là bậc tu hành đắc đạo lại không chuyển nghiệp hết sao?
- Không
mà có; có mà không. Nghiệp là món nợ chung thân, không thừa trừ
ai cả. Tu hành nghiêm cẩn hay sống đời đức hạnh có thể giải hết
nghiệp trong đời nầy. Nhưng có những nghiệp quá nặng còn đeo
đẳng chưa dứt sạch thì người mang nghiệp phải trả cho hết sạch,
ít nhất cũng trả lần cuối trước khi hoàn toàn đoạn nghiệp.
Thiện
Giả thắc mắc:
- Thế
sao ông Mục Kiền Liên trong chuyện kể nhà Phật có thể nhìn thấy
được hóa thân bà mẹ độc ác của mình đang ở địa ngục A Tỳ sau khi
bà ấy chết mà lại không thấy được lũ cướp vây quanh?
- Đứng
ở đỉnh núi cao thì nhìn thấy hết cảnh đồng bằng phía dưới nên
cũng thấy được căn nhà riêng nhỏ bé của mình đang ở đâu. Chúng
ta không biết, không thấy Phạm huynh ở đâu vì chỉ có đôi mắt
trần. Muốn thấy thiên thâu phải có huệ nhãn. Huệ nhãn là con
mắt thật, mắt trần của tuệ giác. Khi bị ác nghiệp bao vây thì
tầm nhìn cũng bị bao vây bởi mây mờ của cảnh trần khi tạo
nghiệp. Sự bao vây của nghiệp báo có khi thoáng qua rồi đoạn
diệt như trường hợp ngài Mục Kiền Liên; có khi kéo dài một đời
như kẻ mù lòa, câm điếc từ khi lọt lòng mẹ; có khi kéo dài đời
đời kiếp kiếp như hàng ngạ quỷ súc sanh… cho đến khi trả hết
nghiệp.
- Làm
sao để có huệ nhãn?
- Tu!
- Thì
thầy cũng đang tu đó mà.
Nói như
để chế nhạo chính mình, thầy Tiều trả lời Thiện Giả:
- Có lẽ
cũng cần phải tu vài ba tiểu kiếp mới mong có huệ nhãn.
- Thế
Thầy tu đã được bao lâu rồi ạ?
- Chừng
năm chục năm.
- Một
tiểu kiếp dài bao nhiêu năm?
- Mười
sáu triệu năm.
- Đại
kiếp thì dài bao lâu.
- Có khi
là 20 có khi là 1000 tiểu kiếp.
Bày tỏ một
sự thất vọng não nề về cái khung thời gian mà thầy Tiều vừa nói,
Thiện Giả chỉ còn biết kêu lên:
- Chao ơi!
- Sao vậy?
- Chỉ cần
nghe cũng đủ ngộp thở mất rồi!
- Vì
kiếp người cho dẫu 100 năm thì vẫn chưa bằng nửa hạt cát trong
sa mạc thời gian bao la vô cùng tận phải không?
- Dạ,
quả đúng như thế Thầy ạ.
- Tại
sao quý hữu lại không tự thắp sáng lên một niềm tin rằng, trong
kiếp nầy quý hữu chỉ cần tu thêm một khắc nữa thôi là đủ vài
tiểu kiếp mà quý hữu đã tu trong muôn vàn kiếp trước?
- Ồ,
dạ. Hay lắm, hay lắm. Tại sao ta lại không có quyền nghĩ về ta
một cách tích cực như thế đã chứ. Ôi, mẹ ơi! Hạnh phúc quá.
Nếu con đã từng tu 32 triệu năm, đã trải qua vài tiểu kiếp làm
việc tốt. Với từng ấy thời gian, con đủ tự hào vươn lên như bất
cứ ai. Con cũng đang có chân tâm, có Phật tánh trong con như
các sư ông, sư bác, sư huynh, sư đệ trên chùa, như mọi người
sống đời lương thiện đang làm việc tốt quanh đây. Con cũng sẽ
có huệ nhãn, có thần thông để biết tôn huynh Phạm Xảo, biết mọi
người và biết con đang ở đâu.
Thầy
Tiều, Trí Hải, Ba Gấm, Tâm An đều cười chan hòa với niềm vui vô
tư gần như trẻ thơ của Thiện Giả. Lòng tri ân ơn cứu tử của
Thiện Giả đối với Phạm Xảo thật sâu bền. Không hẹn mà gặp, trí
tưởng của mọi người trong nhóm đều hướng về Phạm Xảo.
Từ ngày
về lại với nhóm vườn thuốc, Tâm An trở nên dễ dãi, nhu hòa và ít
nói. Mắt nhìn phân biệt sắc sảo và lời nói đầy thuyết phục càng
có lợi cho việc làm ăn buôn bán chừng nào thì lại càng bất lợi
cho việc tu dưỡng định tâm chừng đó. Khi dáng vẻ đời sống trụ
lên đôi mắt; ý nghĩa giao tình gắn chặt vào lời nói thì chân
dung cuộc sống chỉ còn là lớp sơn màu tô trét bên ngoài. Ngày
trước, Tâm An đã nhìn Trí Hải và thầy Tiều như nhìn những cây cổ
mộc trong khu vườn thiền kiểng.
Dáng trang đài kỳ tú mà vô hồn. Tâm An hôm nay lắng xuống bề
sâu. Cảm nhận sâu xa nhiều hơn là nhìn nói vội vàng.
Tâm An
hỏi trống không, chẳng biết câu hỏi hướng về thầy Tiều hay là về
ai trong nhóm:
- Hiền
huynh Phạm Xảo không phải là thầy tu, cũng chẳng phải là cư sĩ
Phật tử, tại sao lại đi tìm cái chết ngay trên những dòng kinh
Bát Nhã vậy kìa?
Im lặng
hồi lâu không ai lên tiếng. Thầy Tiều tự nói lên ý nghĩ của
mình:
- Vì
khi còn sống, Phạm hữu đã sống đời Bát Nhã.
Câu trả
lời hơi lạ lùng của thầy Tiều gây sự chú ý cho mọi người. Không
nghe ai nói gì, thầy Tiều dẫn giải:
Ba Gấm
hỏi thầy Tiều:
- Bát
Nhã Ba La Mật Đa là trái tim của lý thuyết nhà Phật. Chỉ có các
bậc cao tăng thượng trí mới thực hành Bát Nhã thôi, phải không
ạ? Nếu vậy thì tướng quân Phạm Xảo chứ đâu có phải là một vị
đại thiền sư mà dám sống đời Bát Nhã, thưa Thầy?
Lắc lư đầu như vừa phủ nhận và
vừa xua tay đùa vui, nhưng bằng vẻ mặt trầm tư sâu lắng, thầy
Tiều nói về cái lý Bát Nhã trong suy tư của Thầy:
- Bát
Nhã là mắt sáng nhìn đời đúng như sự thật đang diễn ra chứ có gì
ghê gớm lắm đâu mà không dám sống.
- Mắt
sáng đó có phải là con mắt của trí tuệ ở bên trong không Thầy.
Người thường làm sao có được?
- Con
mắt trí tuệ khởi từ cái nhìn bình thường của nhục nhãn; tiến lên
cái nhìn thiên nhãn và đạt tới tuệ nhãn của hàng Bồ Tát, Thanh
văn, Duyên giác là một vòng chuyển hóa nội tại mà mọi chúng sanh
đều có khả năng vươn tới được. Bát Nhã là sự chối bỏ toàn triệt
những biên giới phân biệt của thân, tâm, ý, thức. Đó là những
biên giới, rào chắn, ý niệm chủ quan được dựng lên do ảo tưởng
sai lạc của con người.
- Ảo
tưởng sai lạc đó do đâu mà có?
- Tâm,
tưởng sai lạc do lớp lớp bụi trần trong nhiều kiếp đóng thành
núi, thành đồi cố chấp có khi được gọi đầy vẻ tự hào si mê là…
kinh nghiệm. Chính thói quen tích tụ nầy đã dẫn dắt con người
mang mộng tưởng điên đảo đi đào bới để tìm cho bằng được cái búa
của “ông Thiên Lôi” sau cơn sét đánh làm cây đổ, người chết. Ai
cũng lý sự được rằng, nếu không có một “ông Thiên Lôi” với sức
mạnh ghê hồn vác búa từ Thiên Đình xuống đánh thì làm sao có ánh
sáng chói lòa từ trên trời cao xẹt xuống đất; rồi có tiếng nổ
long trời; rồi có cây đổ, người chết… cháy đen thui? Ai dám
nói “không” khi có nó. Ai dám nói “có” khi nó là không. Và nếu
cứ đi mãi, rồi đi mãi tìm ngọn nguồn và nguyên nhân của cơn sấm
sét thì ai dám bảo là có, ai dám bảo là không? Muốn nói gì thì
nói nhưng chắc chắn cái ông Thiên Lôi mạnh vô song đó là… “đồ
giả thật”! Nó có thật đó mà lại không có thật. Cái giả, cái
không cuối cùng của sự thật ông Thiên Lôi đó không thể thấy,
không thể tính, không thể bàn mà chỉ có thể hiểu ra và cảm nhận
qua ý niệm “tri kiến” trong vô hình vắng lặng. Chỉ có cái nhìn
của tuệ giác mới thấy được đó là lý Bát Nhã. Chẳng có một ông
Thiên Lôi thật sự nào cả mà chỉ có tánh điên đảo hợp lại thành
sấm sét và mộng tưởng điên đảo hợp lại thành ông Thiên Lôi.
- A!
Thầy ạ. Thuở nhỏ, Ba Gấm con từng biết một ông thầy pháp có
được cái búa thiên lôi để trừ ma diệt quỷ đó mà.
- Thế
ngày đó Ba Gấm có tin đó là búa thiên lôi thật không?
- Dạ,
tin lắm thầy ơi! Cả làng, cả xã đều tin như vậy vì ông thầy
pháp có cái búa Thiên Lôi bỏ trong túi xách thật mà.
- Nếu
đó chỉ là cái búa thợ rèn giả thì làm sao biết được?
- Ơ!
Mà… ơ! Thật tình là không biết vì có ai ngoài ông thầy pháp đó
có “búa Thiên Lôi” đâu.
- Thì
Bát Nhã cũng chỉ là lời xác định một cách quả quyết rằng, không
có cái búa Thiên Lôi thật; mà cũng chẳng có gì thật cả. Nên
đừng sợ sấm chớp, đừng sợ tiếng nổ, đừng sợ Thiên Lôi vì thật ra
mọi hình tướng đều là sự va chạm hay kết hợp của âm dương, ngũ
hành mà sinh ra, rồi tan biến và về lại với Suối Nguồn Vũ Trụ mà
thôi. Ngay cả tam thiên, đại thiên thế giới cũng chỉ là một
trường sinh diệt liên tục. Cái gọi là Ta Bà thế giới hôm nay
biết đâu sẽ tan thành đám bụi mờ bay tỏa trong không gian vô
cùng và thời gian vô tận.
Ba Gấm
hồi tưởng lại những cuốn sách bàn về yếu lý nhà Phật quá cao
siêu đến độ mơ hồ và tối tăm khó hiểu mà mình đã đọc, liền hỏi
thầy Tiều:
- Thưa
Thầy, như thế có loại kinh sách nào bàn về kinh Kim Cang Bát Nhã
Ba La Mật đơn giản và dễ hiểu với tất cả mọi người, ngay với cả
người mù chữ không?
Thầy
Tiều giải thích:
- Bát
Nhã là sự thật của thể lý, là cội nguồn của ý thức, là tính
không của vạn pháp. Đó là một ý niệm hoàn toàn tự tại, an nhiên
và rỗng lặng, không đào bới hồi ức từ quá khứ, không chạy đuổi
theo ước mơ về tương lai. Quán tự tại nơi ta và trong chính ta
ngay trong lúc nầy. Bát Nhã đơn giản như hơi thở và gần gũi
thật thà như máu của ta. Tâm vắng lặng, trí thản nhiên trước tất
cả những mảnh đời đang trôi theo dòng sống là đang sống đời Bát
Nhã. “Từng trang nghĩa lý phân minh. Kim Cang kinh thật là
kinh không lời”! Vì kinh thật không lời nên khi đem “xích tử
chi tâm”, nghĩa là cái tâm nguyên sơ, hồn nhiên, trong suốt của
đứa bé sơ sinh và một đầu óc không vướng bận nhị nguyên đối đãi
(như khen chê, tốt xấu, có không… ) thì dòng Bát Nhã có sẵn
trong mỗi người tự nhiên hiển lộ.
Ba Gấm
cúi đầu lẩm bẩm:
- Kim
Cang kinh thật là kinh không lời. Kim Cang vô tự thị chân
kinh!
Tâm An
không nhịn được, liền hỏi:
- Thầy
ơi! Nếu Bát Nhã mà gần gũi và đơn giản như thế thì tôi đâu có
bỏ chùa ra đi trôi nổi đến hai lần như thế.
Đặt một bàn tay nhè nhẹ lên vai
áo của Tâm An, thầy Tiều nói như an ủi:
- Tâm An vẫn còn tiếc nuối những
năm tháng sống xa chùa à?
Giọng ấm lại đầy vẻ cảm động và
chân tình, Tâm An nói nhỏ:
- Dạ, tiếc lắm Thầy ạ.
- Lại vướng mắc hình tướng nữa
rồi. Sao quý hữu không xem thế gian nầy là một ngôi chùa rộng
lớn.
- Tam Bảo nơi đâu?
- Phật là Tâm thương người,
thương đời. Pháp là Trí tỉnh táo, sáng suốt. Tăng là việc tốt
đang nghĩ, đang làm.
- Tìm ở đâu?
- Tất cả đều có sẵn trong
ta. Không cần tìm. Chỉ cần thấy.
- Tôi chưa nghe ai nói đơn giản như vậy bao giờ.
- Bởi
vì người ta đua nhau nói những điều cao siêu về Bát Nhã nên
chẳng ai hiểu Bát Nhã như Bát Nhã mà cứ hiểu Bát Nhã theo những
điều cao tột nằm tận đâu đâu bên ngoài Bát Nhã. Dần dần, vọng
tưởng Bát Nhã trở thành cung tên của ngôn ngữ khải đạo và tư
tưởng ngự trị. Hễ người xạ thủ vô minh bắn ảo ảnh Bát Nhã vào
đâu là ý nghĩa thâm sâu của Bát Nhã ấy sẽ mất sự hồn nhiên trong
sáng và biến thành vọng tưởng. Bát nhã, tánh không, chân như…
không có gì xa hơn là sự thật. Nó là nó chứ không phải ai khác,
cái gì khác, hay thể tính khác. Quán tưởng, suy niệm về sự thật
để tiến tới một đối tượng không phải là chính nó mà cao hơn hay
thấp hơn nó; đẹp đẽ hay xấu xa khác nó là phi Bát Nhã.
Người
hiểu Phạm Xảo nhất là Trí Hải, chỉ im lặng theo dõi , bây giờ
mới lên tiếng:
- Quả
thật là Phạm huynh đã có “duyên tu”.
Trước
sự im lặng đợi chờ, Trí Hải không nói gì thêm. Thầy Tiều giục:
- Chẳng
hay Phạm quý hữu có duyên tu như thế nào, hoàng thân?
- Để có
thể trả lời Thầy, có lẽ tôi phải mượn ý kinh nhà Phật. Hình như
là Kinh Đại Pháp Cú thì phải, đại ý có nói đến Duyên Tu rằng:
Dẫu cho tụng kinh ngàn lời mà không thực hành, tu dưỡng thì ích
gì? Chẳng bằng nghe một lần, rồi tự mình siêng năng lặng lẽ
chuyên tu cho chính mình sẽ được ích lợi hơn. Tụng kinh ngàn
lời, không hiểu thì ích gì? Chẳng bằng hiểu một lời kinh, rồi áp
dụng, tất sẽ đắc độ. Tụng kinh ngàn lời, mà lòng bất kính, thì
ích gì? Chi bằng thực hành, vui vẻ, phụng tu đầy tin tưởng. Tụng
kinh ngàn lời, mà cái tôi không bớt, chi bằng theo tu một lời,
mà bỏ kiêu mạn, buông lung. Tụng kinh ngàn lời, cầu danh thêm
chấp, chi bằng nghe một lần, rời bỏ chấp trước. Nếu tu vì hình
tướng, vì danh vị, vì tiếng tăm, vì lợi lộc, vì đối đãi phân
biệt phe ta, phái người thì đấy là “nghiệp tu”, càng tu nghiệp
chướng càng nặng nề.
-
Phải. Phạm Xảo quý hữu đã sống thật với chính mình trước khi
sống thật với người khác trong mọi tình huống, trước mọi hoàn
cảnh. Tu không hình tướng là duyên tu và cũng là một cách sống
đời Bát Nhã. Dẫu cho đấy chỉ là một trong tám vạn tư lối về bến
Giác thì khi đi trọn đường cũng sẽ đến được bờ bên kia thôi.
Cả nhóm
nhìn ánh trăng nhạt dần để đón một bình minh đang về. Một sớm
mai bình thường, nhưng sẽ trở thành đến muộn với những người
thức trắng đêm và đến sớm với người nông dân đang ngủ say sau
màn sương mỏng dưới chân đồi Thái ấp.
Trần
Kiêm Đoàn
(Trích Chương 27,
truyện dài Tu Bụi)
Web:
Trankiemdoan.net
Contact:
Doantran@sbcglobal.net
Trở về Trang Chính |