|
Lời
Tòa soạn: Văn chương mang dấu ấn của con người và tuổi tác. Một
Trần Kiêm Đoàn thuở thanh xuân, rong chơi cười cợt trên quê
hương trong CHUYỆN KHẢO VỀ HUẾ và CON YÊU BÁNH NẬM đang ngã màu
tiêu muối thành gã lục tuần. Văn Trần Kiêm Đoàn trong tác phẩm
mới sắp xuất bản, có một cái tên ngồ ngộ là TU BỤI, rẽ qua một
nẻo khác: Phiêu lãng mà tu tỉnh như Trí Hải, nhân vật chính
trong truyện phân trần, "Mình không có duyên tu đạo nhưng có
thiện ý tu đời. Tu đời là tu bụi. Ngày ngày rủ bớt những lớp
bụi ham muốn, bỏ bớt những tham vọng cao xa, quét bớt những
phiền muộn quanh mình..."
"Yêu Nửa Đời" là Chương 18 trong
truyện dài Tu Bụi
Hạn hán kéo dài. Bao nhiêu cố gắng cầu mưa vẫn không
có một giọt. Sông cạn, nguồn khô. Ruộng đồng nứt nẻ. Khi sự cầu
đảo vào thần linh trở thành vô vọng, người ta quay lại với con
người. Trong mắt nhìn của thế giới nam trị nặng tính phụ quyền
và gia trưởng thì người đàn bà là một bông hoa, nhưng cũng vừa
là tai họa. Đàn bà mang âm tính. Động lực âm bị coi là lực cản,
lực chìm. Dẫu có đẹp như tứ đại mỹ nhân của xứ Tàu thì cũng chỉ
làm vướng chân giới đàn ông khí phách. Hoặc có oanh liệt ngang
tầm với tứ đại nữ anh hùng đất Việt như Âu Cơ, Triệu Ẩu, Trưng
Trắc, Trưng Nhị rồi cuối cùng cũng phải bó tay trước sức mạnh
của đàn ông. Sự bất công trọng nam khinh nữ có cội nguồn từ nền
văn minh tiểu nông, trong đó, người nào vỡ đất, cày ruộng giỏi
hơn thì người đó nắm quyền chủ động.
Người ta tin rằng, muốn giải hạn cho có hiệu quả thì
phải loại bỏ tính âm và cổ xúy tính dương. Nhà vua đương triều,
sau nhiều lần triệu ý với các thầy huyền học, luận lý âm dương
đã cho rằng số cung nữ trong cung quá đông nên đã làm cho âm
thịnh, dương suy mà sinh ra hạn hán. Nhà vua xuống chiếu cho
một trăm cung nữ rời cung cấm, trở về nguyên quán. Ba Gấm nằm
trong số cung nữ rời cung.
Sau mười lăm năm nhập cung, Ba Gấm trở về với gia
đình. Cô gái ươm tơ dệt cửi ngày xưa về lại chốn cũ bỗng nhận
ra mình là người xa lạ. Người từ cung vua ra chẳng phải là
người thường. Đụng đến tên húy của nhà vua còn sợ
huống hồ là "người của vua". Ba Gấm khó mà giải thích cho người
bên ngoài, kể cả cha mẹ ruột của mình, hiểu được nếp sống buồn
thảm, ngày lại ngày chờ đợi một ảo ảnh không bao giờ đến. Không
ai tin lời người cung nữ ở 15 năm trong cung cấm mà chưa bao giờ
được tận nhìn thấy vua.
Sự cung kính phân biệt đối xử làm cho Ba Gấm nghẹt
thở hơn cả những ngày đen tối nhất trong cung cấm. Đám người
dân thường đang nói chuyện đầy tiếng cười vui bên đường, trên
bến, ngoài vườn sẽ im bặt khi thoáng thấy bóng Ba Gấm đi qua.
Mọi người chắp tay kính cẩn, có kẻ cúi đầu chào, có người chắp
tay im lặng cho đến khi Ba Gấm đi khuất. Dẫu trong mơ mộng
hoang tưởng nhất thì vẫn không có một người đàn ông bình dân nào
dám mơ tưởng đến chuyện lấy người cung nữ làm vợ.
Nhưng rồi cũng đến một ngày lạ lùng xẩy đến giữa
cuộc đời Ba Gấm. Có người khăn áo chỉnh tề đến mai mối. Người
đó ngỏ ý xin cưới Ba Gấm làm thiếp thứ tư cho quan Chánh Chưởng
tuổi ngoài sáu mươi. Không phải là một sự lựa chọn mà là một
lối thoát, Ba Gấm và cha mẹ bằng lòng. Ngày cưới dâu, chỉ có bà
vợ cả và hai bà vợ thứ của quan Chánh Chưởng đứng ra làm chủ hôn
xin rước dâu trong khi chú rễ là quan Chánh Chưởng vẫn còn bận
phò ngự giá ở tận đâu đâu.
Ba Gấm lại lên đường về làm thiếp quan Chánh Chưởng.
Những trái tim gỗ mục khô rốc tìm nhau. Ba Gấm về dinh quan
Chánh Chưởng như về một miền quạnh hiu. Lạy tạ từ đường và ba
bà vợ già của quan Chánh Chưởng, Ba Gấm muốn khóc nhưng khóc với
ai đây. Nệm gấm, màn nhung phủ lên đời tủi cực. "Đêm tân hôn"
trống vắng bên hai cô gái hầu ngủ gục, Ba Gấm chong mắt nhìn
ngọn đèn lồng leo lắt, trí óc đặc quánh bóng đêm và chỉ còn nhớ
man man dăm câu thơ chữ trong Kinh Thi: "Quan quan thư cưu. Tại
hà chi châu. Yểu điện thục nữ. Quân tử hảo cầu... " và dịch
nghĩa để buồn: "Thư ơi! Chim hót ai nghe. Bãi sông vắng lặng ai
về bến duyên. Có cô thục nữ dịu hiền. Mơ chàng quân tử về miền
quạnh hiu."
Hơn nửa tháng sau ngày cưới, quan Chánh Chưởng trở
về. Thì ra, cô dâu mới là món quà trao thân mà ba bà vợ già đã
mõi mệt, muốn về hưu giữa cuộc ân tình đang tới mùa Đông... muốn
tặng cho đức lang quân trong ngày lễ thượng thọ. Đêm tơ hồng,
đêm động phòng hoa chúc, quan Chánh Chưởng ngất ngư trong men
rượu. Níu tóc nàng dâu cười sặc sụa. Ba Gấm chết lặng, tê điếng
người trong cơn chịu đựng tột cùng của thể xác với con quái vật
đàn ông xa lạ...
Sáng hôm sau tỉnh rượu, quan Chánh Chưởng chợt khám
phá ra rằng, mình vừa có người vợ mới trẻ trung và xinh đẹp
không ngờ. Từ đó, lạ thay, Ba Gấm đã trói chân ông quan già võ
biền vốn coi đàn bà như phương tiện truy hoan và sinh sản, sau
những cuộc liên hoan ngập ngụa trong rượu và đàn bà. Xuất thân
là quan võ, nên quan Chánh Chưởng thường mang nặng mặc cảm vừa
tự tôn, vừa tự ty với giới văn chương, sách vở bút nghiên. Khi
khám phá ra rằng, Ba Gấm cũng là người tinh thông kinh sử và thư
pháp, quan tò mò tìm hiểu. Càng tìm hiểu, quan càng bị cuốn hút
bởi phẩm chất nghiên bút tài hoa mà trước đây quan không bao giờ
nghĩ có thể có nơi một người đàn bà. Dần dần, quan hoàn toàn bị
chinh phục bởi người đàn bà bằng tuổi con mình.
Tuổi sáu mươi ở người đàn ông có quyền lực và địa vị
là một mốc thời gian đầy thử thách. Bao nhiêu năm say sưa chen
chân vào đời tranh sống, tranh địa vị, tranh tiếng tăm. Tốc độ
đời sống ngỡ như tăng tốc lên tới điểm cao nhất, nhưng thực ra
chỉ là ảo giác do cái đà của năng lực quán tính còn sót lại.
Người đàn ông sáu mươi, thật ra, đang rơi xuống thấp dần với
đất, phía bên kia sườn núi phía Tây của tuổi già xế bóng.
Quan Chánh Chưởng không còn nhớ rõ và phân biệt từng
trường hợp mình đã gặp gỡ và kết hôn với ba bà vợ cũ trong hoàn
cảnh nào. Quá khứ trãi dài hơn 30 năm trước và về sau nầy chỉ
để lại trong đầu quan Chánh một điều rất rõ là quan lấy vợ cũng
như người sắm nhà. Hai bên mối lái thuận mua vừa bán thì người
đàn bà độc thân thành vợ. Vợ về nhà chồng. Ăn ở với chồng sinh
con đẻ cái. Tuổi già thì có thêm cháu nội, cháu ngoại. Những
vòng tròn đơn giản của sinh, lão, bệnh, tử quay đều đặn từ thế
hệ nầy sang thế hệ khác. Thế nhưng từ khi gặp Ba Gấm quan bắt
đầu hiểu ra là có một thứ tình trai gái lạ lùng hơn, lay động dữ
dội hơn, sâu và bền hơn là những động tác và cảm giác lập đi,
lập lại hoài trong bao nhiêu năm đến độ trơ lì trên giường ngủ.
Người ta gọi thứ tình trai gái lạ lùng đó là tình yêu. Và quan
nghĩ rằng mình mới bắt đầu nếm vị tình yêu đó từ khi gặp người
đàn bà kỳ diệu ấy. Nhưng quan chỉ cởi bằng quyền hạn mà không
mở được cánh cửa của tình yêu vì không có cái chìa khóa vàng để
mở trái tim người đàn bà đã tạo ra nguồn rung cảm dữ dội của
quan. Quan hiểu điều đó, nhưng không có lý do đòi hỏi nhiều
hơn. Như trồng cây mẫu đơn trổ được hoa cũng đã là quý rồi,
quan không có lý do đòi hoa ngũ sắc; dẫu rằng, quan biết trong
lòng mẫu đơn có hoa ngũ sắc. Dẫu sao thì ở tuổi sáu mươi, quan
vẫn thầm cảm ơn đời đã hé cửa cho quan biết có một chân trời
khác mà quan biết rõ là có không biết bao nhiêu bạn đồng liêu
của mình, từ ngày mới lớn cho đến khi nhắm mắt lìa đời, tuy con
đàn cháu đống, nhưng chẳng bao giờ được hít thở một chút hương
hoa của chân trời "khác" ấy.
Không tình yêu, nhưng ba Gấm hiểu cái "nghĩa" của
quan Chánh Chưởng và trân trọng cái nghĩa ấy. Ba Gấm thương
chồng con và lo chu tất chuyện cơm áo gia đình. Tình cảm của Ba
Gấm như cái giếng sâu, thản nhiên và lặng lẽ tụ nước cho người
đến múc. Cái giếng không biết đến những khe suối, ao hồ, dòng
sông và biển cả. Thế nhưng càng ngày, cái giếng tình cảm của Ba
Gấm, từ trong thâm cung tự nhiên của tình cảm, vẫn phải nghe mơ
hồ tiếng róc rách của khe suối, đã thoáng thấy bầu trời soi bóng
mặt hồ, đã nghe xao xác nước chảy ven sông, đã có lúc nổi sóng
ba đào của biển lớn.
Người ta nói những văn tài, những nhà độc tài, những
thiên tài và những nhà kinh tài là những người có quá nhiều mối
tình hay không có được một mối tình nào dính túi. Nhưng tất cả
đều giống nhau là không tìm thấy một tình yêu đích thực nào cả ở
trần gian nên họ vẫy vùng trong tuyệt vọng và thành "tài" bao
giờ không hay! Ba Gấm vẫn thường đem ý tưởng ngộ nghĩnh nầy để
ví von với mình và sự thành công quá lớn lao của mình trong thị
trường buôn bán gấm vóc.
Ba Gấm mang cả một nguồn tinh lực nghệ sĩ dạt dào
trong mình để đối diện với sự ghẻ lạnh tình cảm riêng mình.
Quan Chánh Chưởng càng say mê thiết tha, Ba Gấm càng nhận rõ hơn
cửa ngỏ tình cảm của mình vẫn đóng chặt. Nỗi ám ảnh kinh hoàng
trong buổi tân hôn là những cái đinh đóng chặt nắp áo quan của
tình cảm. Tự bản chất sâu thẳm, người đàn bà khác với người đàn
ông là khi không có tình yêu thì sự tương giao xác thịt là nỗi
dày vò cực hình. Ba Gấm phải tự giải thoát cực hình bằng họat
động bận rộn kinh doanh. Kinh nghiệm truyền đời trong nghề tơ
lụa đã giúp Ba Gấm biết cầm vững phẩm chất và thị hiếu của khách
sành điệu xem cái mặc trước cái ăn. Kiến thức văn chương và sở
trường thư pháp giúp Ba Gấm biết nhìn cái đẹp độc đáo và tinh
chuyên trong sở thích may mặc của giới giàu sang và quý tộc. Uy
quyền của quan Chánh Chưởng giúp Ba Gấm vẫy vùng không biên giới
trên mọi thị trường tơ lụa trong nuớc và các xứ lân bang. Hàng
tơ lụa, gấm vóc mang nhãn hiệu Ba Gấm chiếm lĩnh ngôi vị không
có địch thủ cạnh tranh trên thương trường. Sự giàu có ào ạt tìm
cửa đại gia Ba Gấm mà đến.
Hàng tơ lụa. gấm vóc Ba Gấm đến từ mọi phía. Phía
Đông có hàng Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh Cát Lợi và luôn
cả hàng Ấn Độ Ba Tư. Phía Đông có hàng Nhật Bản, Triều Tiên.
Phía Bắc có hàng Hàng Châu, Tô Châu, Thượng Hải, Đài Loan. Dưới
bóng dù che của quan Chánh Chưởng, Ba Gấm trực tiếp giao thiệp
buôn bán , đổi chác, sinh hoạt với hầu hết các tàu buôn và khách
thương ngoại quốc. Những chuyến đi buôn bán lặng lẽ hàng tháng
trời ra các nước ngoài giúp Ba Gấm mở rộng tầm mắt, thay đổi nếp
suy nghĩ chật hẹp của người đàn bà dưới chế độ phụ quyền nghiêm
ngặt. Mùi nước hoa Marie Antoinette, mỹ phẩm trang điểm phương
Tây, những kiểu may mặc Âu Á cải biên, phong cách giao tiếp cởi
mở và tự nhiên của người phụ nữ... đã biến Ba Gấm thành người
phụ nữ có sức mạnh gợi cảm kín đáo. Nếp xã giao thoáng đạt, tự
nhiên nhưng cũng đầy trí tuệ cuả Ba gấm gây ấn tượng sâu sắc
nhất đối với các nhà quyền quý, đầy thế lực ở kinh thành. Quyền
lực của một người đàn bà thường dồn tụ ở một trong ba mặt: Sắc
đẹp chín muồi, quý phái qua nghệ thuật trang điểm; sự thông
minh, bén nhạy qua sinh hoạt giao thiệp; và tài tổ chức đời sống
qua khả năng kinh doanh. Ba gấm có luôn cả ba mặt đó trong cùng
đời sống hàng ngày.
Quan Chánh Chưởng chỉ còn là bóng mờ khi tiếng tăm
Ba Gấm trỗi lên được bao người hâm mộ và giá trị tuyệt hảo của
hàng hóa Ba Gấm ngự trị khắp nơi. Và có vẻ như quan cũng chỉ
mong bậc thang của đời mình đến được như vậy là tột đỉnh của
danh vọng. Niềm hãnh diện lớn nhất của quan là đi đâu có Ba Gấm
bên cạnh để được người đời giới thiệu là quan Chánh Chưởng phu
nhân.
Khi người đàn bà vượt cao quá tầm người đàn ông
trong gia đình, sự yếu đuối cảm xúc và nhu cầu vuốt ve mơn trớn
của người đàn bà cần đến bàn tay rắn rỏi của người đàn ông nhạt
dần. Cho đến một lúc nào đó thì vai trò quan hệ vợ chồng
cổ điển bị thay đổi. Hình bóng người đàn bà không
còn là hình ảnh nhành hoa lã ngọn dưới bàn tay âu yếm của
chồng. Chồng không còn là sức mạnh ngự trị cả trong tâm hồn lẫn
thể xác trên người vợ. Quan hệ hoa bướm thể xác nam nữ lắng
xuống cho đến khi một trong hai người hay cả hai người nhận rõ
ra rằng, vợ chồng sống với nhau vì "nghĩa". Đó là khi cuộc tình
chấm dứt. Vợ chồng thành hai người lính gác một viện bảo tàng
kỷ niệm. Một gia tài kỷ niệm, có khi thực tế trống trơn vì bóng
kỷ niệm chỉ hiện lên khi có ánh sáng ân tình.
Để tránh sự chung đụng xác thịt mỗi ngày một hiếm
hoi và miễn cưỡng, Ba Gấm phải nài ép quan Chánh Chưởng cưới
người hầu thiếp thứ năm. Cặp vợ chồng hãnh diện và hạnh phúc đi
bên nhau trước mắt mọi người có khi chỉ là hai cái bóng. Mặt
trời và hai con người thật của họ đã lặn từ phía bên kia đồi
thời gian.
***
Ba Gấm cười buồn. Tiếng nói rơi vào lặng lẽ:
- Còn lại một nửa đời sau đối với em có lẽ quá dài
để sống.
Nâng bình trà Nghi Hưng rót đầy hai tách trà trước
mặt, Trí Hải góp lời:
- Nửa ly đầy, nửa ly cạn. Cũng chỉ là nửa ly nước
mà người nầy cho là "còn đầy nửa ly", kẻ khác lại cho là "cạn
hết nửa ly"! Nửa đời sau quá dài hay nửa đời sau quá ngắn; đầy
hay cạn, ngắn hay dài cũng chỉ là những ý nghĩ chủ quan có gì
quan trọng đâu. Quan trọng là hiện tại mình có đang sống thực
hay không. Quên hiện tại thì sống cũng như chết. Nếu cứ kéo dài
cái chết trong cái sống thì thêm nửa đời sau dài ngắn cũng bằng
không.
Trí Hải trầm ngâm như đang đọc lại những trang sách
của mình.
Không có tiếng trả lời của Ba Gấm. Trí Hải nhìn
những tàng cây xanh. Hai người đều bình thản quá.
Thực tại, trái với những ngày qua, chỉ cần hình dung
lại chút hình ảnh của Ba Gấm thoáng qua trong đêm cầm chầu là
Trí Hải đã cảm thấy đầu mình rộn lên với bao ý nghĩ đầy mơ mộng,
xen lẫn với cảm giác rạo rực, ấm áp. Nhưng bây giờ đối mặt, gặp
nhau riêng tư trong khung cảnh hữu tình cây lá mơ phai của mùa
Thu, cả hai lại ngỡ ngàng im lặng. Ba Gấm đã để ra hơn nửa ngày
kể chuyện đời mình. Trí Hải lắng nghe, nhấm từng lời nói, hình
dung từng hình ảnh, nghĩ về từng sự cố. Cả hai vẫn lặng yên.
Lời nói xa xôi là những luồng gió nhẹ. Thường giữa cơn cuồng
phong là tâm bão. Không có một chút gió. Tình cảm lọt vào
vùng tâm bão là sự lặng yên, như vô tình. Vẻ vô tình nằm chính
giữa trục quay của những cơn gió cuốn ghê hồn đang lay đổ ngoài
kia.
Hơn nửa ngày gặp nhau. Trời đã tối. Ba Gấm ra về.
Hai người chào tạm biệt nhau, nét mĩm cười nói nhiều hơn tiếng
nói.
Chỉ khi hai dòng sông tách nhau, mỗi bên mới nhìn ra
được con nước ròng hay con nước lớn và hướng chảy trong lòng
nước của mình.
Dòng suy tư của Trí Hải như trái cây vừa chín. Vàng
hươm, mọng nước, nhưng mất sự tươi tắn bén nhạy bình thường.
Tất cả còn lại là nỗi nhớ. Cái nhớ leo dần. Nhè nhẹ đi từ cảm
xúc mơn man được gặp một người lạ mà rất quen. Cảm xúc cao hơn
chút nữa là tâm tình, chia sẻ. Cuộc sống vốn lạnh lùng với những
hình thức giao tiếp hời hợt, có vẻ như gần gũi mà vẫn xa lạ
ngoài nhau, nay có hai người đi vào thế giới của nhau không gài
then cửa. Cảm giác được tiếp nhận, thuộc về nhau nhen lên ngọn
lửa ấm áp, gần gũi. Tuồng như phía bên kia là một phần thân thể
của chính mình. Khi một phần thân thể mất đi, có một sự réo
gọi, kêu đòi vô hình lặng yên nhưng hết sức thường xuyên và mãnh
liệt. Ăn, uống, ngủ, làm ... vẫn không một nháy mắt quên đi phần
thân thể tách lìa cần khép lại. Trí Hải cảm thấy yếu đuối.
Người ta có thể đánh thắng con quái vật hiện hình, nhưng khó
nhất là làm sao chế ngự được nỗi khát khao đang réo gọi từ bên
trong.
Một người ái mộ mình và cũng là người mình ái mộ.
Một người trải lòng ra với mình và mình cũng tự nguyện trải lòng
ra để đón. Không có hàng rào chắn nào dựng lên giữa hai người.
Nỗi nhớ là tên phù thủy tai quái nhất của tình cảm. Nỗi nhớ
nhân thành hai, thành bốn, thành mười sáu... và cứ thế nhân lên
cho đến một lúc nào đó hai kẻ cùng nhớ nối liền cảm xúc, chung
một dòng sông, hòa quyện với nhau. Không còn thiếu một ngày, cô
nữ hầu tâm phúc, nhưng lại mù chữ Hán, chữ Nôm của Ba Gấm mang
đi và mang về liên tục những tờ thư viết và gởi từ cả hai phía.
Ngôn ngữ "nói với người kia" thu dần khoảng cách để nói với
chính mình. Gọi mình: "Mình ơi!" Đó là tiếng gọi chân tâm tình
cảm của hai người cùng lạc loài giữa mênh mông tìm nhau, tìm về
nhau, tìm đến nhau và tìm lại khát vọng của chính mình.
Một lần, Ba Gấm hỏi Trí Hải trong thư đi:
"Huynh ơi! Thế nào gọi là thương"?
Và thư lại:
"Thương là khi hai người cùng về một phía."
"Và cùng nhìn về một phía?"
"Không! Nhìn mọi phía mà chẳng có phía nào để nhìn
cả."
"Thế thì nhìn vào đâu?"
"Không nhìn vào đâu cả!"
"Vậy thì thương là mù?"
"Mù hay sáng là cách nói của những người đứng ngoài
để phê phán. Khi thương thật tình thì không còn phê phán. Phê
phán là một cách dò hỏi tìm đường để cho hay giữ lại tình
thương. Mẹ thương con không dò hỏi hay phê phán mà tình thương
như suối nguồn trút xuống. Bạn bè thương nhau không tính toán
hơn thiệt; không đong đếm cân đo. Người đàn ông, đàn bà thương
nhau là đi vào đời nhau như hai dòng nước gặp nhau; trong hay
đục, ấm hay lạnh đều hoà tan vào nhau mà không còn biên giới."
"Nhưng vẫn có thương mà hận, thương mà buồn, thương
mà vẫn gian dối, thương mà không gần nhau được thì sao?"
"Đó chưa phải là tình thương đích thực mà chỉ là một
khuynh hướng của tình thương hay chỉ là một mảng ngọt ngào của
tình cảm đem cho và sẵn sàng lấy lại."
"Huynh và em có thương nhau thật không?"
"Có!"
"Nghĩa là huynh sẽ không bao giờ lấy lại?"
"Thôi! Thua. Không trả lời được."
"Hì! Hì..."
Cô nữ hầu của Ba Gấm chỉ thấy nụ cười vui trên khuôn
mặt thường đăm chiêu của Trí Hải.
Rồi một ngày vắng thư. Trí Hải băn khoăn. Lo cho
mình thì ít mà lo cho Ba Gấm thì nhiều. Cô ấy buồn? Cô ấy giận?
Cô ấy không khỏe hay cô ấy gặp chuyện bất thường. Nhiều khi Trí
Hải bất mãn với chính mình, tự đay nghiến sự yếu đuối của mình,
nhạo báng cảm xúc ngây ngô của chàng trai mới lớn nơi mình vì
đầu óc thường xuyên nghĩ về Ba Gấm. Bao nhiêu kiến thức sách vở
chẳng giúp ích gì được cho cố gắng tuyệt vọng một cách êm đềm để
tìm ra một vài khoảng trống nhỏ cho riêng mình. Ba Gấm có mặt
khắp nơi. Mở sách Chu Dịch luận về càn khôn, âm dương ngũ hành
sinh khắc, cũng thấy Ba Gấm hiện hữu nơi đó. Ba Gấm là càn khôn,
là vẻ đẹp tuyệt vời mà tạo hóa đã sinh ra. Mở những tác phẩm
mình đã viết và đã từng tha thiết, tiếc nuối đến quặn mình vì cứ
ngỡ là đã bị thiêu hủy theo vụ án "văn chương phản nghịch", may
nhờ Ba Gấm sao chép lại, Trí Hải cũng không tài nào thoát khỏi
sự ám ảnh của Ba Gấm. Nghĩ đến bàn tay thoăn thoắt ghi lại từng
trang sách, không quan tâm tiền rừng bạc bể trước mắt để chép
lại từ những trang tốc ký trong suốt ba năm, Ba Gấm càng có mặt
gần gũi với Trí Hải hơn bao giờ hết. Trí Hải nhìn vào khoảng
không, nét chữ cuồng thảo của Ba Gấm lại bay lượn như bướm hoa
trưóc mắt. Trí Hải nhắm mắt, mùi nưóc hoa Antoinette và tiếng
cười trong, diễn cảm lạ lùng của Ba Gấm lại đến. Cố tìm một
điểm tựa cuối cùng mà Trí Hải đặt ở tầm cao và chỉ khi nào quan
thiết nhất mới dùng đến. Đó là sự tĩnh tâm, dưỡng trí, định
thần mà nguời tu theo đạo Phật gọi là thiền định. Ngồi xếp bàn
an tịnh trong vài ba phút, vọng tưởng về Ba Gấm lại khởi lên.
Trí Hải cố tưởng tượng tập trung về một tiếng chim Anh Lạc,
giọng nói hồn nhiên ríu rít như chim của Ba Gấm lại về. Cố gạn
hết bụi bặm của suy tư để mong tìm sự rỗng lặng, đầu óc Trí Hải
lại lang thang với những câu hỏi mang nhiều ý nghĩa riêng và tư
chưa được trả lời trọn vẹn của Ba Gấm.
Trí Hải tự hỏi: "Tại sao ta không thắng được mình;
tại sao ta không thể làm chủ chính mình để cho một hình ảnh và
cảm xúc đến hay đi vào hồn ta như đi vào gian nhà trống thế
kia?" Trí Hải nhớ và suy nghĩ đến hai chữ "dính mắc" của thầy
Tiều: "Dính mắc vì lòng ta không có then gài cửa khóa hay vì
cánh cửa trống đón nhận mở toang?" Nhớ lại mình đã từng thao
luyện và thành công về cái "trí không" trong cuộc đối đáp với Lê
Trung Ẩn và nhóm sỹ phu Bắc Hà, Trí Hải lần theo thời gian và
càng nhớ rõ hơn là mình đã từng có cái trí không dính mắc để tạo
ra được những thế cờ muôn phương đánh bại Hàn Kỳ Vương. Thế
nhưng tại sao bây giờ lòng Trí Hải lại bấn loạn giữa cuộc tương
giao với Ba Gấm. Càng cố thoát ra, càng bị dính chặt. "Ta không
còn là ta của ta thuở ấy nữa sao...?" Trí Hải thất vọng với
chính mình và tự hỏi tiếp.
Ngày thứ ba vắng tin, Trí Hải bồn chồn chờ đợi. Cô
nữ hầu của Ba Gấm mang tin đến. Thư viết:
"Huynh ạ. Em sợ. Em cố ngoi lên cho thoát khỏi nỗi
nhớ quay quắt nầy, nhưng em đã thua và đang bị nỗi nhớ đó đánh
bại. Em hiểu là huynh cũng chẳng hơn gì em. Em đợi huynh. Cùng
giờ, chỗ cũ..."
Trí Hải thoáng ưu tư. Sự dính mắc sâu đến mức khó gỡ
ra được như nhận xét của thầy Tiều qua tiếng trống chầu sẽ đi về
đâu.
Ba Gấm và Trí Hải như sợi dây đàn và cần gảy của một
cây độc huyền cầm. Phương tiện cần để cho cây đàn bầu đơn giản
đã có sẵn. Chỉ cần một ngón đàn điêu luyện là sợi dây đàn và
cần gảy đơn độc kia sẽ ngân lên tiếng đàn muôn điệu.
Hai người lại quấn quýt tìm nhau.
Tri thức, địa vị, hoàn cảnh, tiếng tăm xã hội là
phương tiện tốt để cho người ta biết nhau, nhưng đó là chướng
ngại xấu để cho người ta gần nhau. Biết nhau để tò mò, so sánh,
nhờ cậy... thì dễ. Biết nhau để mà thành thật gần gũi nhau đã
khó. Gần nhau để làm bạn lại càng khó hơn.
Có lần, Ba Gấm hỏi Trí Hải:
- Huynh ơi! Chúng ta biết nhau bao lâu rồi và thời
gian có phải là thước đo chính xác sự gắn bó tình cảm giữa hai
người không?
- Giữa chiều cao của trời đất, chiều rộng của sông
hồ, chiều dài của đất nước còn có một chiều đáng nói nữa mà mọi
người thường quên, đó là chiều sâu của thử thách hay độ bền của
thời gian.
- Hì. Hì! Dạ thưa... trật!
- Tại sao?
-
Trong tình cảm thì không những chỉ có bốn chiều huynh vừa nói mà
có rất nhiều chiều. Đặc biệt trong tình yêu nam nữ thì lại có
thể có vô số chiều.
- Vô
số là bao nhiêu, là những chiều nào?
- Vô
số là vô số. Không đếm được và cũng không kể tên hết được. Có
bao nhiêu cảm xúc, bao nhiêu rung động, bao nhiêu đổi thay...
thì có bấy nhiêu chiều tương xứng. Nếu huynh muốn đếm, muốn gọi
tên thì trước hết phải biết tình yêu là gì trước đã.
- Thế thì theo Ba Gấm, tình yêu là gì?
Ba Gấm trả lời như đã thuộc lòng trơn tru:
- Yêu là sự độc chiếm tình bạn theo một cách riêng
mà chỉ có hai người trong cuộc mới hiểu. Huynh còn nhớ? Sách
huynh viết vậy và em đọc theo giống vậy, dù đó là một định nghĩa
hơi mơ hồ và khó hiểu.
- Ba Gấm có định nghĩa khác không?
- Dạ,ï có chứ!
- Yêu
là...?
- Là có nhau, trong nhau, một lần và mãi mãi.
- Vì sao phải trong nhau?
- Trong nhau vì biết hy sinh và thương quý nhau.
Không hy sinh và thương quý thì vẫn còn đứng bên ngoài nhau mà
phán xét. Hai kẻ đối mặt nhau để mà phê phán thì làm sao chấp
nhận nhau để mà thương yêu nhau, phải thế không huynh?
Ba Gấm và Trí Hải mỗi ngày càng cảm thấy gần nhau
hơn. Trí Hải đã từng sống đời vợ chồng, nhưng người đàn bà chỉ
là người vợ, chưa phải là người tình. Khá lắm thì cũng chỉ là
đi song song chứ chưa bao giờ thật sự ở trong nhau. Ngưòi vợ
truyền thống là người em để phục tòng, người chị để chăm sóc,
người mẹ để an ủi bao dung, người đàn bà để làm tình và sinh đẻ.
Vợ chồng là để thương nhau chứ không phải để yêu nhau; để chăm
sóc và lo lắng cho nhau như một người vợ, người chồng chứ không
phải để chia sẻ, mơ mộng, nhớ nhung, xao xuyến, tình tự, lãng
mạn như một người tình. Vợ chồng cưới nhau rồi là giống như sắm
một cỗ xe song mã. Cô dâu và chú rễ trở thành hai con ngựa ngoãn
ngoãn và miệt mài cùng cong lưng kéo cổ xe gia đình nặng trĩu
cho đến ngày cả hai cùng răng long đầu bạc, con cháu đầy đàn.
Hầu hết những cặp vợ chồng Việt xưa có tất cả, biết tất cả, trừ
chất vị tuyệt vời sóng sánh của tình yêu.
Tình yêu tự nó là một nghệ thuật, nghệ thuật đòi hỏi
sự sáng tạo và tô điểm thường xuyên như những đóa hoa tươi vẫn
nở mỗi ngày. Tình yêu cũng là sự ngạc nhiên khám phá. Khám phá
ra nét phù du, niềm cảm xúc ẩn chứa trong mỗi con người. Khám
phá ra sự bùng vỡ mong manh của thể xác để đập vỡ biên cương của
thể xác cho hai thế giới đam mê cùng tan loãng và hoà quyện với
nhau.
Ba Gấm khám phá thế giới tri thức và tâm hồn của Trí
Hải từ hơn mười năm trước qua những tác phẩm văn chương mà chàng
hoàng thân một thời tuổi trẻ đã viết. Trí Hải khám phá Ba Gấm
qua giấc mơ dài hơn nửa đời. Giấc mơ của những mối tình vương
giả từ trăng và thơ, từ những chuyện tình trong cổ sử, từ bóng
dáng tình tự lãng mạn trong đời sống Paris và cung điện
Versailles. Gặp nhau, không phải tình cờ mà cũng chẳng phải
định số. Đấy là sự đợi chờ của một viên ngọc quý nằm ẩn trong
tim. Viên ngọckhông tên, không hình dáng, trong suốt như chẳng
có gì. Nhưng khi có luồng sáng đợi chờ dọi đến, viên ngọc sẽ
ánh lên nghìn hào quang. Tia hào quang mắt thường của nhân gian
không thấy, nhưng hai người yêu nhau bỗng thấy chói lòa và tan
biến trong nhau. Từ đó, kẻ có tình yêu nhìn trăng không phải là
trăng; nhìn mây không phải là mây... vì tất cả đều đã đổi khác.
Cả hai cùng cười trong khổ đau, cùng khóc trong sung sướng, cùng
quằn quại trong nỗi đam mê cùng tột mà kẻ đứng ngoài thấy không
đáng ba xu.
Trong tình trường, người đàn bà bao giờ cũng hơn
người đàn ông nửa bước vì người đàn ông xuất thân là gã lãng du
mà người đàn bà xuất thân là mẹ.
Ba Gấm báo tin:
- Huynh ạ. Em sắp đi xa. Em sẽ đi thuyền tới Quảng
Châu, rồi từ đó đi đường bộ lên Hàng Châu. Tất cả hàng vải vóc
băng qua Con Đường Tơ Lụa xuyên lục địa và sa mạc sẽ đổ đến Hàng
Châu.
Trí Hải ngạc nhiên:
- Làm chủ kinh doanh lớn như Ba Gấm mà cũng phải
trực tiếp cất công đi nhận hàng sao?
- Người mình rất thiện xảo về tài đánh giặc du kích
hay tinh xảo trong cách lách mình để sống, nhưng trong thương
mãi chỉ giỏi về tiểu xảo. Nếu em không trực tiếp tự tay mình
chọn mặt hàng rất nghệ thuật, độc đáo và tự tay bấm nhãn hiệu
"Ba Gấm" thì có lẽ đã có nhiều hiệu Ba Gấm giả mọc lên khắp nơi
rồi.
- Muội phải hết sức vất vả để kiếm cho nhiều tiền
sao?
- Dạ không hẳn vậy, nhưng nghệ thuật sống khó lắm.
Ông vua có quá nhiều quyền lực nhưng phải biết giữ quyền lực. Em
đã có quá nhiều tiền nhưng phải biết giữ thế làm tiền. Cũng như
huynh có quá nhiều kiến thức nhưng cũng phải biết dùng kiến
thức. Vua vụng sẽ bị cướp ngôi. Kinh doanh như em không khéo
cạnh tranh sẽ dễ dàng sạt nghiệp. Hiểu biết như huynh không
biết dùng sẽ thành người ảo tưởng, nói suông.
Trí Hải mỉm cười, nhìn sâu vào đôi mắt đẹp vẻ man
mác buồn của Ba Gấm:
- Cám ơn muội đã nhắc nhở. Tôi vẫn sợ nhất là thành
người ảo tưởng, nói suông.
Ba Gấm cười rất xinh làm át đi chút mây mờ vừa
thoáng qua với Trí Hải:
- Đừng nghĩ vậy, huynh. Trí Hải là một nghệ sĩ tài
hoa. Nghệ sĩ không làm cho trái mau chín, lá mau vàng nhưng làm
cho cuộc đời nầy đẹp hơn và con người thánh thiện hơn.
Gió xào xạc trút lá trên mái căn nhà kiếng. Lá
xanh, lá đỏ, lá vàng, lá khô lay lắt với gió giữa hoàng hôn làm
cho khung cảnh buồn và lãng mạn. Vẻ cô tịch nên thơ dễ làm cho
những tâm hồn đang miên man trong tình cảm chưa biết sẽ về đâu
gần nhau hơn. Ba Gấm ngỏ ý:
- Em muốn được kính mời huynh uống trà và ăn bánh
nguyệt quế trong dịp Trung Thu nầy. Chỉ còn ba hôm nữa là đến
rằm tháng Tám.
Trí Hải tỏ vẻ hơi ngần ngại:
- Dạ tiệc Trung Thu ở dinh quan Chánh Chưởng?
- Dạ không. Chỉ có em và nửa vầng trăng trong đêm
Trung Thu từ ngày em mới lớn.
- Còn nửa vầng trăng kia?
- Chưa mọc huynh ơi!
- Vì trăng non?
- Dạ không. Trăng đúng độ nhưng em vẫn để dành một
nửa...
- Dành cho ai?
- Cho tình cờ, cho số phận, cho định mệnh... Ơ! mà
em cũng không biết dành cho ai nữa.
Gió ngoài kia mà Trí Hải có cảm tưởng như gió lạnh
đang thổi vào tai của mình. Cảm giác ngây ngây lay đổ làm Trí
Hải cảm thấy yếu đuối. Ý nghĩ âm thầm, "có chăng ta là nửa vầng
trăng kia?" khiến Trí Hải lo âu trong hạnh phúc. Cửa thiên đường
và địa ngục vừa hé. Cả hai cùng một lối vào mà chỉ khác nhau về
ngã rẽ. Trí Hải hình dung hai cái bóng từ cõi sống vừa đi vào
cửa nhà trời. Mất hút.
***
Trăng trên sông là trăng sáng nhất vì trăng ngời
bóng nước. Trên chiếc đò chỉ có hai người. Đêm thượng nguồn
sông Hương ẩn hiện trong khói sương kỳ bí. Xa về phía Tây, có
trái đồi hình dáng như chén ngọc chứa đầy sương trăng là đồi
Vọng Cảnh. Chuyện truyền kỳ kể lại, xưa khi chưa có bóng người
thì nơi đó chỉ có dấu chân tiên. Cuộc tranh thắng giữa người và
tiên nhập nhằng cả mấy trăm năm. Người thắng, người về trần;
tiên thua, tiên cỡi chim phượng hoàng bay về núi Kim Phụng. Từ
đó, đồi Vọng Cảnh trở thành Đồi Thiêng nên chẳng ai dám đến. Lâu
ngày, những cơn mưa nguồn cuốn sạch những bàn cờ tiên trên vách
đá, mé sườn Đông. Đồi Vọng Cảnh thành hoang phế. Nghìn năm sau,
chỉ còn cỏ tranh lơ thơ trên đất sỏi.
Giữa lòng chiếc đò dọc có mui che, bàn trà bày sẵn
bên ngoài, dưới ánh trăng dịu mát. Tiếng ấm nước sôi vi vo trên
lò than thoảng mùi hương rất lạ làm cho vầng trăng có vẻ xuống
thấp hơn để ánh trăng cùng chan hòa với nước. Sông vẫn trôi mãi
về xuôi. Ba Gấm chèo đò thong thả ra giữa sông. Trí Hải ngồi
trong mui đò nhìn về phía lái. Ba Gấm trong bộ quần áo màu đen
bó sát. Thân hình đang độ chín tới của người đàn bà một con vừa
thon thả, vừa cân đối một cách đầy đặn, uốn lượn với mái chèo
dưới trăng thật khoan thai và linh động. Vì chỉ là người chèo
đò giải trí trên sông nên từ thế đứng đến thế chèo của Ba Gấm
đều để lộ ra vẻ lúng túng như thể đang mời gọi người khác đến
tiếp tay một cách đầy lôi cuốn. Người đàn ông vẫn thích ngắm vẻ
đẹp của người đàn bà từ một góc khuất hơn là khi mặt đối mặt
nhìn nhau. Đến giữa dòng sông, đò gác mái. Đò, sông, trăng và
người... cũng lặng lờ trôi theo nước.
Đêm càng khuya, trăng càng sáng. Cái lạnh giữa mùa
Thu trên sông làm cho trăng và nước như ấp ủ nhau khiến hai
người đơn độc xích lại gần nhau, thu dần khoảng cách. Hơi ấm
trên vai, hơi ấm trên tay tan loãng rất nhanh. Ba Gấm rùng mình
kéo tấm chăn gấm khoác lên vai Trí Hải cho đỡ lạnh. Trí Hải cố
thu mình nhỏ lại để chia nửa tấm chăn cho Ba Gấm. Nhưng tấm
chăn quá nhỏ, không đủ che vai cho cả hai người. Gió khuya về
trên sông. Đò chòng chành. Cái lạnh kéo hai người sát nhau. Khi
hơi ấm trở thành nguồn sống, da thịt sẽ tê đi để chỉ còn hơi
ấm. Vai sát vai không còn khoảng cách. Họ ngồi như thế rất
lâu. Im lặng. Xúc cảm đê mê, cuốn hút chuyền nhau qua đôi vai
sát cánh.
Chiếc đò không người lái, theo chiều gió trôi dạt
vào bờ lau lách hoang vu ven sông. Tiếng vỗ cánh thảng thốt của
bầy cò ăn đêm từ rừng lau sậy làm kinh động bầu không khí tĩnh
lặng hoang sơ. Cánh trắng lấp loáng mầu trăng tung lên giữa
không gian và xa dần về phía núi. Âm thanh xao xác của đàn cò
cánh dài vẫy nước tạo ra một cơn mưa trăng rây nước xuống đò.
Trí Hải và Ba Gấm dìu nhau cùng nhảy vào mui đò khép kín để
tránh mưa. Cơn mưa nhỏ qua nhanh như hơi thở nhưng cũng đủ mạnh
để bật lên tia lửa đam mê cháy bỏng của cuộc tình.
Khi những cảm giác sâu lắng nhất của nhục thể đã
bừng bừng trổi dậy trong một cuộc tình đắm đuối và đam mê, hai
con người bỗng khám phá ra nhau. Người nầy biết được mình có một
sự hiện hữu khác bằng sự dấn thân tự nguyện hết mình cho và nhận
với người bên kia. Hai người là hai nửa thân xác chia lìa từ
khi mới sinh ra tìm nhau hòa làm một. Quằn quại, bức phá, đau
đớn và hoan lạc cùng mất hết biên giới để tan biến trong nhau.
Nguồn tinh lực của hai bên đều vươn tới đỉnh điểm để phóng vào
trận lửa của khát vọng. Một giấc ngủ đắm say, một giấc mơ kỳ
diệu hòa quyện với nhau trong suối nguồn của hạnh phúc. Ba Gấm
và Trí Hải đã mất hết ý niệm về thời gian và không gian. Một
thoáng mắt sẽ dài như trăm năm và một mảnh da thịt cuồng say
hơn bão tố. Cả hai cùng ngấu nghiến nhai trái cấm trong mê đắm,
trong đêm dài. Tất cả dồn tụ vào cảm giác say sưa, thỏa mãn, rã
rời, buông thả cho một giấc ngủ vùi tưởng như không bao giờ còn
dậy nữa.
Trăng lặn. Mảnh sáng đầu tiên trên sông là đèn
chài. Hai thân xác cùng thức giấc tìm nhau, tìm nguồn khơi động
sự đam mê đang chực chờ nằm sẵn trong mỗi con người. Lửa tình
lại cháy. Hai thể xác quấn lấy nhau và cơn mưa tình dồn tụ bao
nhiêu năm lại ào ào trút xuống.
Nhưng nửa mùa Thu sau thương tiếc vẫn về. Đêm hưởng
trăng Trung Thu hết. Bình minh lên và chia tay.
Tình dục là con sói hoang dại của tâm lý chiếm hữu.
Khao khát tình dục là cơn đói thường xuyên của cảm xúc trong một
thể xác bình thường. Khi không có đối tượng lôi cuốn, cơn đói
lắng xuống và âm thầm tràn vào các ngõ ngách của thân thể, của ý
thức và vô thức như bầy sói phải chui vào các hang động để trốn
tuyết mùa Đông. Khi mùa Xuân tới, nắng ấm tràn đầy như khi gặp
đối tượng cuốn hút, bầy sói lại hau háu dùng mọi xảo thuật khôn
khéo nhất để vồ mồi. Lại ăn no hả hê, nằm ngủ, đi loanh quanh
kiếm mồi chờ cơn đói khác tiếp theo.
Sinh vật sống với bản năng thuần túy, tình dục diễn
ra bình thường như đói thì ăn, khát thì uống. Tình dục là một
thú tính. Con người là một sinh vật nhân văn nên tình dục
thường biến tướng và biểu hiện dưới muôn ngàn thể cách. Nhờ đa
dạng như vậy mà con người có thể "làm tình" bằng sự lựa chọn.
Sự lựa chọn gần với thú tính tại các nhà thổ. Sự chọn lựa gần
với nhân tính tại các nhà ở. Và sự lựa chọn "tình là đạo" tại
các nhà tu. Nỗi đam mê tình dục là sự ám ảnh thường xuyên, là
động cơ thường trực thôi thúc của vật và người. Thú tính và
nhân tính là hai mặt không lìa nhau trong cùng một con người
bình thường. Khi tình dục chỉ là sự thèm khát xác thịt mà vắng
bóng tình yêu thì đi gần với thú tính. Nếu tình dục là kết quả
của tình yêu thì đi gần với nhân tính.
Qua những tháng ngày cuồng nhiệt với sự chín muồi
của tình yêu và nỗi đam mê tình dục, cái nhân tính trong Trí Hải
bắt đầu máy động. Sau mỗi trận bão tình, Ba Gấm thường nằm ngủ
ngon lành với khuôn mặt tươi hồng lấm tấm mồ hôi và vẻ thỏa mãn
hiện lên trên nét mặt, dáng nằm như trẻ thơ. Trí Hải mắt ráo
hoảnh, nhìn vào khoảng không trên trần nhà và tự hỏi: "Ta là ai
bây giờ? Một người tình, một người chồng, một người đàn ông, một
nhà quý tộc, một kẻ đi tìm nghĩa sống lạc đường, một gã lấy vợ
người khác, một tên bất lương... hay ta là ai, là ai nữa?" Cuộc
tình với Ba Gấm càng sâu đậm, những câu hỏi càng lớn dần. Thảng
thốt.
Khi cả Trí Hải và Ba Gấm hiểu nghĩa của tình yêu,
nếm trải qua đỉnh điểm lạc thú của tình yêu thì những xao động
nhất thời từ từ tĩnh lại. Từ trên đỉnh cao của sự lắng đọng, cả
hai phóng tầm nhìn thật xa về mình, về nhau, về những gì đang
vây quanh. Cái tĩnh lặng của viên chủ tướng vừa thắng trận trong
đêm viễn chinh thường trống trãi một cách bất ngờ. Khi dỉnh núi
cao nhất đã phơi dưới chân; khi vùng đất xa nhất đã nằm trong
doanh trại, đoàn thám hiểm sẽ múa hát quay cuồng trong giây lát
rồi cũng phải đối diện với cái trống vắng của Vô Cùng. Lắm khi,
chiến thắng cũng là tro tàn của hy vọng, nếu chỉ chiến thắng
thân xác và khối óc nhưng cái hồn vẫn còn vô định, lang thang...
Thân xác và tâm trí dồn tụ vào cuộc tình, Trí Hải
sống như cái bóng mơ hồ trong một góc còn ở được của tòa lâu đài
gần như đổ nát. Một cuộc tình, dù kín đáo và khéo léo tới đâu
thì cũng là một sự hiện hữu nóng bỏng dưới ánh mặt trời. Hai
người yêu nhau có thể dấu được tất cả, nhưng làm sao dấu được
chính mình. Niềm hạnh phúc tươi mới thuở ban đầu lắng xuống
trong ly nước trong của sự suy nghĩ sẽ trở thành nỗi trăn trở.
Từng hạt mưa lấm tấm rơi xuống cuộc tình oan trái mỗi ngày một
nặng hạt hơn. Trí Hải phải đối diện với tấm gương soi bóng
chính mình. Tấm gương soi bóng đầu tiên là vẻ buồn lặng lẽ của
Phạm Xảo. Viên tướng già như voi trận đã từng xông pha ngoài
trận mạc không bao giờ chấp nhận thần tượng hay vị thống soái
chỉ huy mình sa đọa và hèn nhát. Từ ngày đầu dấn thân vào cuộc
tình với Ba Gấm, Trí Hải đã thấy được tia nhìn trách móc, tuy
nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc của Phạm Xảo hướng về mình. Tia nhìn
càng ngày càng dữ dội. Nếp sống im lặng trong êm đềm và thông
cảm giữa hai người như đang rộn lên với tiếng gào câm nín của
Phạm Xảo. Trí Hải cảm thấy đau nhói mỗi lần bắt gặp đôi mắt đăm
chiêu và đôi môi mím chặt đầy nghiêm khắc của Phạm Xảo khi người
đóng vai lão bộc mềm nhũn ngày xưa,vẫn hàng ngày pha trà, nấu
cơm cho mình đang có cái nhìn đổi khác.
Mỗi đêm trước giờ đi ngủ, Trí Hải không bao giờ bỏ
quên thú đọc sách. Bậc trí giả đọc sách là chuyện trò và chia
sẻ. Độc giả bình thường đọc sách là thu nhận và lắng nghe. Bởi
vậy người cầm bút như kẻ cầm kiếm. Thiếu tri thức, vắng chân tâm
xách bút làm kiếm chém bậy chém càn thì không khác gì tên tội đồ
bạo hành nơi công cộng. Đêm nay, Trí Hải đọc hoài mà thần trí
cứ khơi vơi, không thể nào hòa nhập vào câu chuyện chữ nghĩa
đang bày ra trước mắt. Hình ảnh quyến rũ của Ba Gấm, nổi bật với
chất keo mềm mại trên thân thể, đường cong thu hút, hơi ấm êm ả,
mùi da thịt nồng nàn, màu mắt môi ẩn dấu đã làm cho Trí Hải chỉ
còn là cái xác đối bóng với sách, thần hồn trí bay tận đâu đâu.
Tác giả cuốn sách không phải là tên bạo hành. Nhưng người đọc
chỉ là ngọn đèn không có bấc nên ánh sáng không biết tựa vào đâu
để soi vào chữ nghĩa. Đã bao đêm như vậy. Trí Hải vứt sách trên
gối, đi ra sân. Bầu trời sao vẫn long lanh thăm thẳm, nhưng Trí
Hải lại có cảm tưởng hàng loạt con sao đang nhảy múa cười nửa
miệng; rúc rích mĩa mai trên đầu mình. Một tâm hồn và trí óc
từng làm chủ vũ trụ, bây giờ đang bị vũ trụ bắt làm con tin
trong khung tình nhỏ bé. Trí Hải ray rứt, ưu tư, phiền muộn và
nôn nóng muốn tháo gỡ cái khung vây bủa lấy mình để bay ra khỏi
lưới tình để trở lại với vũ trụ bao la trên đầu, trước mắt mình,
nhưng mọi khung cửa đều khóa chặt. Ba Gấm có mặt khắp nơi. Chỉ
cần một bàn tay nuột nà vuốt nhẹ của Ba Gấm là Trí Hải đã bủn
rủn chân tay, khuỵu xuống trong trùng vây êm ái của ân tình.
Tình yêu là bùa ngải của cảm xúc; tình dục là phép lạ của ham
muốn. Trí Hải yếu đuối trước tình yêu và bị chinh phục hoàn
toàn bởi tình dục.
Nỗi bức xúc muốn thoát ra khỏi trùng vây của đam mê
không mạnh hơn chính cơn sốt của đam mê. Cuộc chiến đấu giữa
phải và trái, đục và trong, lương tri và khoái lạc, đạo lý và
buông thả càng ngày càng ác liệt hơn trong lòng Trí Hải.
Chàng Thiện trong Trí Hải lên tiếng:
"Nầy ông
Hoàng, yêu đương ngoài vòng luân lý là sai trái. Tư tình với vợ
người khác là trái đạo. Hái trộm một cành hoa có chủ là bất
công với người làm chủ."
Gã Ác trong
Trí Hải phản bác ngay:
"Ai cho phép
tên đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp; trong lúc bó buộc người
đàn bà phải chính chuyên một chồng. Mỗi người chỉ có một cuộc
đời ngắn ngủi để sống, tại sao lại cấm cản khi hai người thật sự
yêu nhau."
Chàng Thiện
cãi lại:
"Con người ta
sống cần phải hợp với đạo lý. Ngoại tình là hành động đồi phong
bại tục."
Gã Ác bác bỏ:
"Cái gọi là
đạo lý chẳng qua là sản phẩm của một xã hội, một giai cấp, một
giống người tự đặt ra để phục vụ cho quyền lợi nhất thời, trước
mắt của mình. Sống lâu với những cách ứng xử nào đó thành thói
quen. Thói quen lâu đời thành phong tục tập quán. Tại sao khi
cần con người lại không có can đảm quăng cái thói quen lâu đời
kia vào hố rác để tự do thỏai mái và thật sự sống cho mình.
Sống nô lệ cho tập quán, dư luận là uổng phí một kiếp người ngắn
ngủi."
Mới chia tay
với Ba Gấm trên chiếc đò neo giữa sông Hương lúc quá nửa đêm,
Trí Hải nằm thức đến sáng vẫn chong mắt không tài nào ngủ được.
Cuộc đối thoại nội tâm dật dờ đẩy tới kéo lui làm Trí Hải muốn
ôm đầu trốn chạy để tìm một giấc ngủ bình yên, nhưng ngựa đã lên
yên khó lòng dừng lại. Trí Hải tìm đến am thầy Tiều lúc trời
chưa sáng. Từ sau hàng dậu bông cẩn cao quá đầu người, Trí Hải
đã vẳng nghe tiếng tụng kinh sớm của thầy Tiều. Tiếng tán, tiếng
tụng ngân nga, phát ra âm đìệu trầm lắng, phảng phất một thoáng
buồn buồn nhưng đầy an lạc. Trí Hải bước nhẹ chân vào trước cửa
ngôi nhà cổ. Thầy Tiều vừa tụng kinh xong, ngồi xếp bàn tĩnh
tọa. Cũng là khung cảnh quen thuộc cũ nhưng sao Trí Hải cảm thấy
xa lạ vô cùng. Tất cả khung cảnh ấy và tiếng kinh kia vẫn điềm
nhiên an trú trong một cõi hư không tịch mịch nào đó mà xác thân
nầy đã thay đổi. Trí Hải có cảm tưởng tay mình đã nhúng chàm.
Nhìn vào bệ thờ, Trí Hải mường tượng như những cuốn kinh, những
bình hoa lạnh lùng quay mặt về nơi khác. Trí Hải tự dưng quay
lưng bước ra khỏi cửa am. Lòng muốnvùng bỏ chạy vì bị ám ảnh
chốn kia thanh sạch quá cho thân xác lấm bụi nầy. Phải trốn.
Phải tránh. Những cơn mê cuồng ham muốn của hai thể xác đã để
lại nhiều dấu tích trên hình hài và tâm não của Trí Hải. Bao
nhiêu vết sẹo của dục vọng chưa liền da giờ thi nhau mở miệng,
rỉ máu. Nhức buốt. Nỗi đau nhức từ cảm xúc dị thường đau réo
hơn là vết cắt trên da thịt. Trí Hải không tài nào giở chân lên
được, ngồi gục xuống. Một bàn tay mát lạnh đặt lên sau gáy. Trí
Hải không quay lên nhưng biết ngay là bàn tay của thầy Tiều:
- Thầy!
Trí Hải thì
thầm nói với thầy Tiều. Tiếng thầy Tiều nhẹ nhàng:
- Vâng, tôi
đây. Mời quý hữu về am dùng trà, ở đây lạnh lắm.
Trí Hải tựa
trên vai thầy Tiều bước về ngôi nhà cổ.
Bình trà nóng
có ai vừa pha sẵn để bên khay trà đặt trên chiếu ngồi. Trong
vùng ánh sáng sớm mai, bên chén trà buổi sớm, Trí Hải ngồi đối
diện với thầy Tiều. Trí Hải đang chờ đợi một thái độ của thầy
Tiều. Nếu không phải là cái nhìn đầy phê phán lẫn xót xa như
Phạm Xảo thì ít ra thầy Tiều cũng có đôi lời trách cứ nhẹ nhàng.
Nhưng đôi mắt thầy vẫn như mặt hồ trong không vướng một bóng
mây. Tất cả chỉ có mặt hồ trong như pha lê và bầu trời xanh
lồng lộng trên cao. Nhìn sâu vào đôi mắt thầy Tiều, Trí Hải mới
hiểu sâu hơn về khái niệm "không dính mắc" mà thầy Tiều thường
nói đến. Ánh mắt thầy đậu trên tất cả mà dường như chẳng đậu
vào đâu. Ý nghĩ thầy dàn trải mọi hiện tượng của cuộc sống mà
chẳng đeo mang nỗi vui buồn của cuộc sống.
Trí Hải gợi ý
trước:
- Lâu nay tôi
vắng mặt thường xuyên nên ít khi gặp thầy. Thầy có thắc mắc là
tôi đi đâu không?
Giọng thầy
Tiều bông đùa dễ dãi:
- Đời người ta
có nhiều lần đi chơi và một lần đi thật. Không đi chơi lỡ một
ngày "đi thật" thì còn đâu nữa mà đi chơi!
- Ý tôi muốn
nói về sự quan hệ của tôi...
- Với Ba Gấm?
- Thầy đã biết
hết mọi chuyện?
Thầy Tiều lắc
đầu:
- Chuyện riêng
của chư quý hữu, tôi biết để làm gì?
Trí Hải hỏi
lại:
- Thưa thầy,
tôi nghĩ thầy cũng cần biết chuyện của những người xung quanh
thầy. Biết để khen cái tốt mà theo đuổi và để chê cái xấu mà bỏ
đi chứ thầy!
Thầy Tiều lại
cười tủm tỉm:
- Căn cứ vào
đâu để biết tốt xấu, hay dở đây?
- Thì đúng với
quy ước xã hội là tốt mà trái với quy ước xã hội là xấu.
- Lỡ như quy
ước xã hội thay đổi nghịch chiều thì sao? Tỷ như ngày xưa ai
theo Tây Sơn là tốt, nhưng ngày nay ai theo Tây Sơn là xấu, là
bị chém bêu đầu thì biết đâu biên giới đúng, sai?
Trí Hải đi
ngay vào đề nói về hoàn cảnh riêng của mình:
- Như trường
hợp tôi đang có tình riêng với Ba Gấm là đúng hay sai?
- Không sai,
không đúng; không đúng, không sai.
- Ô, tại sao
lại kỳ lạ như thế hở thầy?
- Đúng sai
chăng thì cũng chỉ xét tình cảnh trong hiện tại mà thôi.
- Nếu không
xét trong hiện tại, chả lẽ lại xét từ thuở chưa sinh ra hay sau
khi chết đi?!
Thầy Tiều ngồi
trong thế xếp bàn một hồi lâu, rồi thầy lên tiếng. Giọng nói rõ
và chậm của người vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa:
- Đúng vậy quý
hữu à. Trong chuỗi dài ân tình vay trả, trả vay thì chẳng thiếu
một tơ hào mà cũng chẳng thừa một mảy may. Không có gì mất đi mà
cũng chẳng có gì được lại cả. Lấy một giọt nước của biển cả thì
biển cả mất đi một giọt nước. Tác cạn biển Đông thì biển Đông
mất đi một biển nước. Nhưng trong cuộc xoay vần của tạo hóa thì
tất cả là một khối nguyên vẹn. Lấy một hạt bụi nơi này thổi qua
nơi nọ thì nơi nầy sẽ thiếu một hạt bụi và bên kia thừa một hạt
bụi. Chỗ thiếu sẽ tìm sự bù đắp và chỗ thừa sẽ đẩy đi. Tạo hóa
xoay vần, biến dịch nhưng mãi mãi vẫn ở trong một thế quân bình
mà các tôn giáo gọi là Trung Đạo. Số phận, việc làm, cảnh ngộ
của con người cũng biến đổi thường xuyên nhưng không bao giờ ra
khỏi cái thế tuần hoàn quân bình đó của tạo hóa. Quy luật quân
bình đó gọi là nhân quả, là vay trả hay gọi là gì cũng được.
Mọi việc xoay vần tuồng như vô hình vô ảnh nhưng không ai có thể
ra ngoài sự xoay vần đó. Có người gọi luật xoay vần đó là "lưới
trời" là "thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu", có nghĩa là lưới
trời lồng lộng, thưa nhưng không ai lọt ra khỏi.
Ngẫm nghĩ một
lát, Trí Hải hỏi thầy Tiều:
- Thầy có nghĩ
là mọi việc xảy ra đều do duyên tiền định không?
- Tôi không
nghĩ những đìều xa xôi như thế, nhưng tôi tin vũ trụ có một sự
quân bình tuyệt đối. Vòng quay luân hồi; sinh lão bệnh tử... chỉ
là sự chuyển động của vạn vật để tự điều chỉnh cho hợp với quy
luật quân bình đó.
- Như vậy việc
tôi tư tình với Ba Gấm có nằm trong sự chuyển động theo quy luật
quân bình đó không?
- Đó là quy
luật khách quan, không ai tránh khỏi.
- Đã làm theo
quy luật khách quan thì hành động chỉ còn là những tác động qua
lại chứ đâu còn sai hay đúng nữa, phải khônmg thầy?
Trí Hải hỏi,
thầy Tiều giải thích:
- Nếu chỉ đứng
ở vi trí hiện tại thì cuộc tư tình giữa quý hữu và tín nữ Ba Gấm
là một điều sai trái, một hành động tội lỗi. Nhưng nếu đứng
trên đường dây của dòng đời sinh diệt không ngừng từ vô thủy thì
hôm nay cũng chỉ là một bến tạm ghé qua trong chuỗi dài vô tận.
Những ai dính líu trong cuộc tình nầy như hoàng thân, Ba Gấm,
quan Chánh Chưởng và ngay những người trong gia đình của họ hay
kể cả những người gần gũi với quý hữu như Phạm Xảo, như tôi, như
cả xã hội này đều có sự dính dáng, mắc mớ với nhau trong chuỗi
dài của những kiếp sống bất tận đó. Cuộc tính toán nợ nần chi
ly, giây mơ rể má nầy với nhau chẳng mang ý nghĩa đúng, sai,
tốt, xấu gì cả vì tất cả đều phải quay theo cái quy luật quân
bình của tạo hóa.
Trí Hải nắm
hai tay lại, hỏi:
- Như vậy, con
người hoàn toàn bất lực trước quy luật quân bình của tạo hóa
sao?
Thầy Tiều mở
rộng hai tay, trả lời:
- Buông tay
chỉ vì muốn buông tay mà thôi.
- Ý thầy muốn
nói "buông tay" là không chịu chống lại cái quy luật quân bình
đó phải không?
- Thật ra cái
quy luật đó chính là cái bản năng thú tính tự nhiên trong mỗi
con người mà không ai tiêu diệt được cả, vì tiêu diệt bản năng
thú tính tự nhiên đó là đồng nghĩa với tận diệt sự hiện hữu của
con người.
- Lạ quá thầy
ạ. Nếu không diệt dục, diệt tham, diệt sân, diệt si... thì làm
sao thầy tu cho yên.
- Trong đạo
Phật không có gì là tự sinh ra hay tận diệt được cả. Tất cả
xuất hiện dưới hình thức nầy nọ, cao thấp khác nhau chỉ là sự
biến tướng.
- Khi tu, lòng
dục của thầy đã biến tướng như thế nào?
- Hà, hà! Chưa
thấy quan tài chưa đổ lệ. Hình như sinh hoạt ngoài đời người
ta hay nói đùa theo kiểu nầy phải không? À, mà hoàng thân cũng
chỉ quen sống khép mình trong dinh thự và sách vở thì đâu biết
chuyện ngoài đời nhiều. Câu nói đùa đó cũng nói lên được ý
nghĩa của tinh thần tự chứng. Quý hữu đứng ngoài, có lẽ không
hiểu được lòng dục của những người đi tu chuyển hóa như thế nào
đâu. Như bản thân tôi chẳng hạn, tôi cũng có lòng ham muốn dục
tình nam nữ trong lứa tuổi thanh xuân như bao nhiêu người trai
trẻ khác. Lòng ham muốn sôi nổi từ từ dịu lại khi tôi cố tránh
không nghĩ đến nó. Cuộc chiến đấu ban đầu rất mực khó khăn.
Trong hoàn cảnh cô đơn, kham khổ, con người buông thả với chính
mình thường rất dễ tìm một lối thoát dễ dãi. Lối thoát tự nhiên
và đơn giản nhất là nghĩ tới hay hành động dục tình. Cửa thiền
rộng mở khi cửa ngõ tình yêu trai gái và cửa lòng ham muốn dục
tình khép kín. Hai cánh cửa không bao giờ cùng mở hay cùng
đóng. Người có duyên tu thì cửa thiền rộng mở, cửa tình khép
chặt. Người bị nghịch chướng thì hai cánh cửa nầy thường chỉ mở
hé hay khép hờ nên vào cũng khó khăn mà ra cũng vướng vít. Khi
tôi đã xuống tóc, khoác áo nhà tu, thường có một tiếng sấm nổi
lên hàng ngày làm át đi âm thanh du dương quyến rũ của ái tình.
Đấy là tiếng kinh, tiếng vọng từ muôn trùng thánh thiện dấy lên
trong tôi. Tôi tựa vào hải triều âm vi diệu đó mỗi ngày, mỗi
phút. Và có một bức thành chắn cao vời vợi chận đứng tia nhìn,
cảm xúc riêng tư thành cái nhìn, cảm xúc chung. Trước mắt tôi,
chẳng có một đối tượng nào, kể cả gia đình, cha mẹ, anh em,
người tình, người bạn thuộc về riêng tôi. Vì vậy, cảm xúc của cá
nhân tôi cũng không đậu trên một người, một vật nào cả. Khi
không có sở hữu riêng tư thì mặt trời, mặt trăng, mặt đất nầy là
của chung. Mặt trăng, mặt trời không phát ra ánh sáng cho riêng
tôi nên cũng chẳng có ai trên mặt đất nầy ôm ấp hay ban phát
tình cảm riêng cho tôi. Từ đó tôi yêu đương tự do. Yêu người
không phân biệt giới tính và nhẹ nhàng như yêu vầng mây ấm.
Đã từ lâu,
Trí Hải bắt gặp trong đôi mắt của thầy Tiều một nét gì đó rất lạ
lùng. Ánh mắt thầy lúc nào cũng như những rặng núi xa xăm.
Trong mắt thầy không có một bến bờ ghé đậu. Cá tính, dáng vẻ của
mỗi con người hình như chẳng có độ nhám để bám vào ánh nhìn
không có thành trì biên giới của thầy. Với ý nghĩ đó, Trí Hải
hỏi thầy Tiều:
- Vậy thì vào
chùa là cách tốt nhất để xa lánh chuyện tình nam nữ giữa đời,
phải không, thưa thầy?
Thầy Tiều lúc
lắc đầu, cười và nói:
- Thất tình,
đi tu để khỏi đối diện với sự thật là đi ngược lại tinh thần
vắng lặng nhưng lại đầy sức mạnh âm thầm từ bên trong của cửa
chùa. Chùa chiền, tự viện là nơi tự mình đối diện với những dục
vọng của chính mình, rồi từ đó tìm phương hóa giải. Ngoài đời
thường, người ta dùng dục vọng lớn hơn để bao phủ hay đè bẹp
những dục vọng nhỏ hơn. Dục vọng biến tướng và người ta hiểu
lầm rằng dục vọng không còn nữa như một ông nhà giàu cho người
nghèo của tiền bố thí để lấy lại tiếng khen. Ông ta chỉ tính
gạo tiền đổ ra mà không tính cái hư danh mình đang lấy lại.
- Nếu như tôi
muốn ra khỏi vòng vây của tình ái thì phải làm sao?
- Đừng trốn
chạy vì không có chỗ nào trốn được cả. Người ta có thể trốn được
một xã hội nhưng sẽ không có ai trốn được chính mình. Sống với
nó, nhìn thẳng vào nó để thấy được những ngón tay bạch tuộc của
nó bám chặt vào đâu và gỡ ra khỏi đời mình.
- Nói thì dễ
nhưng làm khó quá.
- Vâng, khó
thật! Riêng tôi thì gỡ bàn tay của dục vọng một mình làm không
nổi nên tôi phải nương tựa vào lớp áo nhà tu.
- Thế thì ai
cũng phải đi tu như thầy mới tìm được tâm vắng lặng sao?
- Mỗi người
đều có căn cơ và phước đức riêng. Có một định lực vô hình nhưng
nó đóng vai trò gần như quyết định cho mỗi cuộc đời riêng mà
người ta quen gọi đó là định mệnh hay số phận.
- Ai là kẻ
quyết định cho số phận đó hở thầy?
- Theo cách
hiểu thông thường của nhà chùa thì cái định lực vô hình đó là sự
tích lũy sau cùng của tất cả những ý nghĩ, lời nói, việc làm của
mỗi người gồm cả cái được và cái mất, cái tốt và cái xấu, cái
thiện và cái ác gọi là nghiệp.
- Nghiệp! Một
sức mạnh vô tình, lạnh lùng và độc ác đến thế sao?
- Nghiệp do
mình tạo chứ có ai trừng phạt hay ban phát cho mình đâu. Rượu
không bắt mình say, tiền không bắt mình mắc nợ. Say vì tự mình
uống quá chén; mắc nợ vì mình xài quá nhiều. Đừng uống rượu quá
đà thì khỏi say. Làm tiền ra nhiều hơn tiêu tiền thì có tiền
dành để lại trong tay.
- Nghĩa là
mình có thể làm chủ nghiệp của mình?
- Ồ, tất nhiên
rồi quý hữu à. Người ta có thể cải nghiệp, giải nghiệp hay
không tạo nghiệp.
- Hành động
hôm nay là hạt giống cho số phận ngày mai hay đời sau. Tu không
phải là chỉ có hình thức vào chùa để làm trụ trì, lên sư ông,
thành sư cụ mà tu là tự mình làm thanh sạch cho cái tâm của mình
để giải bớt nghiệp chướng cho chính mình bằng cách gieo hạt
giống cho ngày mai.
- Có chăng một
vùng đất lý tưởng để gieo giống cho đời sau?
- Ba ngàn thế
giới, gieo đâu mà chẳng được, miễn sao là giống lành.
Trí Hải lập
lại lời sau cùng của thầy Tiều mà cảm thấy lòng ấm lại như vừa
có một nơi nương tựa:
"Ba ngàn thế
giới, gieo đâu mà chẳng được, miễn sao là giống lành."
Trần Kiêm Đoàn
(Trích Chương 18 trong truyện
dài TU BỤI sắp xuất bản)
Ý Kiến xin gửi về:
trankiemdoan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |