|
Năm
mươi, bảy mươi, rồi một trăm năm sau…
Quốc
Học trường tôi. Có lẽ tất cả những thế hệ học trò và thầy giáo
trong suốt dòng lịch sử 110 năm của trường Quốc Học đều tự hào
nhận mình là “dân Quốc Học”. Quốc Học, cái tên chững chạc vươn
lên như tiếng trống đồng đánh thức lòng tự hào dân tộc. Sau một
trăm năm bị Pháp đô hộ trong cảnh văn hóa còn bị trói buộc giữa
gọng kềm ngôn ngữ, Tây học chiếm lĩnh hết đời sống tri thức,
không còn chỗ đứng cho quốc học. Quốc Học, trong bối cảnh lịch
sử còn nặng tính ngoại lai, đồng nghĩa với tiếng Việt thân yêu
được chính thức sử dụng trong môi trường giáo dục. Sau đêm dài
của cái học “nào có ra gì cái chữ Nho, ông Nghè ông Cống cũng
nằm co” trước cái Tây học “thà rằng đi học làm thầy Phán,
tối rượu sâm-banh, sáng sữa bò…” mà Tú Xương từng than thở;
sáng dậy, chữ nghĩa chỉ còn lơ thơ những câu đối sáo mòn, mục
rỗng trên các đình chùa miếu vũ. Trường Quốc Học xuất hiện như
một khúc quanh mới của sự định hình “vần quốc ngữ, chữ nước
ta…” trên đất Huế giữa và giữa lòng đất Việt.
Quốc
Học ơi! Cảm động và tuyệt vời biết mấy.
Tôi
thuộc thế hệ Quốc Học 63-66, đó là ba năm sôi động nhất của một
cố đô Huế trầm lặng, bỗng nóng bừng lên và xuống đường, biểu
tình, bãi khóa. Năm đầu tiên, tôi từ Hàm Nghi qua Quốc Học, học
lớp đệ tam giữa lúc phong trào tranh đấu Phật giáo đang ở vào
giai đoạn cao điểm. Năm học qua nhanh chẳng để lại một dấu vết
kỷ niệm học trò nào tạm gọi là êm đềm trong tôi. Năm sau, tôi
lên lớp đệ nhị. Đây là năm đầy quyết định giữa việc học hành
đàng hoàng để chuẩn bị thi Tú tài Bán phần cho đậu hay hỏng thi,
khoác áo “trellis” ra mặt trận. Nhu cầu thi đỗ ăn sâu vào bản
năng sinh tồn đối với lớp học trò con trai Quốc Học. Học ngấu,
học nghiến, học để cố xây một lớp vỏ “an toàn trong khói lửa”
trước những tin chiến sự dồn dập và tiếng máy bay vần vũ đến đâu
và về đâu trong cõi gió cát vô thường ấy. Tôi đậu được cái “Tú
tài vớt” vì cả năm học ban B mà mê làm thơ con… quăng hơn là mê
giải toán đạo hàm, đại số. Qua truông Tú tài bán phần, lên lớp
đệ nhất cũng chẳng thấy gì hơn là học với học.
Xứ Huế
xưa nay chỉ có con đường “nhất học cho hay, nhì cày cho chín”.
Đối với một học sinh bình thường thuoäc thế hệ những năm 1960
như tôi thì ba năm ở trường Quốc Học là ba năm quyết định cho cả
một đời. Cao nhất thì được du học bên Tây bên Mỹ, thành tài về
nước làm “xếp nhớn”. Trung bình thì vào được đại học, tốt
nghiệp kiếm một nghề nghiệp vững chắc nào đó sống đời an phận
với vợ con. Chấp nhận kiếp sống thăng trầm thì vào trường sĩ
quan Thủ Đức hay Đà Lạt. Thi hỏng, bỏ trường thì đi lính “đơ
dem cùi bắp”, “cánh gà rô ti” hay về quê làm ruộng hoặc sống
làng nhàng với những nghề dọc đường gió bụi.
Dân
Quốc Học thời chiến chinh ít ai có những kỷ niệm mượt mà đầy lưu
luyến rất Huế, rất thơ, rất mộng… với ngôi trường của mình như
các cô em nữ sinh Đồng Khánh bên cạnh. Sau bóng Bình Phong Long
Mã cổ kính, uy nghi trước trường Quốc Học đối mặt với sông Hương
là mối ưu tư sách đèn dằng dặc. Quốc Học như một người cha
nghiêm khắc. Đồng Khánh như một người mẹ dịu hiền. Biết bao
đứa con của Quốc Học và Đồng Khánh đã thành đôi, thành đũa. Nếu
gọi hết con cháu của lịch sử 110 năm Quốc Học và 90 năm Đồng
Khánh nắm tay nhau, dang ra xa thì có thể đứng trọn 3 vòng trái
đất!
Cái thế
giới “Anh, Em” của Quốc Học - Đồng Khánh một thời quá khứ cũng
theo lịch sử xoay vần mà chuyển hướng.
Quốc
Học và Đồng Khánh bây giờ đều có học trò cả nam lẫn nữ. Huyền
thoại vườn Địa Đàng chấm dứt khi A-Đam và Ê-Và ăn trái cấm.
Huyền thoại “Sâm Thương” của sự cách trở sao Hôm, sao Mai trong
cảm xúc hết lý do hiện hữu khi khái niệm về một thế giới cách
trở không còn ngăn đôi. Có một cái gì rất thơ, rất lãng mạn
riêng tư của Huế đã bị phai rồi hay không còn nữa? Bây giờ, có
còn chăng một “con đường áo trắng dưới hai hàng long não” dọc bờ
Nam sông Hương từng níu kéo những trái tim đa tình, hào hoa về
lại Huế?
John
Milton trong đại trường ca Thiên Đường Đã Mất
(Paradise Lost) đổ hô vụ “mất Thiên Đường” cho ma quỷ yêu
tinh. E trật mất thôi! Chính A- Đam và Ê-Và là hai con người
nguyên thủy trung thực. Cả hai đều muốn sống thực, yêu thực;
muốn nếm trải hương vị trần gian chua ngọt nầy ra… “răng” mới
đam mê nếm trái cấm của nhau tận tình đến thế chứ chẳng có rắn
rết, yêu tinh nào vào quấy phá cả. Không ai quấy phá mình nếu
nỗi ước ao, lòng ham muốn của mình chưa ra tay tóm bắt cái tâm
mình trước. Khuynh hướng đổ tội cho người là một ngõ cụt hờn mát
của con người nhỏ bé trước sự bất lực của chính mình.
Một
thời học Quốc Học, chú học trò làng quê chân đất trong tôi vẫn
thường nhướng mắt nhìn bâng quơ qua “thế giới bên tê”. Thế giới
của những cô nữ sinh Đồng Khánh “Một nàng e lệ thẹn thuồng.
Ba nàng xúm lại như tuồng bồ chao!”. Dòng tưởng tượng đậu
trên tà áo trắng. Dù cố kiểng chân cao hơn để nhìn cho rõ thì
cùng lắm, cái ý tưởng lãng mạn đam mê… miệt ruộng của tôi cũng
chỉ vươn lên tới mái tóc thề là cao chót vót. Ba năm học trên
hai dãy lầu Quốc Học, chưa bao giờ tôi bạo gan, lớn phổi dám
nghĩ đến có ngày mình sẽ tiếp cận với cái thế giới lạ lùng “bên
tê”.
Ngày
đó, tôi thường băn khoăn tự hỏi, có chăng một trường Đồng Khánh
với tất cả những nét tiêu biểu nhất của người con gái Huế như:
Dịu dàng, sâu kín, e ấp, kiên trinh, đảm đang, thương con,
thương chồng và giữ chồng nghiêm cẩn như giữ… cọp – sợ cọp sổng
chuồng… ăn thịt người ta (?!) Hôm nay, tôi mới tự tìm được câu
trả lời sau 38 năm cưới nàng Đồng Khánh. Nhưng đây là bí mật
A-Đam. Làm sao chia sẻ được phút huy hoàng chất ngất và chút
dâu bể tang thương thuở ăn nhằm trái cấm!
Sau năm
1975, tôi có một cảm giác là lạ khi đứng trên bục giảng của
trường Đồng Khánh mỗi buổi sáng. Nhìn một lượt quanh lớp, gã
thầy giáo văn chương tôi cảm thấy như đám học trò con trai thành
khách lạ trong những lớp học có tường vôi hồng chuyển qua tim
tím giữa nắng mai mùa Thu. Dáng yểu điệu thục nữ từ màu vôi hồng
tím đến cửa vào trường, khung cửa sổ trên cao, lối vào lớp học…
đều vương mang dáng vẻ đường cong mềm con gái. Vì sợ cái ảo
giác một thời ngự trị trong tôi thành định kiến, tôi hỏi hai
người bạn sinh ra và lớn lên ở xứ Bắc, mới vào Nam và đến dạy ở
trường Đồng Khánh lần đầu là Hà Thúc Định và Lê Huy Linh, cả hai
đều có cảm nhận tương tự về “nét mềm con gái” của cấu trúc
trường Đồng Khánh. Chính trong thời điểm nầy, tôi học được bài
học rất sâu về khái niệm “quán” của đạo Phật. “Quán” là sự cảm
nhận sâu xa, trực tiếp và sống thực bằng một cái tâm rỗng lặng
hoàn toàn. Đấy là kinh nghiệm trực tiếp rất khó để trao truyền
hay chia sẻ. Những rung động thuở học trò của tôi khi đứng trên
dãy lầu phía Đông trường Quốc Học, nhìn sang trường Đồng Khánh
rộn lên những cảm xúc, những mê mẩn, những ân tình mà tôi không
thể nào chuyển tải bằng phương tiện ngôn ngữ đến hai bạn Định và
Linh từ Hà Nội mới vào Nam được. Riêng tôi khi đã thành thầy
giáo, đứng ngay giữa sân trường và lớp học trong khuôn viên Đồng
Khánh, cũng không thể tìm lại được cái cảm xúc miên man, sâu
lắng của thuở học trò trong tôi khi từ Quốc Học “dòm qua” Đồng
Khánh. Có lẽ từ tuổi học trò Quốc Học tôi đã để hết tâm tư mình
để “quán” về Đồng Khánh và tôi đã tiến rất gần với sự “ngộ đạo”.
Nếu ngộ đạo là cái đẹp muôn đời như John Keats mở đầu cho bài
thơ Đẹp – Beauty –: “Ngộ ra cái đẹp muôn đời còn vui.” (A
thing of beauty is a joy forever.)
Hè năm
ngoái, đứng trước trường Sorbonne ở Paris, tôi nhìn cái tháp
tròn cổ kính và những đường nét chạm trổ đã đứng đó hơn 7 thế
kỷ, tự nhiên một nỗi nhớ mơ hồ lại đến. Tôi nhớ về lịch sử 700
năm công Chúa Huyền Trân; nhớ những nét chạm trổ kỳ tú trên cái
bình phong Long Mã trước trường Quốc Học. Sau chiếc bình phong
ấy, ngày xưa, tôi vẫn thường cố dấu mo cơm bới. Bên trong mo
cơm thường có gói lá chuối nhỏ gói chút mắm cà, ớt ướp kho với
ruốc mà mẹ tôi chuẩn bị sẵn cho tôi bới theo. Ngày ngày tôi
phải đạp xe đi học đâu khoảng 15 cây số từ làng qua trường Quốc
Học. Ngày đó, tôi sợ bị chọc “cụ nhà quê”, chọc “học trò làng”,
chọc “dân mắm ruốc” nên cố dấu mo cơm. Khổ nhất là nỗi lo sợ
những cặp mắt xanh của các em Đồng Khánh bắt gặp mo cơm… chiến
đấu chẳng nên thơ lãng mạn chút nào của tôi.
Có
những ngày trời nóng hay gió lớn, bình phong Long Mã lúc nào
cũng có các em lai vãng cho vạt áo dài đỡ cuốn theo chiều gió.
Thế là tôi không tài nào có đủ bản lĩnh cao cường để mở mo cơm
bới mà ăn trước những đôi mắt ngọc ngà quý phái của các em trong
suốt giờ ăn trưa. Tôi nghe thương thương những vị tiền bối đồng
môn “cá rô gỗ” trên quê mẹ ngày xưa.
|
"... Sau
bình phong Long Mã, Quốc Học vẫn còn nhưng Đồng Khánh đã
thay tên. Có người bằng lòng, có người chẳng quan tâm,
nhưng cũng có người ước mong lấy lại tên cũ. Nước
Việt Nam mình đang bước vào ngưỡng cửa sinh hoạt kinh
tế, văn hoá và giáo dục toàn cầu. Dĩ nhiên, ta
không nhắm mắt chê của người, khen của ta hay ngược lại.
Nhưng dẫu sao thì nếu có cơ hội nhìn quanh, nhìn ra xa
hơn, nhìn người, nhìn mình để suy nghĩ vẫn nên làm.
Tiếng chim gọi đàn sau Bình Phong Long Mã vẫn rộn ràng
và ấm áp hơn là chỉ có gió Nồm và bụi nước sông Hương
vào những buổi chiều lộng gió..." |
Học
hành, ra trường, nghề nghiệp, làm ăn, chiến tranh qua hơn 40
năm… hoàn cảnh đã đưa đẩy những người học trò cũ Quốc Học, Đồng
Khánh đi xa. Sống khắp năm châu mà vẫn có cùng nỗi nhớ: Nhớ
Huế, nhớ trường, nhớ Quốc Học Đồng Khánh của thuở hoa niên.
Bốn
mươi năm, trong một buổi tiệc họp mặt Quốc Học Đồng Khánh ở San
Jose, tôi đã gặp lại một khuôn mặt quen quen. Dường như thời
đó, người nầy thường lảng vảng sau bình phong Long Mã. Tôi có
dịp nhắc lại kỷ niệm cũ, “em” Đồng Khánh ngày xưa, nay đã lên
hàng mệ ngoại, ngỏ lời an ủi:
“Ui
chao! Thời nớ trưa mô em cũng ăn thịt bò bít-tết hay thịt heo
cốt-lết với bánh mì và bánh pa-tê-sô phát ớn. Cơ chi biết anh có
mo cơm bới ngon lành dữ rứa là em đã tới gạ đổi rồi…”
Tôi
cười nói với em như nói với bóng quá khứ của chính mình:
“Ước
chi anh là thằng Bờm, cô em hỉ!”
Không
chắc “cô em bà ngoại” đã hiểu hết ý tôi nhưng vẫn “dạ” một tiếng
rất hiền ngoan, nhưng vẫn đầy vẻ ngang tàng mà ngọt lịm.
Tôi
hỏi:
“Nếu
cho em một ước mơ… vào lứa tuổi về chiều, em sẽ mơ điều chi
trước nhất?”
Em hỏi
lại:
“Mơ chi
tề?”
Tôi gợi
ý:
“Mơ về
ngôi trường cũ.”
Sau cái
nhìn xa xăm nhưng cũng đủ băng qua biển lớn trôi về quê hương,
em nói:
“Đồng
Khánh! Còn mô nữa…”
“Thì
Đồng Khánh vẫn còn đó nhưng chỉ đổi tên thôi.”
Cô em
cười buồn, chỉ một “em bà ngoại” khác đang cười nói trên bàn
tiệc phía góc phòng:
“Như
con Tôn Nữ Hoàng Lan thân với em lắm… thê, nhưng qua đây lấy
chồng Mỹ đổi tên là Linda Norton làm em cảm thấy dường như hắn
mất đi mô, chỉ còn một nửa.”
“Đổi tên
là mất một nửa?”
“Dạ, em
cảm thấy rứa nhưng không giải thích được.”
“Rứa em có
biết vua Đồng Khánh là ai không?”
“Học sử em
biết chớ, nhưng không quan tâm.”
“Em nghĩ
Đồng Khánh là chi?”
“Em cũng
hiểu đó là tên của một ông vua thứ 9 của triều Nguyễn làm vua
chỉ được 3 năm thì mất, mới 25 tuổi. Đó là một ông vua tính
tình hiền lành vô thưởng vô phạt. Nhưng dân Đồng Khánh tụi em
thì không có đứa nào để ý đến tên vua. Em mang ý nghĩ “đồng
khánh” là cùng vui, cùng mở hội như đồng tình, đồng ý… đồng
thanh tương ứng, đồng khí tương cầu mà thôi.”
“Nghĩa
là em vẫn còn hy vọng một ngày nào đó tên trường Đồng Khánh sẽ
trở lại với Huế, vì dẫu cho tên cũ của trường mang tên ông vua
Đồng Khánh nhưng chẳng ảnh hưởng gì về lịch sử và chính trị cả
phải không?”
“Dạ.
Nếu chúng ta nhìn ra xa hơn sẽ thấy tên những ngôi trường xưa
nhất thế giới, dẫu cho có lần thay đổi thì truyền thống văn hóa
và lịch sử vẫn có khuynh hướng hoàn lại tên trường cũ. Quốc
Học, Đồng Khánh đối với Huế cũng như Havard, Stanford ở Mỹ,
Sorbonne ở Pháp, Oxford ở Anh. Havard lấy tên của một một “ông
Tây thuộc địa” Anh là John Harvard; Sorbonne lấy tên của nhà
thần học Pháp, Robert de Sorbon; Stanford lấy tên của Leland
Stanford… thì cũng là những nhân vật bình thường trong dòng lịch
sử nhân văn mỗi nước như vua Đồng Khánh ở nước ta mà thôi. Giữ
tên Đồng Khánh để có sự liên tục về mặt lịch sử văn hóa và giáo
dục gần cả trăm năm. Đồng thời tạo ra một sự tác động tâm lý kế
thừa có lợi rất nhiều cho thế hệ đàn em mà chẳng thấy gì đáng
ngại.”
Tôi
đồng ý về giá trị truyền thống của một sự kế thừa như thế. Các
đại học, học viện, trường học có lịch sử lâu dài trên thế giới
thường có điều kiện thuận lợi phát triển về cả hai mặt phẩm và
lượng nhờ sự đóng góp, hỗ trợ tích cực của cựu học sinh hay sinh
viên đã thành tài và thành công ngoài xã hội.
Trong ý
nghĩ đó tôi hỏi:
“Trường
Đồng Khánh bây giờ đã thành trường Hai Bà Trưng. Thế những cựu
học sinh Đồng Khánh như em không xem trường Hai Bà Trưng bây giờ
là trường Đồng Khánh cũ của mình sao?”
“Không
anh ạ. Tình cảm và kỷ niệm thường nằm ngoài tầm lý luận. Nếu
chỉ thuần lý luận thì Quốc Học hôm nay cũng là Quốc Học của anh
ngày xưa và Hai Bà Trưng hôm nay cũng là Đồng Khánh của em ngày
trước. Nhưng về tâm cảm thuần túy thì Quốc Học vẫn là Quốc Học;
nhưng Đồng Khánh lại mất tên nên Đồng Khánh không còn…”
Câu trả
lời thật thẳng thắn nhưng tôi vẫn nghe một chút gì hơi cay cay
trong đó. Tôi liên tưởng đến trường Bưởi ở Hà Nội mà tôi đã đọc
trong tiểu thuyết; trường Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị và trường
Đồng Khánh mà tôi đã dạy; trường Hàm Nghi ở Huế mà tôi đã học;
trường Gia Long, Petrus Ký ở Sài gòn mà tôi đã từng chấm thi Tú
Tài… đều đã được thay tên khác. Tất nhiên sự thay đổi nào cũng
có những yêu cầu nội tại mà kẻ đứng ngoài làm sao hiểu hết
được. Nhưng ngôi trường mang một tên khác sao mà giống một
người con gái làng lấy chồng xa. Hơi hướm chân quê bỗng phôi
pha như cô gái quê lên phố về trong thơ Nguyễn Bính: “Hương
đồng cỏ nội bay đi ít nhiều.”
Tôi có
dịp ghé thăm và quan sát những tiểu bang hay thuộc địa xa vời
của Mỹ như Alaska, Hawaii, Guam… Những nơi đó, giới cầm quyền Mỹ
vẫn tiếp tục giữ lại những tên cũ, dẫu đó là những tên phát âm
hoàn toàn xa lạ của các nhóm dân tộc ít người bản xứ. Ngay nơi
tôi đang ngồi viết những dòng nầy, thành phố Sacramento và những
vùng lân cận nguyên ngày xưa là đất của người Mexico có tên gốc
như San Francisco, San Jose, Santa Anna… vẫn còn giữ nguyên tên
cũ viết theo tiếng Tây Ban Nha. Và ngay con đường nơi tôi đang
ở cũng mang tên Jefferson Davis, một tổng thống Mỹ chỉ huy lực
lượng miền Nam ly khai và cả hai tướng chỉ huy cuộc Nội Chiến Mỹ
(1861-1865 với trên nửa triệu người chết và gần nửa triệu người
bị thương vong tàn phế) là Ulysses Grant và Robert Lee đều được
đặt tên cho những con đường khắp nước Mỹ.
Nói về
“triết lý” tránh thay chữ, đổi tên của Mỹ, một thực tế mà ai
cũng thấy được tại Mỹ, rằng là: “Tên gọi chỉ là phương tiện
không quan trọng. Quan trọng là ai trả thuế và ai thâu thuế từ
những tên gọi đó.” Nước Mỹ thâu thuế “ác liệt” nhất trên thế
giới, nhưng phần đông, người trên thế giới lại thích ở Mỹ vì Mỹ
chuộng thực tế hơn là những danh từ hoa mỹ. Liệu “chủ nghĩa
thực dụng” trong danh xưng có đáng cho thế hệ mới Việt Nam quan
tâm tham khảo và cân nhắc không?
Sau
bình phong Long Mã, Quốc Học vẫn còn nhưng Đồng Khánh đã thay
tên. Có người bằng lòng, có người chẳng quan tâm, nhưng cũng có
người ước mong lấy lại tên cũ. Nước Việt Nam mình đang bước vào
ngưỡng cửa sinh hoạt kinh tế, văn hoá và giáo dục toàn cầu. Dĩ
nhiên, ta không nhắm mắt chê của người, khen của ta hay ngược
lại. Nhưng dẫu sao thì nếu có cơ hội nhìn quanh, nhìn ra xa
hơn, nhìn người, nhìn mình để suy nghĩ vẫn nên làm. Tiếng chim
gọi đàn sau Bình Phong Long Mã vẫn rộn ràng và ấm áp hơn là chỉ
có gió Nồm và bụi nước sông Hương vào những buổi chiều lộng gió.
Trần Kiêm Đoàn
Sacramento, tháng 9 - 2006
Trở về Trang Chính |