|
Ai
về Quảng Trị Đông Hà,
Hỏi
o lòng thả, heo bà… lặt chưa ?!
Hồi còn
làm trưởng Thanh Niên Hồng Thập Tự Quảng Trị thời Hồi Cư năm
1973, các em học sinh và đoàn sinh của tôi vẫn thường đặt bày
hát “đía” như thế để chọc mấy em nữ sinh bán quán lòng thả ở Hải
Lăng, Diên Sanh. Và nghe đâu, giới giàu kinh nghiệm món lòng thả
cho rằng, giống heo đực lặt… tiệt sau ba tháng, đem nấu lòng thả
mới ngon tuyệt cú mèo (?).
Rồi
không biết ai là tác giả, các em đã biến câu hát đùa thành điệu
hò nện “Ai về Quảng Trị Đông Hà. Là hù, là khoan…” và
thầy trò hát nghêu ngao cho vui miệng, vui chân trong những
chuyến công tác cứu trợ vô sâu trong các vùng quê mới hồi cư.
Nhưng tiếng hát vui không che nổi cảm giác rờn rợn của bao nhiêu
mảnh bom đạn chưa nổ còn ghim trong lòng đất khắp các nẻo đường
quê hương Quảng Trị.
Tưởng
cũng nên mở ngoặc nhỏ nơi đây để viết đôi dòng về một món ăn
truyền thống Việt Nam mà rất có thể có nhiều người Việt hay kể
cả một số người Quảng Trị “toàn ròn” vẫn chưa có dịp thưởng
thức. Đó là món Lòng Thả (hay Lòng Sả). Món Lòng Thả là món ăn
đặc biệt, một trăm phần trăm thuần Quảng Trị. Khắp nước Việt
Nam và, có thể nói bạo miệng mà không sợ nhầm rằng, khắp thế
giới không nơi nào có món lòng thả nầy cả. Lòng thả nấu bằng
những phần chọn lọc lấy từ lòng, huyết, xương, tinh chất… của
con heo cộng với bún, sả và các gia vị và phẩm vị mà, một thời,
người viết bài nầy chỉ biết thích thú thưởng thức hơn là nắm
vững công thức như món bún bò, cơm hến. Chỉ mới gần đây thôi,
lần đầu tiên, tôi được biết một nơi ngoài Quảng Trị có món Lòng
Thả nầy là quán Rất Huế tại Sài Gòn mà chủ nhân là một
nhà thơ gốc Quảng Trị, anh Nguyễn Đăng Mừng.
Mới
ngày nào còn thú vị với món Lòng Thả buổi sáng ở Diên Sanh; “là
hù là khoan” rộn rã tiếng cười, bất chấp đạn bom còn rơi rớt đâu
đó đầy đe dọa và dòng đời tạm bợ, trôi nổi chung quanh đó mà đã
35 năm trôi qua.
Mùa Hè
năm 1972… hình ảnh cuối cùng của Đông Hà trong ký ức của tôi là
con đường Quốc Lộ 1, đoạn băng qua phi trường Ái Tử cháy nắng,
mịt mờ khói đạn bom pháo kích. Tôi đèo thầy Dương Đình Trọng –
ông anh cùng dạy trường Nguyễn Hoàng – trên chiếc xe “Honda Đam”
của tôi chạy chao đảo một đoạn ngắn rồi ngừng lại. Nhiều người
cùng vất xe nằm sát bên vệ đường. Hầm trú ẩn là bầu trời xanh
lồng lộng. Số phận sống chết của con người bọt bèo không hơn
một xoáy cát bay bay. Cơn pháo kích đi qua. Khói đạn, khói
bụi, khói nắng, khói trần gian… che khuất những nụ cười hanh
nắng. Chẳng có mảnh đạn nào lạc lối ghim vào thể xác; mà chỉ có
mảnh vỡ của cảm xúc ghim vào tâm tư. Tôi mang mảnh đạn vô hình
đó mà đi về phương Nam.
Sau
đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 72 và Đông Hà nằm lại bên kia bờ Thạch Hãn,
một vĩ tuyến mới của lịch sử; nhưng đồng thời cũng là một vết
cắt mới của tâm hồn Việt Nam.
Những
ngày tiếp theo… tôi chạy qua Cầu Dài cũng trong bão lửa pháo
kích. Rồi tản cư, tạm cư, hồi cư, bảy lăm, lây lất bến xe Lam,
chợ Trời, vượt biên, cu-li ta, cu-li Mỹ, thầy ta, thầy Mỹ… và
một sớm mai vàng của tuổi mùa Thu, tôi dừng lại. Cuộc hành
trình của một thế hệ chiến tranh Việt Nam bước chậm dần chờ ngày
khép lại: Về hưu!
Hai
tiếng “Về hưu” đối với người Mỹ là Golden Age, là Tuổi Vàng, là
sự thở phào sung sướng. Vậy mà sao tôi nghe như trong tôi có
tiếng thở dài rưng rưng thầm lặng. Tôi là người viễn khách may
mắn một cách xót xa đang về cuối chặng đường. Trong khi đó, hơn
hai phần ba người thân, bạn bè đã nằm xuống mất hút trên những
dặm đường mịt mù, bão liệt của quê hương.
Về
Quảng Trị. Sau gần tròn 33 năm tôi mới có dịp đi lại trên con
đường Quốc Lộ 1 dài 60 cây số từ Huế ra Quảng Trị vào mùa Hè năm
2007. Trước mắt tôi, con đường hiện ra lạ hoắt. Ba mươi năm
trước, mỗi lần chạy xe Honda một mình trong cảnh trời mưa tối
sầm hay chiều xuống âm u tôi thường vừa lo, vừa sợ. Lo, vì lỡ
như xe bị hư bất ngờ thì chẳng có chỗ nào để dừng lại trú chân
nhờ giúp đỡ. Sợ, vì đường vắng quá, hai bên là đồng không mông
quạnh hay chỉ là những bãi cát lơ thơ tràm chổi mọc hoang nối
đuôi nhau không một bóng người. Nhất là chặng đường từ An Lỗ ra
tới Mỹ Chánh; rồi từ Mỹ Chánh ngang ngã rẽ Diên Sanh, qua Cầu
Dài cho tới Quảng Trị. Nếu có chăng một bóng người hiếm hoi
trên đồi cát hay trên đồng vắng thì sự cảm nhận “thỏ đế” của tôi
thường cho đó là… ma! Bảo đảm khai đúng sự thật là vào những
năm hồi cư sau 1972, tôi ngủ lại trường Hiền Lương Nghĩa Thục
nằm trên vùng đồi cát Hải Trường đã nghe tiếng cười, tiếng khóc
của ma từ Cầu Dài sầm sập chạy trên Quốc Lộ 1. Không rõ ảo giác
ma quỷ làm cho tôi sợ ma một cách đầy “sáng tạo và nên thơ” như
thế; hay hoàn cảnh chiến tranh đã làm cho người và ma cặp kè
nhau giữa hai đầu sống chết đã tạo nên một tâm lý sợ ma từ trong
vô thức của tuổi thơ…
Ngày ấy
vắng thế mà bây giờ, cả hai bên Quốc Lộ 1 – con đường huyết mạch
của quê hương – nhà cửa đã mọc lên san sát. Từ Huế ra Đông Hà,
có rất ít khoảng trống hai bên đường để cho tầm mắt tìm ra những
mảnh không gian trải dài tới ruộng đồng, làng mạc tít tắp về mé
biển hay mé núi. Nhà cửa lấp đầy khi con người tìm về nguồn
sống như cá tìm về sông. Cố gắng tìm về ven quốc lộ đã lũ lượt
diễn ra như một khuynh hướng đô thị hóa mạnh mẽ từ Nam chí Bắc
trong suốt 30 năm qua. Tôi bất ngờ đi trên khoảng đường dài ba
mươi năm trước mà ngỡ như mình bị lạc. Lạc vì không tìm ra hướng
mới hay chẳng tìm về lại được khung trời cũ đều có nỗi niềm
riêng. Nhưng cái khoảng trống cô đơn trong cảm nhận lạc đường
thì vẫn thế. Nó mất đi ý niệm “tìm thấy” hay “thuộc về” đã nằm
sâu trong lòng mình.
Đến
thành phố Quảng Trị cũ, tuy tất cả những chi tiết đều đổi khác,
nhưng tôi vẫn mường tượng ra con đường Trần Hưng Đạo, đường
Quang Trung, khuôn viên trường Nguyễn Hoàng, bờ sông Thạch Hãn.
Có chăng hình ảnh không thay đổi là dòng sông Thạch Hãn với
những bãi sa bồi. Đất cát như mẹ hiền; nước tươi như dòng máu.
Những gì ít thay đổi nhất vì được làm nên bằng nguồn tình, không
bằng hình tướng.
Ở Quảng
Trị gần 5 năm, có lẽ thời gian chưa đủ thấm để cho những gốc rể
ăn sâu vào mạch đất. Tôi đến và đi với Quảng Trị với nỗi vui
buồn của một người tình hơn là một người ruột thịt. Người ruột
thịt se lòng khi nhìn Cổ Thành tan nát; nhìn trường Nguyễn Hoàng
yêu dấu từ thuở hoa niên chỉ còn là đống gạch vụn; nhìn tất cả
thành phố thân thương sau biến cố 1972 sau màn nước mắt và bóp
chặt tay anh em hẹn ngày trở lại. Còn tôi, tôi mờ nước mắt nhìn
Quảng Trị và nuốt vào tâm khảm những hình ảnh tan nát sau cùng;
rồi nhớ mãi để ra đi. Trước mắt tôi Cổ Thành đổ nát như như
chiếc áo quan của người tình áo trắng vừa qua đời. Nhưng đối
với Lê Hữu Nam, Lê Hữu Thăng, Đổ Tư Nhơn, Nguyễn Bảo, Lê Mậu
Tâm, Hoàng Văn Liệu… thì Quảng Trị tan tành là hình ảnh đầy biểu
tượng của ngôi mộ mẹ hiền bị sét đánh tang thương.
Mùa Hè
năm 2007… Về lại Quảng Trị lần nầy, lòng tôi như một đại dương
đã lặn sóng. Ở tuổi về hưu, tôi nhìn Quảng Trị qua dấu tích
nghìn năm như Thăng Long với Cổ Thành, Cổ Lũy, Ái Tử, La Vang.
Ngày xưa, sau những chiều dạy học, sống xa nhà, tôi vẫn thường
đi loanh quanh trên những con đường phố xá Quảng Trị. Thành phố
nhỏ nhắn ngày ấy mang một vẻ dịu dàng riêng của nó. Dòng Thạch
Hãn không có nét xõa tóc về xuôi đầy lãng mạn như Hương Giang,
nhưng buổi chiều mùa Thu vẫn in dấu mây trắng giăng ngang từ
phía Trường Sơn về Nam Hải. Thạch Hãn không có “yên ba giang
thượng” – khói sóng trên sông – nhưng lại có nét cau mặt của
những vờn sóng đáng yêu khi những ngọn gió chướng sỗ sàng quét
mái trên sông. Ngày ấy, chân tôi bước đi trên phố xá Quảng Trị
mà tâm lý “giang hồ vặt” cứ hướng về những phương trời Tây, Tàu
bao la mơ ước. Nhưng hôm nay về lại, khi chân đã mỏi, giày vệt
gót qua những phương trời viễn mộng ngày xưa, tôi ước muốn dừng
lại. Ước chi kiếm một gian nhà nhỏ trông ra bờ Thạch Hãn, tính
thời gian qua con nước ròng, nước lớn trên những bãi sa bồi.
Rồi những chặng đời sẽ qua đi. Về Quảng Trị là một hành trình
rất thực như chân trần bấm trên đất phèn làng xóm.
Lưu
luyến chi rồi cũng phải ra đi như người du khách. Trong thơ
Việt, có lẽ khó mà tìm ra một câu hay hơn Chế Lan Viên: “Khi
ta ở, chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn…” Ba
mươi năm trước tôi rời Quảng Trị như tạm biệt một vùng đất ở;
ba mươi năm sau, rời nơi đó như rứt áo ra đi từ nỗi níu kéo
trong lòng.
Và lạ
quá một điều mà tôi chưa hề nghĩ tới, Đông Hà lại có một ngày
trở thành “thủ đô kinh tế” của Quảng Trị. Vâng, tôi vừa quên
Đông Hà là cửa khẩu của đường 9 Nam Lào.
Nếu bất
ngờ bịt mắt và được thả xuống Đông Hà, có lẽ tôi hoàn toàn mù
tịt không biết mình đang ở đâu. Đông Hà thuở ấy trong tôi là
khu phố nhỏ. Đi quanh, hút chưa tàn điếu thuốc đã lên dốc Ga
tàu. Nhưng giờ đây Đông Hà đã biến thành một thành phố cỡ hạng
nhì Việt Nam như Hải Phòng, Quảng Bình, Nha Trang, Phan Thiết,
Cần Thơ… mà tôi vừa mới đi qua. Khung cảnh và bầu không khí của
một Đông Hà mới làm tôi cảm thấy xa lạ. Mình không lạc phố, lạc
nhà; mà phố xá lạc mình. Một Đông Hà đóng vai chợ phiên của Gio
Linh, Cam Lộ, Lao Bảo… không còn nữa. Khi tôi về lại, những
tiểu thư guốc mộc cuả ba thế hệ đàn chị, đàn bà cùng trang lứa
và đàn em đã từng khoe sắc rực rỡ, làm tươi mát khu phố thị
Đông Hà một thời nay “bất tri hà xứ khứ – không biết về mô… ”.
Những Phù Thị Lan, Huệ, Cao Thị Lành, Hiền, Túy… vang bóng một
thời. Những Học, Tình, Cam, Chưởng, Lân, Hường, Lý… ngày ấy
“xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh” đang ở nơi mô. Thời gian
dịu dàng trôi mà lại tàn nhẫn như những lọn tóc bạc, những đường
nhăn xêp nếp quất vào vùng thanh xuân tươi mát với vẻ lạnh
lùng. Trong buổi tiệc vui tại nhà hàng Lạc Khanh ở Đông Hà với
hơn bảy chục khuôn mặt bạn bè thân thương tới dự – mà hầu hết
sinh ra ở vùng quê hương Quảng Trị, Đông Hà và cũng là học trò
Nguyễn Hoàng một thời yêu dấu – đã cho tôi nét nhìn rõ hơn về
vết quất của thời gian.
Tôi và
Lê (nhà tôi… bên chiếc cầu soi nước) từ California, cùng với cặp
bồ tèo là hai người bạn thân, Nguyễn Tuấn Năng và Nguyễn Thị Học
– gốc ở Đông Hà; gác ở Minesota – rủ nhau về thăm quê. Khách
sạn “muôn sao” của chúng tôi ở Đông Hà là nhà của anh Tịnh, chị
Mai. Đêm nằm trên gác của căn nhà xinh xắn mà cứ ngờ ngợ có dư
âm tiếng đại bác từ phía Tây vọng về và mơ hồ có tiếng ếch bên
tai của vùng ruộng đồng ngày xưa nay thành phố chợ. Chặng đường
72 – 07, ba mươi lăm năm một thoáng phù du. Nếu tâm đắc với ý
niệm một sát na đã qua bờ sinh tử thì mọi sự thay đổi đều là
viễn du, thông thoáng, hồn nhiên. Bởi thế, sau đó khi trên
đường ra Bắc, khi xe qua Đèo Ngang, tôi lại nhớ Bà Huyện Thanh
Quan
Từ Đông
Hà, tôi ra động Phong Nha theo con đường Trường Sơn Đông. Con
đường tuyệt đẹp vắt qua nhiều sườn núi rộng rãi và phẳng phiu
hơn cả Quốc lộ 1 ven biển dưới kia. Hai bên đường rừng cây cao
su bạt ngàn, cây tiêu, cây hạt điều và các loại cây công nghiệp
xanh mượt mà. Tất cả cây công nghiệp đều đang độ tuổi thanh
xuân đầy sức sống. Xe vẫn chạy trong nắng mai, tôi cố rướn người
ra nhìn bên nầy rồi bên kia đường không chớp mắt. Sự xúc động ở
đâu ùa tới. Nếu không đi trên con đường nầy, có lẽ một Quảng
Trị trong định kiến của tôi chỉ có những rừng tre, đồi tranh,
độn sim, độn móc… còm cõi trong những cơn gió Lào nóng nung
người và gió bấc lạnh rát mặt. Rừngcao su xanh tốt Quảng Trị
vượt lên cả rừng cao su đất đỏ Long Khánh là điều gần như… hoang
tưởng đối với tôi nếu chỉ có thời gian năm năm ở Quảng Trị, dạy
trường Nguyễn Hoàng rồi ra đi khi chưa có cơ hội trở lại đất nầy
ba mươi lăm năm sau đó. Nhưng trước mắt tôi rõ ràng là rừng
Trường Sơn mở rộng. Khi có tình yêu – yêu người hay yêu quê
hương – thì cái nhìn sáng tạo “thuở ban đầu” bao giờ cũng hướng
đến những gì cao viễn nhất.
Ôi
chao! Con sông Hiền Lương và chiếc cầu Bến Hải. Gần bốn mươi
năm trước, là một sinh viên văn khoa Huế biết nói khá tiếng Anh,
tôi ở phía đầu cầu phía Nam bên kia, làm công việc thông dịch
cho những phái đoàn “thóc mách”, kể cả báo chí, báo cáo và báo
đời. Họ muốn biết đến giòng sông chia cắt và chiếc cầu xây theo
kiểu “phúc lợi” của Pháp, đơn điệu, đen đủi và buồn tênh đó có
tác động gì lên tâm tình người xứ Việt. Với người phương Tây,
khó mà giải thích cho họ hiểu vì sao mà “mẹ bồng con ra ngồi cầu
Ái Tử; vợ trông chồng lên núi Vọng Phu…” Nhưng trong tâm tư
nguời sinh viên trẻ, lần nào tôi cũng quay mặt không dám nhìn
thật kỹ chiếc cầu như một vết chém đùi lây ngang thắt lưng chiếc
áo tứ thân của tổ quốc, có bao nhiêu tấm ván, bao nỗi ưu tư –
như Nguyễn Tuân – khi tôi tay chỉ chỏ, miệng bi bô “dzu mi tao
mầy” để giới thiệu chiếc cầu với những người khách từ bên kia
đại dương, râu ria xồm xoàm, nói cười hềnh hệch.
Rồi một
buổi chiều, như chiều nay… trên tuyến đường bộ từ Bắc vô Nam,
tôi xúc động dừng lại bên cầu. Nhìn chiếc cầu hiền lương (tĩnh
từ, không viết hoa) vẫn lặng lẽ vắt ngang trên dòng sông không
đục, không trong, gieo neo nước chảy dưới cầu như mẹ già tưới
tẩm cho những cánh đồng con cháu tương lai, tự nhiên tôi muốn
khóc bằng những giọt nước mắt của Mẹ Gio Linh, của đồi hoang Ái
Tử , của vôi gạch Cổ Thành… Thế nhưng mắt tôi vẫn ráo hoảnh,
buồn thiu. Nước mắt Việt Nam đã đổ xuống nhiều hơn sông hơn
biển. Xương máu Lạc Hồng đã tưới tẩm cả Trường Sơn. Thêm bớt
một giọt, khô cạn một dòng thì đời em vẫn trôi, sông kia vẫn
chảy. Tôi tự hỏi, có chăng trong ta một sự trở về. Chiều xuống
thấp, trời ửng mầu cam trên Trường Sơn. Trước mùa Hè 1972, bên
bờ Bắc cầu Bến Hải – nơi tôi đang đứng nhìn chiều xuống 35 năm
sau – Đông Hà Quảng Trị là một “nước” khác. Nước sông núi đã xa
vời mà nước trong lòng người lại càng xa hơn nữa. Tôi dợm chân
bước qua xứ ấy. Sông núi đã liền lặn. Vết thương có còn gì dấu
tích trong tôi? Nắm tay Lê, tôi giục: “Đi thôi, em. Tối nay ở
lại Đông Hà. Mai ta về Quảng Trị.”
Sacramento,
mùa Hè 2007.
Trần Kiêm Đoàn
Trở về Trang Chính |