|
Dân Mỹ càng ngày càng có
khuynh hướng biến ý nghĩa hai chữ triết lý (philosophy) thành ra
lối sống hay lối hành xử trong cuộc sống (lifestyle). Nếu cần
uống một tách cà phê, chọn một chữ dễ hiểu thay cho chữ rắc rối
để giúp mình thư giãn thì e cũng nên làm. Triết lý ly cà phê
Starbucks!
Trong
số những chàng trai làng chân quê, quen cuốc bộ với đôi chân
trần rám nắng, nay được về thành thị mang giày da, lái xe ô-tô
bốn bánh; và, cũng trong số những người nửa đời đã quen hưởng
thú nhâm nhi ly cà phê bên hè phố Việt Nam, nay qua nước Huê Kỳ
bỗng thinh thích (chứ chưa hẳn là mê!) ly cà phê Starbucks mỗi
ngày… xin vui lòng tính luôn kẻ viết bài nầy.
Starbucks là
ai mà ghê gớm thế? Hắn có tài ba gì mà dám nhổ bật gốc cái
“hương đồng cỏ nội” đã định hình bản sắc dân tộc trong ta?
Về mặt hình
tướng, hắn chẳng có gì ghê gớm cả. Chỉ là cái quán cà phê nhỏ
nhắn, nép mình khiêm tốn bên góc của một khu thương mãi mới xây.
Có khi hắn thu mình gọn lỏn trong một phòng xép tại một trung
tâm kinh doanh nổi tiếng lẫy lừng và lâu đời nhất của một thành
phố lớn nhất nhì thế giới. Nhiều nơi, hắn cũng chỉ là cái sạp cà
phê (coffee stand) đứng nép mình khiêm tốn trong một siêu thị
sang trọng hay trong một nhà sách tư nhân lớn như một thư viện
trung ương mang tên Barn & Noble. Hắn là một tên khổng lồ kinh
tế đang chu du khắp thiên hạ dưới dạng một gã bán buôn lãng tử
bình dân; một loại siêu sao bên hè phố.
“Hắn”! Đích
thị là quán cà phê Starbucks.
Đạo quân kinh
tế của Starbucks hiện đang có mặt trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ
với hơn 8.600 cửa hàng nhộn nhịp suốt ngày. Tổng số Starbucks,
hiện đang có khoảng 12.000 cửa hàng cà phê trên toàn thế giới
với 125.000 nhân viên phục vụ và doanh thu hơn 6 tỉ đô la hàng
năm. Công ty này đề ra mục tiêu là sẽ có 40.000 tiệm cà phê của
họ trên toàn thế giới. Họ dự kiến vào năm 2007 sẽ mở vào khoảng
2.400 cửa hàng mới; nghĩa là cứ thuận đà mỗi ngày sẽ có 6 tiệm
cà phê Starbucks mới tà tà mọc lên đâu đó.
Khắp nơi trên
đất Mỹ và tại một số thành phố lớn trên thế giới, mỗi sáng sớm,
suốt bốn mùa xuân hạ thu đông, mới bảnh mắt đã có người sắp hàng
trước quầy cà phê Starbucks. Có những sáng... – cũng đầy sương
thu và gió lạnh – mà phải đứng cả 15 phút để đợi đến phiên mua
một ly cà phê bé bỏng trong lúc ở nhà cà phê lon, cà phê gói vẫn
ngoan ngoãn nằm chờ mới thấy được tinh thần xông pha cao độ của
giới hâm mộ cà phê Starbucks. Càng ngày, tôi càng khám phá ra
rằng, người ta mê, bất cứ mê gì, cũng đều phải trải qua một quá
trình thẩm định phức tạp. Đơn giản như trường hợp người mê cơm
hến Huế. Người ta mê không phải chỉ vì con Hến Cồn thanh nhã
hay vì hương vị của các loại rau nồng nàn níu gọi mà mê vì tổng
hợp hương vị của quán cơm hến. Dĩ nhiên, phải tính luôn cả sự
hấp dẫn của cái áo dài vá vai và cả cái nếm tỉnh queo ngon ơ của
o chủ gánh cơm hến trước khi chìa tô cơm hến cho khách nữa
chớ(!)
E cái
triết lý Starbucks nó cũng na ná như thế. Mặc dầu quán cà phê
Starbucks rất khiêm tốn đầu tiên của anh chàng Howard Schultz mở
ra tại Seattle – lại Seattle!... tổng hành dinh của Bill Gates
chủ Microsoft giàu có nhất thế giới và của William Boeing chủ
công ty máy bay Boeing lớn nhất thế giới – từ 35 năm trước,
nhưng gã chân quê tôi đây chỉ mới làm quen với hương vị
Starbucks đâu dăm ba năm nay thôi. Đầu tiên, tôi thích hương vị
cà phê đen nóng Starbucks vì nó là trung bình cộng giữa hương vị
đậm đặc của tách cà phê phin “cái nồi ngối trên cái cốc” và
hương vị nước lèo “bèo dạt hoa trôi” nhạt thếch của cà phê
Folgers chế bằng máy của Huê Kỳ.
Nguyên
tại thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California nơi tôi
đang ở, cách đây trên 20 năm, có một nhà kinh doanh trẻ tuổi,
trí thức Việt Nam. Anh đã bỏ nghề giáo sư đại học để xây dựng
nên hệ thống cà phê La Bou nổi tiếng đứng hàng đầu trong vùng
với hàng loạt cửa hàng mở ra khắp vùng Bắc Cali và rất được ưa
chuộng. Nhưng cách đây chừng 5 năm, khi hệ thống cà phê
Starbucks tiến vào cạnh tranh ở vùng nầy thì hệ thống La Bou dần
dần trở thành bóng mờ. Cũng tương tự như thế, hệ thống cà phê
Java City vang bóng một thời và gần 30 thương hiệu cà phê ở vùng
nầy không cạnh tranh nổi với hệ thống Starbucks.
Một ly
cà phê đen, nóng, cở nhỏ của La Bou, Java City hay Starbucks
cũng chỉ tốn mất của tôi 1đô-la 45 xu mà thôi (so với giá trung
bình của một ly cà phê sữa đá tại các tiệm ăn Việt Nam tại Mỹ là
3 đô-la và một tô phở hay bún bò là 5 đô-la.) Nhưng sao mỗi
sáng lái xe trên xa lộ đông nghẹt, tôi vẫn cố lách vào ngã rẽ có
quán cà phê Starbucks xa hơn các tiệm kia tới mấy dặm đường.
Câu hỏi
then chốt đặt ra ở đây là: “Những nét đặc biệt gì và những phẩm
chất nào đã làm cho Starbucks trở thành một ‘anh hùng hè phố’
tại Mỹ cũng như tại một số nước có nền kỹ nghệ và thương mãi
tiên tiến như hiện nay?”
Trong
cuốn “bạch thư” của ông chủ lớn và cũng là người sáng lập ra cà
phê Starbucks, Howard Schultz, nhan đề: Rót Cả Tâm Hồn vào
Đáy Cốc: Starbucks Đã Xây Dựng Công Ty Bán Lẻ Từng Cốc Cà Phê
Như Thế Nào (Pour Your Heart into It: How Starbucks Built a
Company One Cup at a Time),
ông ta không dấu diếm về những bí quyết đã đưa Starbucks thành
một trong những công ty kinh doanh khổng lồ của thế giới như
hiện nay. Dĩ nhiên, quá trình không đơn giản. Một sự thành công
hay thất bại nào trong kinh tế và thương mãi cũng đều có sự liên
quan chằng chịt với vô số vấn đề. Bên cạnh các mặt tài chành,
quản lý và cạnh tranh mà bất cứ cơ sở kinh doanh lớn nhỏ nào
cũng phải cần đến, có thể ở nhiều mức độ khác nhau, có 4 yếu tố
mà nhiều người cho là quan trọng nhất để tạo sức bật trong sinh
hoạt kinh tế là: (1) Tính quần chúng, (2) tính sáng tạo độc
đáo, (3) năng lực quảng cáo tiếp thị và (4) sức mạnh tổ chức nội
bộ.
Theo
Kristy Thurmond, một cây viết sắc sảo về lĩnh vực kinh tế và
thương mãi trong Moneyline (11-8-2006) của báo Lone Star
Economy ở San Antonio thì sự thành công của Starbucks chủ yều là
vì đã đạt được tính quần chúng rất cao. Thurmond trích dẫn lời
của ông chủ và đồng thời cũng là người sáng lập Starbucks,
Howard Schultz, đã “cáo yết” trước quần chúng rằng: “Chúng
tôi không ở trong tư thế của tầng lớp kinh doanh cà phê mà ở về
phía khách hàng uống cà phê.” Nghĩa là ông ta muốn xác định
rằng ông ta và 12 vạn quân Starbucks thật sự đứng về phía “quần
chúng nhân dân” hay đồng nghĩa với sự làm giàu công khai trên
thương trường với sự hưởng ứng nồng nhiệt và tiếp tay đắc lực
của khách hàng.
Kristy
Thurmond bảo vệ cho nhận định của bà bằng cách dẫn chứng những
việc làm cụ thể của Starbucks qua các bài nhận định và phân tích
trên Moneyline.
Thông
qua mạng lưới truyền thông đại chúng và thông tin điện tử của
chính Starbucks (www. Starbucks.com) và các đối thủ đang ráo
riết cạnh tranh; cũng như qua quan sát và kinh nghiệm tiếp cận
thường xuyên của khách hàng, người ta có thể dễ dàng nhận ra 3
đặc tính trội bật của Starbucks như sau:
- Về
hình thức, hầu hết mọi quán cà phê Starbucks đều xuất hiện một
cách khiêm tốn và bình dân. Từ mầu sắc các bức tường đến cách
thiết kế trần nhà, ghế ngồi, quầy hàng có một nét độc đáo
riêng. Sự thiết trí là cả một nghệ thuật hài hòa, cố dấu vẻ quý
phái giàu có; đồng thời cũng giàu chất văn hóa dưới một dáng vẻ
“lùi xùi”, cởi mở như đang dang tay chào đón khách hàng. Khách
vào uống cà phê hay sắp hàng mua cà phê Starbucks mang đi, tuy
đủ mọi hạng người và mọi tầng lớp, giai cấp xã hội, nhưng hầu
như mọi người đều cảm nhận được bầu không khí ấm cúng, thân hữu
và không phân biệt khi bước vào bất cứ một quán cà phê Starbucks
nào. Thử bất chợt ghé một trong hàng trăm quán cà phê Starbucks
vào một buổi sáng mùa Thu tại thành phố Sacramento, tiểu bang
California như tôi đang làm trong phút viết những dòng nầy. Xa
xa ngoài sân là mùa Thu Cali và lá vàng đang rụng. Bên ngoài
hiên, sau lớp tường kính là một bàn cà phê với những người mặc
đồ lớn vừa nhâm nhi cà phê vừa thảo luận về một đồ án gì đó đang
trải rộng trên bàn. Bàn bên cạnh phía góc hành lang là một gã
vô gia cư (homeless) râu ria xồm xoàm vừa uống cà phê, vừa hút
thuốc nhàn nhã với ba lô quần áo, mền chiếu gia sản đặt bên
cạnh. Trong cửa hàng cà phê, bàn ghế bộ tròn, bộ vuông, bộ xa
lông… một bà cụ già chẳng ngó ngàng gì ly cà phê (có lẽ đã
nguội) trước mặt, chăm chú đan thêu. Bên cạnh một ông cụ già
vừa hớp từng ngụm cà phê, vừa nói chuyện rì rầm với bà cụ. Bàn
trong góc, cô sinh viên (?) đang lặng lẽ làm việc trên chiếc máy
vi tính xách tay. Bàn bên phải mấy cô cậu trẻ vừa khuấy ly cà
phê của mình vừa cười nói hồn nhiên một lát rồi yên lặng chăm
chú vào công việc của mình như những người xung quanh. Trước
quầy, khách vẫn sắp hàng, đến và đi không ngớt. Dàn âm thanh
trên trần vẫn liên tục phát ra điệu nhạc jazz nhẹ. Bây giờ đã
11 giờ trưa, sáng thứ hai. Ngày đầu tuần, mọi người đều tất bật
làm việc thế mà chẳng có ai quan tâm hay thắc mắc nhìn nhau hay
tự hỏi là gần giờ ăn trưa rồi mà vẫn có những người còn nhâm nhi
ly cà phê một cách nhàn hạ đến như thế. Hay vẫn có ngưới sắp
hàng đứng chờ mua cà phê. Thật là một khung cảnh “văn hóa cà
phê” không hợp với nếp sống tất bật của xứ nầy mà người thích
quan sát nhưng nếu lại làm biếng phân tích như tôi chỉ chỉ có
thể gọi là “một không gian nội tâm Starbucks!”
- Vị
trí của các quán cà phê Starbucks tại những khu thương mãi đồ
sộ, mới xây cất tại Mỹ là một kinh nghiệm quý báu về “tính quần
chúng” cho các nhà kinh doanh. Starbucks thường nằm ở một vị
trí rất khiêm tốn trong toàn khu thương mãi; phần lớn nằm ở vị
trí của một góc nào đó. Nhỏ nhắn, không trang trí màu mè, nhưng
sự xuất hiện của Starbuck lại rất bắt mắt và nổi bật trong một
khu thương mãi có nhiều cửa hàng sang trọng, được kiến trúc tân
kỳ và mỹ thuật. Người ta sẽ ngạc nhiên một cách đầy thích thú
và thán phục khi biết rằng, những nhà chủ thầu kinh doanh xây
dựng (developer) thường gọi mời Starbucks đầu tiên trong số
những cửa hàng tương lai trong khu thương mãi. Thế nhưng cách
chọn vị trí tại những góc rất khiêm tốn trong toàn cảnh giữa
trung tâm thương mãi chứng tỏ bản lĩnh cao cường của tập đoàn
kinh doanh Starbucks về các mặt tâm lý, kỹ thuật, mỹ thuật và
văn hóa. Xây dựng được một nhãn quan “chiêu khách” đầy sáng tạo
và tinh tế là chiếc đũa vàng của thành công trong bối cảnh kinh
tế thị trường mang tính toàn cầu trong thời đại mới.
- Tính
quần chúng chiêu khách của Starbucks còn được thể hiện trên các
sản phẩm “cà phê” dành cho phụ nữ và trẻ em không bao giờ uống
cà phê. Bởi vậy, từ dân ghiền cà phê nhà nòi đến các tay uống
cà phê tơ lơ mơ đều kiếm được một ly cà phê hợp với trình độ và
khẩu vị thưởng thức cà phê của mình. Do đó, cà phê Starbucks
tại Mỹ đang trở thành một dấu hiệu tượng trưng về sự “sành
điệu” của khách thích uống cà phê và thích ngồi quán cà phê.
Nhóm đầu não của Starbucks gần đây còn đề ra tham vọng là sẽ
biến quán cà phê Starbucks thành nơi gặp gỡ của tuổi trẻ. Họ hy
vọng những danh từ đường phố chết người của loài ma túy như
“rock”, “speed”, “weed”, “crack” sẽ được thay bằng những danh từ
quen thuộc của các loại cà phê, trà… chế biến trong các quán cà
phê Starbucks “siêu sao bên hè phố”.
- Và,
nét đặc trưng nhất của Starbucks là tính nhân bản hay nói
một cách nôm na hơn là tình người. Hơn một nửa trong tổng
số 125 nghìn nhân viên của Starbucks làm việc bán thời gian.
Nhưng chỉ cần làm việc 20 giờ mỗi tuần trở lên (toàn thời gian
theo luật lao động quốc tế là 40 giờ) thì người làm cho
Starbucks đã hưởng được bảo hiểm sức khỏe và quy chế an sinh,
phúc lợi xã hội căn bản. Chủ nhân Starbucks đã hãnh diện tuyên
bố rằng, tiền mua bảo hiểm sức khoẻ cho nhân viên còn nhiều hơn
là tiền mua cà phê từ châu Mỹ, châu Á, châu Phi để cung cấp cho
toàn bộ hệ thống Starbucks.
Đáng lẽ
tôi chấm dứt bài viết về cà phê Starbuck nầy ngang đây. Nhưng
nhìn lên bàn viết, tôi thấy hộp cà phê Trung Nguyên do một người
bạn vừa về thăm quê nhà trở qua gởi tặng. Hộp cà phê xinh xắn
từ quê hương yêu dấu vẫn còn nằm nguyên. Trong dáng vẻ trầm tư
phương Đông ấy, hộp cà phê Trung Nguyên đang nói gì với tôi?
Vừa mới
mấy ngày qua, trong số báo Time (Asia Edition) mới phát hành
ngày 15-11-2006, phóng viên Kay Johnson tại Hà Nội có viết về hệ
thống cà phê Trung Nguyên của Việt Nam mà người sáng lập là Đặng
Lê Nguyên Vũ (?), 31 tuổi, đã phát triển đến 400 tiệm trong nước
và đang có khuynh hướng mở rộng ra ngoài nước. Đây quả thật là
một sự dấn thân đầy khai phóng vào lĩnh vực kinh tế thị trường
toàn cầu của tuổi trẻ Việt Nam thuộc thế hệ sau chiến tranh Việt
Nam đang thử thách.
Tôi
chưa uống thử sản phẩm cà phê Trung Nguyên và chưa được bước
chân vào một quán cà phê Trung Nguyên tại quê nhà nên chưa nghe
em cà phê lên tiếng nói. Trước khi em tự giới thiệu mình bằng
chính hương vị của em, có lẽ tôi muốn nói với em một đôi điều
trước đã.
***
Quan
điểm truyền thống “nhất bản vạn lợi” hay “một vốn bốn lời” trong
quan niệm thương mãi truyền thống của Trung Hoa và xứ ta đã trở
thành sự mơ mộng hoang tưởng trong thời đại mới. Mỗi năm, như
trong năm 2005 chẳng hạn, doanh thu của hệ thống Starbucks là
6.3 tỷ đô la Mỹ, nhưng thu nhập ròng (net income) chỉ còn lại là
494 triệu (7.8%). Nghĩa là nếu cả vốn lẫn lời thu vào được 100
đồng thì chỉ kiếm được chưa tới 8 đồng bỏ túi. Thế mà Starbucks
được xem là ngôi sao thành công rực rỡ giữa thị trường thế
giới. Không ít những công ty Mỹ có tầm cỡ quốc tế bị phá sản,
khai báo khánh tận (bankruptcy) và phải đóng cửa trong năm qua.
Bởi thế, quả là không đại ngôn hay cường điệu tùy hứng khi cho
rằng: Thương trường cũng là chiến trường đầy bão liệt trong
lĩnh vực kinh tế. Việt Nam gia nhập WTO là trực tiếp tham
gia một “mặt trận” – không phải là mặt trận của máu xương mà là
chiến trường của bản lĩnh kết hợp với chất xám của con người!
Việt
Nam, WTO và kỳ vọng mới.
Bước
sang thế kỷ 21, sự chuyển mình theo khuynh hướng toàn cầu hóa
trong kỹ thuật, thông tin, thương mãi tiến nhanh theo một tốc độ
chóng mặt. Trong dòng chuyển ào ạt về kinh tế từ Đông sang Tây,
Starbucks nổi bật như một lực sĩ chạy đường dài vừa nhanh vừa
khéo, vừa gần gũi giữa đám đông mà ai cũng có thể thấy được.
Tôi nói đến Starbucks như một cách hình tượng hóa sự cạnh tranh
trong thương trường nóng bỏng để sống còn, vươn lên và chiếm
lĩnh. Thế nhưng trong cái chung tự nhiên và lạnh lùng mạnh được
yếu thua giữa chiến trường kinh tế, một thế lực tranh đua lành
mạnh và tích cực vẫn có thể cùng lúc kết hợp hài hòa giữa tính
lợi nhuận, tính sáng tạo, tính văn hóa và tính nhân bản.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ Chức
Thương Mãi Quốc Tế -World Trade Organization)
có vẻ như đang hâm nóng
niềm hy vọng vào một tương lai kinh tế tươi sáng cho Việt Nam.
Người giàu hy vọng sẽ giàu thêm; người nghèo khấp khởi mừng mình
sẽ bớt khổ.
Sự thật
thì WTO chỉ là một cơ hội lớn hơn đóng vai một bến cảng cho
những con tàu kinh tế ra khơi có trang bị hải đồ và phương
hướng. Nhưng việc tàu có đến được bến bờ mong muốn hay không còn
đòi hỏi phải có thuyền trưởng và thủy thủ giỏi, máy móc tốt,
nhiên liệu đầy đủ. Thuyền chìm vì đơn độc lạc hướng hay vì tàu
không trang bị sức người và sức của thích hợp thì cũng đều chung
số phận nguy khốn như nhau mà thôi.
Trong
số 149 nước đã gia nhập WTO từ 10 năm qua có những nước nghèo,
không chuẩn bị hay không có đủ tài nguyên, sức người, sức của…
thì WTO chỉ làm cho nền kinh tế nước đó – ngỡ như phong phú hơn
trên bề mặt nổi vì hàng hóa nhập cảng gia tăng – nhưng cán cân
mậu dịch quốc gia thâm thủng một cách thảm hại.
Thử
quan sát hiện trạng của một số nước nghèo đã vào WTO như Angola
(1996), Gambia (1996), Botswana (1995), Cambodia (2004)… người
ta sẽ thấy các nước nầy phải mở cửa cho các mặt hàng của những
nước giàu tuôn vào nước họ không có chỉ tiêu, không bị khống chế
nhiều bởi hàng rào quan thuế. Nhưng bù lại, họ chẳng có gì
nhiều để bán ra thị trường thế giới ngoài việc bán sức lao động
trong các xưởng may mặc, chế tạo các mặt hàng tiểu thủ công
nghiệp với tiền lương mỗi ngày chỉ được một vài đô la Mỹ. Trong
khi đó họ phải mua những mặt hàng kỹ thuật cao cấp mà công nhân
các nước giàu kiếm trung bình hàng trăm đô la Mỹ mỗi ngày. Đã
có sự so sánh tội nghiệp rằng, một trăm người Gambia may gia
công trong một tháng thì sản phẩm áo quần bán ra có giá trị tài
chánh trao đổi giữa thị trường chưa bằng một giờ sản xuất của
một chuyên viên chế tạo “chips” trang bị trong hệ thống điện tử
cao cấp tại các nước Âu Mỹ giàu có.
Như
người bạn láng giềng Campuchia của chúng ta chẳng hạn. Từ ngày
gia nhập WTO vào năm 2004, kinh tế chưa thấy lên về mặt nào cả
mà đã thấy xuống trong nhiều lĩnh vực. Trước hết là mức độ thâm
thủng mậu dịch tăng 12% trong năm đầu làm bạn với WTO (2005) .
Với mức độ thu nhập bình quân đầu người trên toàn quốc chưa tới
1 đô la Mỹ mỗi ngày, trong lúc tất cả sách báo, trang thiết bị
điện tử, những hàng CD, VCD, các chương trình vi tính đều phải
theo đúng luật lệ bản quyền (copy rights) quốc tế… Hậu quả trực
tiếp là giới trẻ và ngành giáo dục vốn đã khó khăn trong vấn đề
tiếp cận với mạng lưới truyền thông, thông tin quốc tế càng trở
nên khó khăn và tụt hậu xa hơn vì sự mất cân đối giữa cung và
cầu; giữa khả năng mua sắm quá thấp và giá hàng nhập cảng quá
cao.
So với
các nước chưa phát huy được sức mạnh WTO kể trên, Việt Nam có
một vị thế khác hẳn. Với đà tăng trưởng kinh tế nhanh hàng thứ
nhì trong vùng (chỉ sau Trung Quốc) và mức độ doanh thu đang ở
thế tích cực (xuất cảng sang Hoa Kỳ 5.7 tỷ đô la và nhập cảng
chỉ 724 triệu) Việt Nam có hy vọng sẽ ở nửa phần trên trong 4
nấc thang chạy đường dài của WTO:
- 1.
Thắng, dựa vào WTO như một đòn bẩy kinh tế giúp dân giàu, nước
mạnh.
- 2.
Lợi, WTO giúp cải thiện và nâng cao chất lượng, phương pháp quản
lý thị trường.
- 3.
Bình, chẳng có lợi mà cũng chẳng có hại gì sau khi gia nhập WTO.
- 4.
Thua, thâm thủng mậu dịch và khủng hoảng quản lý thị trường
trước tác động của hàng hóa và văn hóa ngoại nhập dưới cán dù
của WTO.
Kinh tế
thị trường giữa thế kỷ 20, 21 không có phép lạ nào ngoài chính
bàn tay và trí tuệ của con người làm nên cuộc sống.
Rồi
đây, Việt Nam sẽ lần lượt gia nhập những tổ chức kinh tế, tài
chánh, thương mãi của thế giới. Và, hẳn nhiên là chẳng có một
cơ sở nào “bất chiến tự nhiên thành” như chuyện thần tiên giả
tưởng cả.
Trước
mắt, có ba vế: Việt Nam, WTO và Kỳ Vọng Mới. Đấy là một hình
ảnh đầy khích lệ của cơ hội lẫn thách thức. Hay nói theo chữ
nghĩa Phật giáo thì đây là một hợp duyên tương tác, tương
sinh. Sự chọn lựa nào cũng kéo theo những ràng buộc và khó
khăn riêng của nó. Ngày Việt Nam “tương tác” với cộng đồng
thương mãi thế giới thì cũng là ngày Việt Nam phải chuẩn bị sẵn
sàng để vươn tới gần với những tiêu chí “tương sinh” nhân bản
toàn cầu: Ấm no, tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự.
Trần
Kiêm Đoàn
San
Antonio, TX, tháng 11-06
Email:
Doantran@sbcglobal.net
www.Trankiemdoan.net
Trở về Trang Chính |