|
Thời kỳ quốc tang và hiếu tang vua Gia Long đã mãn.
Kinh đô vương triều bắt đầu trở lại nếp phồn hoa cũ. Phẩm phục
đại triều lóng lánh châu sa; áo kép, áo đơn lượt là thêu thùa
hoa gấm. Những bộ quần áo kiểu cách tân thời và đồ trang sức
quý giá tung hô khoe sắc bắt đầu xuất hiện trở lại như để bù cho
những tháng ngày cuộn mình nằm im trong rương, trong tủ.
Không khí ca xướng rộn ràng. Ca hò, hát dạo, tuồng
cổ hồi sinh và phát triển như những cơn nắng mới reo ca sau mùa
mưa âm u. Thể lọai sân khấu trình diễn phổ biến và được ưa
chuộng nhất là hát bội. Sự lôi cuốn và hấp dẫn của hát bội mạnh
đến độ làm cho người ta lo sợ:
Trồng trầu trồng lộn dây tiêu,
Con theo hát bội mẹ liều con hư!
Quanh mỗi gánh hát trình diễn thường mọc thêm phiên
chợ đêm. Các gánh hàng quà vặt như bún, cháo, chè, bánh trái...
tranh nhau mua bán bên ngoài trong khi đoàn hát chuẩn bị và
trình diễn bên trong. Tiếng trống dạo, trống chầu giục giã đánh
thức nếp sống trầm lặng thường ngày. Mùi nem nướng, thức ăn bốc
lên mời gọi. Già trẻ, lớn bé mê hát quên ăn, quên ngủ.
Những gánh hát bội đến từ nhiều miền khác nhau.
Nhưng nổi bật nhất vẫn là các đoàn hát bội Bình Định và hát bội
Huế. Các gánh hát bội Bình Định thường rất xuất sắc trong những
tuồng cổ như Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng, Đông Châu Liệt
Quốc. Các gánh hát Huế lại nổi tiếng với những tuồng xưa được
các ông hoàng bà chúa sọan lại một cách ướt át và hợp thời hợp
cảnh hơn như Tuyết Hồng Lệ Sử, Kim Bình Mai, Lầu Trai Hương
Phấn...
Khán giả thuộc tuồng không thua gì nghệ sĩ. Họ nhớ
nằm lòng từng câu nói, từng cử chỉ, từng sự cố trong cuộc đời
của Tiết Đinh San, Hoàng Phủ Thiếu Hoa, Tạ Ôn Đình, Thoại Ba
Công Chúa...
Đặc biệt là những màn phụ diễn nhạc võ Tây Sơn của
các đoàn hát Bình Định với những dàn trống mang tên 12 con
giáp. Những nghệ sĩõ nhạc võ Tây Sơn không bao giờ dám động đến
hai tiếng "Tây Sơn" trong kinh đô nhà Nguyễn mà gọi là "Nhạc Võ
Hùng Vương". Những diễn viên đạt đến bậc thượng thặng, siêu
thặng thì khi biểu diễn đếùn độ xuất thần, đánh trống không cần
roi trống mà chỉ dùng hai tay. Với ngón tay, bàn tay, nắm tay,
cùi chỏ... khi lướt, khi phi, nhảy múa trên 12 cái trống, nghệ
sĩ có thể diễn đạt nỗi lòng và tình huống qua âm vang của tiếng
trống. Đôi tay tài nghệ của diễn viên khi yêu kiều lã lướt nhẹ
nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi hùng tráng đĩnh đạc... có thể
"nói" lên được dòng đời qua tiếng trống. Những nghệ sĩ thượng
thừa Bình Định đã tạo ra một loại nhạc pháp "Cổ bề thanh động
Tràng Thành nguyệt" -- Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt --
vượt khỏi tầm kinh điển gọi là "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ" (hai
tay đánh mười hai cái trống). Có những nghệ sĩ thượng thừa còn
đặt thêm 5 cái trống khác ở phía sau: Một cái ngang đầu để ngả
ngữa húc vào; hai cái bên hông để thúc cùi chỏ vào và hai cái
đặt vừa tầm gót chân để đá hậu vào. Với dàn "nhạc cổ" (mà cũng
là cổ nhạc) 17 cái trống này, những màn nhạc võ Tây Sơn kết hợp
với các màn trình diễn tuồng tích hát bội đã đưa hát bội Bình
Định lên đỉnh cao nghệ thuật trình diễn sân khấu đương thời tại
kinh đô. Các vùng thôn ấp xa kinh đô cũng thi nhau rước những
đoàn hát dạo về trình diễn. Rộn ràng nhất là thời điểm lễ hội
đầu năm và sau vụ gặt Đông Xuân.
Chiều chiều, từ trên đỉnh đồi khuôn viên dinh ông
Hoàng, Trí Hải có thể nghe tiếng trống dạo dập dồn của các gánh
hát theo gió Nồm bay đến. Một quá khứ ngỡ như đã khép lại hiện
về.
Một thời, Trí Hải và Ấm Thuyên cùng các vương tôn
công tử của kinh thành đã từng rước các bầu gánh hát chân truyền
về tập luyện nhạc võ Tây Sơn. Vốn là một tâm hồn tài tử nhạy cảm
và đam mê nghệ thuật, Trí Hải đến với hát bội Bình Định vừa như
là một nhà soạn tuồng tài hoa nức tiếng, vừa là một vị Mạnh
Thường Quân hào phóng không ai bì kịp. Với kiến thức uyên bác
về tuồng tích và tài đánh trống uốn lượn như múa kiếm của phái
nhạc võ Tây Sơn, Trí Hải được diễn viên cũng như khán giả ca
ngợi, ngưỡng mộ phong là Ông Hoàng Cầm Chầu Hát Bội. Tiếng trống
chầu của Trí Hải không chỉ đơn giản là hiệu lịnh âm thanh thưởng
phạt mà còn là phương tiện diễn đạt.
Nghệ thuật dân gian Việt Nam đặt nặng cái trí và cái
cảm ngang nhau. Khán giả thưởng thức nghệ thuật có phong cách để
khen chê không phải là khối quần chúng đến xem mà phải là người
vừa có tâm hồn nhạy cảm với nghệ thuật. Đấy là người cầm chầu,
một nhân vật vừa có tri thức hiểu rõ nghệ thuật và vừa có vị thế
xứng đáng để tỏ lời khen chê đúng mức công minh và đúng điệu
nghệ thuật.
Người cầm chầu hát bội là kẻ đại diện cho khán giả
để nói lên sự thưởng phạt các diễn viên trên sân khấu qua tiếng
trống chầu. Trống chầu là một thứ trống lớn được đặt trên giá
ba chân. Đối với những gánh hát nhỏ, diễn viên đơn sơ, trình
diễn nơi những vùng quê xa xôi thì thường chỉ có một trống chầu
và một người cầm chầu. Gánh hát qui mô hơn và diễn những tuồng
lớn tại các tụ điểm quan trọng thì có hai trống chầu đặt phía
trước, hai bên tả hữu sân khấu và có hai vị cầm chầu. Gặp những
màn trình diễn đại sân khấu trong một khung cảnh hoành tráng với
sự tham dự của các nhân vật quan trọng thì có thêm một trống
chầu đặt ở giữa, ngay trước sân khấu gọi là "chầu bổ". Chầu bổ
thường chỉ dành cho các vị có chức phận danh tiếng. Nhân vật
cầm chầu bổ không điểm trống sôi nổi và dồn dập như như hai
trống chầu tả hữu mà chỉ vung tay điểm trống khi thấy cần phải
nhấn mạnh những điểm nổi bật trong một câu hát tuyệt hay, một sự
diễn đạt tài tình, điệu nghệ của diễn viên. Hoặc là điểm trống
để bổ khuyết cho hai trống chầu tả hữu chưa thưởng phạt đúng
mức.
Tiếng trống chầu của Trí Hải nức tiếng kinh thành
với ngón chầu điểm xuyết thích đáng, tài hoa, bay bướm và phảng
phất nét phóng khoáng, lãng tử.
Trí Hải điểm chầu theo quy cách thông thường là nếu
sau một hơi hát hay thì được thưởng một tiếng "thùng", đánh ngay
giữa vòng trăng tròn của mặt trống. Nếu hay hơn nữa thì được
thưởng hai tiếng gọi là "chầu đôi", nếu tuyệt vời xuất sắc thì
được thưởng ba tiếng trống gọi là "chầu ba". Nếu gặp khúc hát
hay tuyệt luân trong không khí tưng bừng và hào hứng thì điểm
nhiều tiếng liền tay. Cũng là chầu một, chầu đôi, chầu ba, chầu
liên, nhưng tiếng trống điểm của Trí Hải nặng nhẹ gần như hòa
điệu với hơi thở của diễn viên và vực sân khấu dậy bằng muôn
trùng cảm xúc. Họa hoằn lắm người ta mới nghe một tiếng "tan"
đánh lên bìa mật trống để cảnh cáo một câu hát diễn sai quy cách
như hát dọc, hát gãy, hát đâm hơi... hay diễn một điệu bộ lạc
dòng, không đúng làn hơi, thanh sắc. Nghiêm khắc hơn là tiếng
"cắc" gõ vào thành trống để cảnh cáo diễn viên về một sai lầm
lớn hơn trong diễn xuất.
Một tiếng trống chầu của Trí Hải là một cung nhạc
cao thấp, yếu mạnh, nhanh chậm... diễn đạt hết tinh hoa và thần
khí của nghệ sĩ trình diễn. Trí Hải nổi tiếng là cẩn trọng và
tiết kiệm tiếng trống. Nhưng khi tiếng trống đã diểm ra rồi thì
vang lên với một độ bền và độ sâu đầy ấn tượng cuốn hút vào cõi
mênh mông vô biên.
Sự nghiêm khắc trong vai trò cầm chầu và kỹ thuật
điểm trống điêu luyện của Trí Hải thường góp phần nâng cao nghệ
thuật trình diễn của diễn viên và làm nức lòng khán giả. Với
tay chầu tuyệt hảo đến độ xuất thần, tiếng trống chầu của Trí
Hải thường gắn bó hài hòa với nghệ sĩ trình diễn. Tiếng trống
vang lên sau câu hát vừa tròn trịa, vừa vững chãi làm giá đỡ cho
làn hơi và câu hát của đào kép một cách nhịp nhàng và chí thiết.
Ngày sân khấu kinh thành tưng bừng khai mở lại, cũng
là lúc Trí Hải muốn yên thân để sống đời lặng lẽ. Bên cạnh thầy
Tiều, Phạm Xảo và Tâm An, Trí Hải vừa có cảm giác bình an như đã
thật sự được sống mai danh ẩn tích. Nhưng vẫn có những đêm ra
đứng ngắm trời, cái cảm giác cô độc vì bị đời bỏ quên lại lấm
tấm trong suy tư. Trí Hải tự cảm nhận rằng, mình không có duyên
tu đạo nhưng có thiện ý tu đời. Tu đời là tu bụi. Ngày ngày rủ
bớt những lớp bụi ham muốn, bỏ bớt những tham vọng cao xa, quét
bớt những phiền muộn quanh mình. Trong vùng an lạc trước mắt,
Trí Hải vẫn không tìm ra một điểm dừng làm điểm tưa cho đời
mình. Trí Hải linh cảm một điều gì đó khó hiểu như số phận vẫn
không buông tha mình, vẫn chực chờ đâu đó...
(Xin đón xem phần tiếp theo: Đêm cầm chầu sôi động
và cuốn hút nhất của nhân vật Trí Hải...)
Trần Kiêm Đoàn
Ý Kiến xin gửi về:
trankiemdoan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |