|
Sau gần 20 năm xa Huế tôi mới
nghe được những phương danh, danh xưng mới hơi lạ tai: Nhà
Huế Học.
Cảm nghĩ đầu tiên của tôi về một
danh xưng như thế quả là duyên may cho Huế, bởi vì Huế hay bất
cứ nơi nào, người nào mà đi theo cái “học” đều hay ho hơn là
“Huế... đói, Huế đau, Huế sầu, Huế khổ...”.
Trong khái niệm về “học” đã hàm
chứa ý niệm nhân văn. Nếu đã có những nhà “chuyên học mang tính
nhân văn”, nghĩa là chuyên nghiên cứu, khảo luận về một lĩnh vực
chuyên biệt nào đó thì sẽ trở thành một nhân vật có thẩm quyền
về bộ môn đó. Như một người chuyên môn nghiên cứu về lịch sử
thì sẽ thành nhà Sử Học; về ngôn ngữ thì thành nhà Ngữ Học... và
cứ thế, nhân loại đã và sẽ có những nhà Tâm Lý Học, Triết
Học, Toán Học, Tâm Linh Học, Bệnh Lý Học, Ai Cập Học, Pari
Học... Huế Học là chuyện tất nhiên.
Thế nhưng vị trí của chữ “Học”
(hiểu ở đây với ý nghĩa là sự sở đắc hoàn chỉnh và cao nhất về
mặt kiến thức, lý giải và phương pháp luận) đặt ở trước Huế hay
là sau Huế mang một ý nghĩa khác biệt: Người học Huế và nhà
Huế Học. Cũng như người học Toán và nhà Toán Học, người học
Tâm lý và nhà Tâm lý Học...
Cần phải có những công trình nào
để một người học Huế hay quan tâm nghiên cứu, sưu khảo về Huế
trở thành nhà Huế Học?
Có lẽ công trình Huế học quy mô
đầu tiên là những công trình biên khảo của Hội Những Người
Bạn Cố Đô Huế (Association des Amis du Vieux Hué). Hội này
được thành lập năm 1913 do đề xuất của linh mục Léopold
Cadière. Hội xuất bản một tạp chí định kỳ lấy tên là Tạp Chí
Những Người Bạn Cố Đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué.
Viết tắt: BAVH.) Ra đời năm 1914 và đình bản năm 1944 với 31
tập và 15 nghìn trang ấn bản, tạp chí BAVH đã trở thành một
nguồn tư liệu rất phong phú nghiên cứu về Huế và có khi đi xa
hơn trong phạm vi cả nước về các mặt địa lý, lịch sử, nghệ
thuật, ngôn ngữ, dân tộc học... hay nói một cách tổng quát là
văn hoá cung đình, văn hóa học sĩ và văn hóa dân gian.
Những tác giả thường xuyên đóng
góp các bài vở nghiên cứu trong suốt 30 năm cả ta lẫn Tây phần
đông là những người học Huế và nhà Huế học tương
đối có thẩm quyền khi viết về Huế.
Từ sau thế chiến thứ hai (1945),
những công trình nghiên cứu về Huế hầu hết tập trung trên nỗ lực
cá nhân. Mãi đến năm 1992 mới có một công trình tập thể khác
của Hội Sử Học Thừa Thiên - Huế qua tạp chí nghiên cứu có
tên là “Huế, Xưa & Nay” ra đời năm 1992 tại Huế.
Tiêu chuẩn phân định giữa người
học Huế và nhà Huế học là ở chỗ công trình sưu khảo chứ
không phải là đã viết được bao nhiêu trang sách. Nếu chỉ tìm tòi
những điều đã có sẵn trong BAVH hay trong mớ tài liệu cổ nằm
trong các tàng thư các hay thư viện để gom góp lại cho một đề
tài nào đó, theo kiểu “tập đại thành; thuật nhi bất tác” (gom
góp tài liệu, rồi kể lại chứ không tìm tòi hay sáng tạo được cái
gì mới) – theo kiểu đức Khổng Tử thường khiêm tốn nói về mình –
thì vẫn còn ở mức độ của một người học Huế. Chỉ khi nào chính
người đó tìm tòi, nghiên cứu, đào sâu, phân tích được cái mới
hoàn toàn hay tìm đươc chất mới mới từ trong kho cũ
mới là một nhà Huế học đích thực.
Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21,
chúng ta phải vui mừng đón nhận số lượng những người học Huế
và những nhà Huế học ngày một khởi sắc. Đã có rất
nhiều tác giả, nhà sưu tầm, nghiên cứu trong và ngoài nước thành
danh vì có những bước đi rõ ràng và mạnh dạn từ vị thế của
người học Huế sang nhà Huế học.
Tại vùng Bắc California nước Mỹ
nầy, chỉ riêng năm 2006, tôi đã hân hoan nhận được khoảng 12
cuốn sách viết về Huế từ Nguyễn Lý Tưởng, Hoàng Long Hải
đến Hồ Đăng Định, Lê Chí Kham và khá nhiều tạp chí, đặc
san Nhớ Huế, Thương Huế, Yêu Huế, Tình Huế, Bạn Huế...
Mỗi tác giả và tác phẩm đều có một vị trí riêng; một cảm quan
nghê thuật và cách nhìn riêng khi nhìn vế Huế Xưa, Huế Nay.
Bên cạnh những tâm hồn máy động
cùng tần số với Huế, thì cũng có những tâm hồn tha thiết với Huế
một thời, nay bỗng thành dửng dưng với Huế. Đi trên cầu Trường
Tiền mà nhớ đến quặn mình một chiếc cầu trường Tiền Áo Trắng
thuở xa xưa. Chèo đò trên dòng sông Hương mà cứ ngỡ như đang đi
trên dòng sông Seine, trên American River và nhớ về một Sông
Hương ngày cũ với bến đò Thừa Phủ lưu luyến. Miên man... một
tâm trạng Nguyễn Bính ngày xưa chăng:
Khách du buồn mối buồn sông
núi
Núi lở sông bồi cảnh biến thiên
Ngự Viên ngày trước không còn nữa
Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên
... Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
Trong cảnh biến thiên “bạch vân thiên tải không du
du” – nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay – đó, có một người như
đang đứng lại:
- Thầy tôi!
Thầy Võ Văn Dật, bút hiệu Võ Hương An, dạy tôi môn
công dân, sử địa năm đệ thất, đệ lục trường Hàm Nghi Huế 47 năm
về trước. Thuở đó, thầy là một người học Huế. Qua những
bài giảng của thầy trong lớp học, tôi hiểu được điều đó. Thầy
học Huế, thầy học trường luật, thầy ra làm thẩm phán, thầy vào
trại tù cải tạo, thầy ra tù, thầy sống lây lất trên quê hương
rồi qua Mỹ làm chuyên viên kỹ thuật, rồi viết lách, viết về
Huế. Tôi tin là phải qua những chặng đường gian nan như thế
thầy mới hiểu được mình trong tận cùng chiều sâu của Huế. Thầy
viết về Huế thật tình. Những bài viết về Huế có nội kiến
(insight) như Chuyện Cung Đình Nghe Kể Lại, Những Sai Lầm
Đáng Tiếc, Vua Bảo Đại Con Ai... là những khám phá và phát
kiến mới lạ, độc đáo mang tính lịch sử và thâm cung bí sử của
tác giả Võ Hương An.
Hai tác phẩm ra đời trong năm 2006 của tác giả Võ Hương An
đều viết về Huế: Huế Của Một Thời và Vua Khải Định...
Với lối nhìn độc sáng trong Huế Của Một Thời và những dữ
kiện lịch sử gồm cả lời minh giải thiết thực và hình ảnh phong
phú rõ ràng trong tác phẩm Vua Khải Định, nhà văn, nhà
biên khảo Võ Hương An đã định hình cho mình một tinh thần Huế
học rất nghiêm túc.
Từ Huế Của Một Thời sang Vua Khải Định,
tác giả Võ Hương An đã xác định một bước đi lên tất yếu của
người cầm bút có tài năng và bản lĩnh. Riêng với Huế, đấy là
con đường tiệm tiến nhưng rạch ròi từ người học Huế sang
nhà Huế Học.
Trần Kiêm Đoàn
California Mùa Giáng sinh 2006
Trở về Trang Chính |