|
- Chút Muồng Nam Moi! Cung
Hỷ Pạt Chòi! (1)
Sáng mồng một
Tết, người hàng xóm Mỹ tốt bụng, thân thiện chào buổi sớm. Bên
cạnh lời chúc mừng năm mới thường lệ tiếng Mỹ, bà ta còn chêm
một câu tiếng Việt „Chúc Mừng năm Mới“ phát âm theo giọng… Tây
Tạng và „Cung Hỷ Phát Tài“ bằng tiếng Tàu lơ lớ mà ngon ơ!
Trong cả con đường và trong cả khu phố có nhiều giống dân tộc
trên thế giới cư ngụ nầy, hình như chỉ có hai ông bà già, nguyên
là cựu chiến binh Việt Nam, hưu trí biết hôm nay là ngày „New
Year“ Á Đông mà phần lớn người Mỹ quen gọi là „Năm Mới Tàu“
(Chinese New Year).
- Tết Ma Rốc
người Mỹ mới biết Tết Việt Nam là gì!
Đã biết điều
đó trong suốt gần 25 năm sống trên đất Mỹ, vậy mà khi nghe lời
bình luận như thế, tôi vẫn cảm thấy chưng hửng và chợt buồn. Xa
quê hương nghìn dặm là xa luôn cái Tết thiêng liêng mà mình cứ
ngỡ như gắn liền với khúc ruột. Mồng một Tết năm nay, gặp ngày
thứ Tư, ngày hội thiêng liêng nhất của toàn đất nước Việt Nam.
Nhưng riêng đối với người Việt xa xứ Tết có chăng cũng chỉ là
một chút lửa ấm nhóm lên trong lòng, chờn vờn và lay lắt rất
riêng tư; trong khi đối với xã hội bên ngoài thì hôm nay cũng
chỉ là một ngày thứ Tư làm việc như mọi ngày.
Tôi xin nghỉ
làm việc ngày mồng một Tết, cố nhen lên một chút hương trầm trên
bàn thờ. Khói hương phơ phất bay không đủ quyện cái không gian
vắng lặng trong nhà. Các cháu vẫn đi làm, đi học bình thường.
Bà xã tôi có khách hẹn ở tiệm. Ngồi một mình uống hết mấy bình
trà King Tea 913 và nhâm nhi dĩa mứt gừng mà vẫn chưa bắt gặp
hương Xuân lạc loài hé cửa vào nhà. Tôi hình dung những gì đang
diễn ra giờ nầy ở Việt Nam, ở Huế, ở làng. Mê nhất là vẻ Xuân
mới ở vùng quê. Những gót chân nứt nẻ đi trên những đôi guốc mộc
mới sơn; chút xíu điểm trang trên những khuộn mặt rám nắng quen
với mồ hôi và nắng gió ruộng đồng; một tí quần áo lượt là trên
những cánh tay trần, những bắp chân quanh năm quần xăn quá gối
của những mẹ quê, chị quê, em bé quê… sao mà đầy dáng vẻ hương
hoa lễ hội đất trời đến thế!
Đối diện hoài
với sự vắng vẻ làm tôi suýt quên cái „máy chống cô đơn“ của thời
đại mới: Cái điện thọai! Tôi gọi chúc Tết người thân và bạn
bè. Hầu hết đều đi làm. Có một cụ già nói tiếng Huế vùng nông
thôn bập bệu:
- Chú ơi chú!
Mùng một Tết mà tụi hắn đi mần hết, tui ở nhà một mình nghe điện
thọai kêu sợ đứt hơi, lo Mỹ nói mình không biết tiếng. Ở nhà
với hai con chó và một con mèo thì tụi hắn cũng không biết tiếng
như tui. Tự nhiên tui đang mạnh khỏe ở ngoài làng thì tụi con
đem vô đây. Chừ thì tui thành què vì không biết lái xe, thành
câm vì nói tiếng Mỹ không được, thành điếc vì Mỹ nói không nghe,
thành đui vì coi chữ xí lô xí la không hiểu… Chú có cách chi
giúp cho tui về lại với!
Cái sớ táo
quân phàn nàn về tình hình „Sốc văn hoá“ (2) của ông cụ còn dài
lê thê, nhưng tôi phải tiếp tục cuộc hành trình chống cô đơn của
mình trong ngày đầu năm mới. Đợi đến hơi trưa trưa một chút,
yên chí là đã có người xông đất phía „bên tê“, tôi gọi về Việt
Nam thăm gia đình. Không đợi tôi lên tiếng trước, tiếng càu
nhàu phía đầu dây bên kia đã vang lên:
- A lô! Ai đó?
Đầu năm đầu tháng mà gọi chi giờ ni „hiểm“ … rứa hè! Mới ba giờ
sáng chưa bét mắt đã mở miệng…
Tôi chợt thót
người và lẹ làng gác điện thoại không lên tiếng minh oan, không
xưng danh báo hiệu. Tôi quên đi mình ở phía bên nầy địa cầu.
Bên tê là 3 giờ sáng ngày mồng hai Tết. „Sorry“ hí, my dear, hỡi
quê hương yêu dấu!
Tết! Tôi xông
đất mình tôi trong căn nhà thênh thang vắng lặng nầy. Tôi có 10
năm sống ở làng, 24 năm sống ở Huế và 24 năm sống ở Mỹ. Mười năm
đầu nhỏ dại không tính (Mười lăm trẻ năm mươi già không kể…(3)
). Hai mươi bốn năm tiếp để hình thành „bản sắc dân tộc“ và 24
năm vừa qua để so sánh, dùi mài và tìm lại bản sắc của chính
mình. Nơi xứ người, mà nhất là trong một xã hội đa chủng, đa
văn hoá nhân văn như Mỹ, tôi mới có dịp hỏi lại mình: „Ta là
ai?“ Nếu ngày xưa ở làng hay ở Huế mà tôi hỏi lẩn thẩn như thế,
chắc sẽ bị coi như ông Mèo Què khùng khùng làm nghề đan nôi bội
ở làng hay thằng Vui Điên chạy rông trên đường phố Huế. Nhưng
trên đất Mỹ nầy, chút tâm tình ngỡ như lẩn thẩn trên quê hương
ngày đó, có khi làm mình xót xa ứa nước mắt. Không lẽ phải định
nghĩa „cái tôi đáng thương“ như lão tâm lý gia tiền bối Eric
Erickson, rằng là, „Tôi là tổng thể của con chó có tâm tư, của
cục đất có linh hồn và của cây sồi có cảm xúc“ ?!
Nhìn lên bàn
thờ, trong cái xa lạ của bình hoa đủ mầu sắc của cúc, của hồng,
của dalia, camelia và tulip, mắt tôi đậu lại trên đòn bánh tét.
Tôi rón rén với tay lấy đòn bánh tét trên bàn thờ. Trong một
thoáng mắt, tất cả vẻ xa lạ bỗng mờ nhạt đi sau cái phất tay của
tấm màn ký ức. Màu bánh tét xanh xanh, mùi bánh tét thơm thơm.
Cả những mùa Xuân xưa lại về!
Ngày còn nhỏ,
sớm mồ côi Cha, tôi cứ tưởng tượng Tết về mà không có Mẹ thì có
ai trên đời nầy sẽ cho tôi „ăn Tết“. Tết báo hiệu từ đầu tháng
chạp sau mùa lụt bắt đầu từ tháng Bảy. Nước bạc vùi dập đất
phèn liên miên như „yêu cho roi cho vọt“ để bồi cho mấy lớp phù
sa. Lớp phù sa chếch trước sân nhà tôi là giang sơn đất lành của
những luống cải vàng đầu Xuân. Mùi hoa cải hăng hắc nhức mũi,
nhưng mẹ tôi là bà tiên biến những luống cải vàng thành dưa,
thành rau sống ăn với khuyếc tươi, thành cơm lành canh ngọt.
Trời mưa rây
rây lạnh, luống cải vàng trước sân và bàn tay chăm chút của mẹ
đã hơn 50 năm rồi mà vẫn cứ nẩy mầm bề sâu trong tôi. Chỉ cần
một chút gió hoài tưởng phơ phất hương hoa ngày cũ là quá khứ
bừng trỗi dậy.
Đòn bánh tét là ngọn gió
Xuân thổi lòng tôi về quá khứ…
Làng tôi chyên sống nghề
làm ruộng. Nông dân thường trồng mười mẫu ruộng lúa mới có một
mẫu ruộng nếp. Nếp có hai loại là nếp Sáp và nếp Đinh. Nếp Đinh
hương thơm và dẽo là chất liệu căn bản tuyệt với nhất để gói
bánh tét. Hàng năm, dù cảnh nhà thăng trầm đến mức nào thì mẹ
tôi vẫn rán chừa hai vuông nếp cho ngày Tết. Hai phần gói bánh
và một phần nấu xôi. Thuở nhỏ, khi bắt đầu biết giúp làm việc
lặt vặt trong nhà, tôi ghét nhất là công việc giã gạo. Dù đã
chọn cái chày vồ nhẹ nhất nhưng cứ cái nhịp điệu giáng lên, bổ
xuống đều đều làm cho bắp thịt mõi nản thì ít mà tâm lý mỏi nãn
thì nhiều. Giã gạo tay đôi, tay ba đỡ buồn hơn nhưng lạiï dễ bị
va chày vào nhau côm cốp, có khi cũng toé gạo, trặc tay. Giã
gạo với lớp tuổi nam nữ sồn sồn trong làng là „ngán“ nhất vì sự
tinh nghịch một cách hồn nhiên không cần giữ gìn của họ. Đã có
lần tôi chứng kiến chú Đoài (nay đã mất) trong một lần giã gạo
hò đã „mời“ người đẹp tham gia hò giã gạo bằng một câu hò như
thế nầy:
Ai mà giã gạo không hò,
Bắt qua bên Huế ngủ đò ba
năm (!!!)
Cho dẫu chỉ ngủ đò „chay“
để học hò mái nhì, mái đẩy thì vẫn… dễ sợ như thường, Huế ạ! Có
lẽ nhờ sợ bị bắt qua Huế ngủ đò như vậy mà ngày mới lớn, những
đêm giã gạo dưới trăng trong làng Liễu Hạ của tôi bao giờ cũng
đồng vọng những câu hò vay trả trữ tình.
Nét trào phúng và sự tinh
nghịch mang tính thi ca, thanh cũng như thô, của nền văn hóa
làng xã Việt Nam phải ghi thành những dòng bách khoa tâm bút.
Hàng năm, mẹ tôi chọn tối
ba mươi Tết để gói bánh tét. Khác với người trong làng thường
gói bánh tét từ 25 tháng chạp. Bởi vậy, cả nhà tôi thường có cái
thú quây quần thay nhau canh nồi bánh tét thức đợi Giao Thừa.
Thuở đó, chiến tranh vây
bủa làng xóm Việt nam như trò chơi định mệnh. Mỗi đêm khuya nghe
tiếng „cắc bụp“ một nơi nào đó trong xóm là cả làng, cả xóm lạnh
người đợi sáng ra đi tìm xác người thân. Cả làng tôi biến thành
tro sau một buổi Tây đốt nhà vì bị bắn sẻ. Những đòn bánh tét
là tài sản quý báu duy nhất có thể mang theo được trong biết bao
lần chạy loạn mùa Xuân.
Mẹ tôi thường gói bánh tét
với dáng vẻ trì chí, đam mê và xông xáo của người thợ cả chí thú
với công trình giữa buổi thi công. Bao nhiêu lần gói bánh tét
Tết đi qua mà tôi vẫn chưa được cất nhắc lên một chức vụ quan
trọng hơn ngoài nhiệm vụ chùi phấn trên lá chuối. Tôi say sưa
và thán phục nhìn mẹ tôi trải lá, đổ nếp, đặt nhụy và gói bánh
thoăn thoắt. Đòn bánh tét mẹ tôi gói tròn trĩnh, đều đặn lớn
bằng lon sữa bò Ông Thọ và dài chừng hai gang tay, mười đòn như
một. Người góp phần tô điểm cho đòn bánh tét vẫn giữ được dáng
tròn đều từ khi ra khỏi lò tay mẹ cho đến khi nấu chín vớt ra
khỏi cái nồi bảy là anh Thiện. Anh có tài chẻ lạt hóp (4) buộc
bánh tuyệt vời. Sợi lạt mỏng, dẻo, vừa tầm, buộc vòng đôi và
nút đơn; cách nhau đều đặn chừng lóng tay. Nghệ thuật cột lạt
bánh tét quyết định cho vẻ đẹp tự nhiên của đòn bánh sau khi nấu
chín. Đòn bánh tét đạt tiêu chuẩn là chín mềm, không góc nào bị
nhão nước và không bị tình trạng „ỏng bụng“ như cô gái „eo gà
thành ra eo lợn“ vì áo may quá chặt.
Nhưng rồi chinh chiến vẫn
triền miên. Tiếng giã gạo hò vắng dần và những nam nữ thanh
niên trong làng bao nhiêu người phiêu bạt. Anh Thiện đi lính.
Tôi phải thay chân anh chẻ lạt buộc bánh tét cho mẹ. Rồi những
mùa Tết làng xưa, những đêm giao thừa gói bánh qua đi với cuộc
sống vô thường. Mẹ tôi cũng tới lúc qua đò phù du đi mãi không
về. Tôi rời quê hương qua Mỹ. Những đòn bánh tét năm xưa vẫn là
cột mốc tình cảm của người ở lại và kẻ ra đi. Cái bánh cổ truyền
đã vượt lên quá tầm của một món ăn truyền thống để thành một
biểu tượng của tâm hồn.

Xa Việt Nam là
xa luôn cái Tết. Cái Tết trên quê hương là ngày hội lớn của toàn
dân tộc. Cái Tết cũng có thể về với người Việt trên quê người,
nhưng đó chỉ là dấu hiệu tượng trưng trong gia đình hay lớn lắm
cũng chỉ là sinh hoạt đón Xuân trong nội bộ cộng đồng người Việt.
Xã hội xung quanh nơi xứ người chẳng ai để ý hay quan tâm đến
ngày Tết.
Làm sao tôi quên được mùa
Tết đầu tiên xa Việt Nam. Dù ở trên đất Tàu nhưng vẫn vắng bóng
mùa Xuân trong trại cấm Chi-Ma-Wan, Hồng Kông. Hình ảnh đòn
bánh tét đón Xuân ngỡ như sẽ vĩnh viễn không gặp lại trên những
vùng đất mới từ ấy. Mùa Tết thứ hai sau đó thì lại chợt xa mà
chợt gần bánh tét là lần đầu tôi định cư trên đất Mỹ ở thành phố
Baton Rouge, tiểu bang Louisiana. Một buổi gần trưa đi trên
đường phố Baton Rouge, người bạn kêu lên:
- Bên mình bây giờ là Giao
thừa!
Giao thừa không chỉ là tên
gọi của một giờ khắc từ năm cũ sang năm mới. Nó là cả một khung
trời đầy thiêng liêng. Phút đó, tôi nhắm mắt mường tượng trên
bàn thờ sực nức hương trầm có bóng dáng tổ tiên về ngự; có tiếng
pháo, tiếng chuông và tiếng lâm râm cầu nguyện. Tất cả chỉ còn
là một hoài niệm êm đềm khơi sâu thêm nỗi nhớ nhà quay quắt.
Tôi vội vàng ra chợ Việt
Nam. Những đòn bánh tét cuối mùa chưa bán hết vẫn nằm ỉu xìu như
những kẻ ngủ đường, ngủ chợ bị đánh thức giữa đêm. Đòn bánh tét
không có quá trình xôn xao gói, nấu cũng giống như tấm huy
chương không có lịch sử và bộ quân phục không có chiến công. Có
khác nhau chăng là một bên nếp và lá; còn bên kia là sắt, là vải
và sơn màu. Tôi quay mặt chỗ khác để khỏi nhìn nhau là bánh tét
giữa chiều 30 Tết Baton Rouge! Vắng mẹ, vắng quê hương hay vắng
một cái gì hơn thế nữa.
Có lẽ ngày xưa mẹ tôi, dù
là trong ước mơ hoang dại nhất, cũng không hề nghĩ rằng một ngày
đẹp trời nào đó, thằng con trai út vụng về như tôi chỉ quen yên
thân chùi lá chuối sẽ có ngày anh dũng vươn lên gói bánh tét!
Thế mà tới năm thứ ba sống trên đất Mỹ tôi đã liều mình làm
thật.
Gần Tết, nhìn những đòn
bánh chưng, bánh tét chợ của bạn bè biếu tặng nằm lạnh lẽo đợi
đón Xuân trong tủ lạnh, tôi lại nhớ một nhận xét của ai đó, nói
rằng, „chuẩn bị đón Tết vui hơn ăn Tết“ và „Tết có nằm khoèo
Xuân cũng qua“. Nghĩ vậy, tôi rón rén mở khóa mùa Xuân để tạo
một không khí đón Tết trong gia đình trên quê người. Tôi mua
giấy màu làm câu đối, qua hàng xóm xin Đào Mai (Quince) (5) để
chưng và hâm nóng linh hồn của việc tạo ra một không khí đón
Xuân cho gia đình là nấu bánh tét.
Tôi hồi tưởng lại và chuẩn
bị vật liệu gói bánh tét giống như mẹ tôi ngày trước. Nhưng có
khác chăng hôm nay là hình hài của đòn bánh tét không phải cô
gái quê lớn lên trên cánh đồng làng mà tôi từng quen biết. Tôi
phải làm quen với một hình ảnh mới. Dáng rất quen trong tâm ảnh
mà rất lạ giữa cuộc đời thường: Nếp thơm Thái Lan, lá chuối Hạ
Uy Di, đậu Đài Loan, thịt heo Mỹ, dây cột Mễ Tây Cơ. Lần đầu
gói được một đòn bánh tét tròn trĩnh, liền lặn không thương tích
từ đầu tới chân, tôi thưởng thức „tài gói bánh có hoa tay“ - như
lời „ma maison“ khen lấy khen để - thì ít mà nhớ mẹ thì nhiều.
Mỗi năm tới mùa Tết, những đòn bánh tét thời thơ ấu lại ngự về
trong tôi. Tay cột những đòn bánh tét mà nước mắt cứ chực chờ
chảy xuống. Mẹ tôi vẫn là bà tiên không chịu buông cây gậy thần
tình cảm. Cây gậy thần của bà tiên trong cổ tích đưa lên vẫy mưa,
rãi nắng có mùa xưa và giới hạn. Nhưng cây gậy tâm hồn của bà
mẹ Việt Nam là nguồn suối yêu thương bốn mùa không có quá khứ vị
lai. Tình mẹ là một hiện sinh cứ sẵn sàng như hơi thở. Đâu có
cuộc đời là có mẹ. Dù mẹ không còn.
Nếu cuộc sống chỉ đơn
thuần là vật chất thì người ta có thể an tâm hưởng một cái Tết
hoàn toàn Việt Nam trên đất Mỹ. Sau 30 năm xa xứ, những hạt
giống quê hương mang theo đã nẩy mầm và lớn dậy. Hầu như tiệm
thực phẩm Á Châu nào cũng bán đầy đủ các mặt hàng Tết Việt Nam
cả ba miền Nam Trung Bắc. Bánh chưng, bánh tét, bánh tổ; các
thứ bánh truyền thống; nem, chả, tré, khô nai, khô bò, khô cá;
mứt món đủ loại; kể luôn cả pháo đỏ, cau trầu, rượu trắng
ba-xi-đế mới ra lò; bài tới, bài chòi, bài vụ tôm cua, tranh mộc
bản gà lợn… cũng đều có mặt.
Hai hình ảnh của bà tiên
và bà mẹ đã nói lên cái có trong ta và cái có ngoài ta. Tết, Mẹ
và Đòn Bánh Tét là cái có trong ta, trong mỗi tâm hồn Việt Nam.
Dù thực thể hay biểu tượng thì cũng đã nằm trong máu thịt từ khi
mới ra đời, có thể hiện thế - thể hiện - nhưng không thể thay
thế. Tết Việt Nam trên đất Mỹ là một sự hiện thế chứ không thể
nào thay thế cho một cái Tết Việt Nam trên quê hương.
Dù có ngát hương trầm nơi
xứ lạ
Cũng không thay mùi đất
mặn quê nhà (6)
Người Mỹ có lễ Giáng Sinh,
Năm Mới, lễ Tạ Ân (Thanksgiving), ngày Tình Yêu (Valentine) ngày
của Cha, ngày của Mẹ, sinh nhật bản thân… lớn nhỏ có đến cả hàng
chục ngày lễ hội hàng năm để gia đình quây quần đoàn tụ, vui
chơi, trao tặng quà cáp và bày tỏ tình cảm. Với người Việt thì
tất cả những ngày đó dồn lại một ngày: Đó là ngày Tết Nguyên
Đán.
Và đòn bánh tét là „đòn
gánh quan hà“ để gánh những tâm hồn phiêu bạt suốt năm dài xa
xôi cách trở về lại với nhau trong ba ngày Tết. Từ phía bên nầy
biển Đông của mình mà „biển Tây“ của Mỹ, những tàu bay siêu
thanh của thời đại mới chỉ chở được con người và hành lý. Nhưng
đòn bánh tét mộc mạc gói trong nếp lá đơn sơ gánh được nỗi lòng
của những đứa con xa xứ như tôi về với Mẹ, với Cha, với anh em
bà con trên quê hương yêu thương; một thời mà mãi mãi.
Ý kiến, Phê bình xin
gửi về:
trankiemdoan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |