|
Từ sau
Tết Nguyên Đán, có một người đàn ông Tàu nói rành tiếng Việt
xuất hiện tại kinh thành Huế. Người nầy tự xưng tên là Hàn Kỳ
Vương, dòng dõi Hàn Tín. Hàn tự xưng là một ông vua đánh cờ
tướng đệ nhất kỳ vương trong thiên hạ. Bất kỳ đi đâu hay cả đến
lúc ăn lúc ngủ, ông ta đều mang bao gấm bên mình. Trong đó đựng
một bộ cờ tướng tối cổ, làm bằng "Tinh Huyết Thạch" là một lọai
đá sống đời và phát triển như sinh vật. Hàn Kỳ Vương tuyên bố
rằng ông ta chỉ đánh cờ với ai có sự nghiệp. Nếu thắng thì Hàn
Kỳ Vương chịu mất bộ cờ gia bảo, truyền đời. Nếu thua thì phải
giao trọn sự nghiệp cho Hàn Vương. Những tin đồn "chính quy" và
suy diễn, thêu dệt quanh bộ cờ, chủ nhân bộ cờ ngày một sôi nổi
và lan xa đầy tính huyền thoại và thách đố, nhưng cũng có khả
năng cuốn hút cảm tính của người nghe. Tuy chưa ai tận mắt thấy
được những quân cờ nằm im trong đãy gấm, nhưng người người kháo
với nhau rằng, những quân cờ có khả năng tự di động và phát ra
ánh sáng làm mờ mắt các kỳ thủ kém bản lĩnh. Lại có tin đồn là
những quân cờ phải được nuôi và tắm trong máu của "tam sinh"
trâu, dê, lợn hàng tháng.
Hàn Kỳ Vương kể đi
kể lại lịch sử và dòng dõi của mình rằng, tổ gốc của ông ta là
Hàn Tín, danh tướng khai quốc công thần nhà Hán. Năm 204 trước
Tây lịch, giữa mùa đông lạnh giá bên bờ sông Hồng Câu đóng băng,
quân Hán đóng quân đợi tiết xuân sang để tiến quân qua sông giao
chiến với quân Sở. Đối mặt với quân Hán, lập tuyến phòng ngự
sau những dãy đồi tuyết phủ, quân Sở cũng đang án binh bất động
chờ đợi và sẵn sàng nghênh chiến sau mùa lạnh. Đại nguyên soái
Hàn Tín mô phỏng theo môn chơi Thiên Biến Vạn Hóa (Chaturanga)
từ Ấn Độ, truyền qua Ba Tư theo đường tơ lụa đến Trung Hoa từ
thuở tinh mơ của lịch sử, để chế ra môn Tượng Kỳ là tiền thân
của Cờ Tướng. Suốt mùa Đông, quân sĩ nhà Hán chia phe chơi đấu
cờ. Bàn cờ cũng là chiến trường thu nhỏ. Nhờ vậy mà quân của
Hàn Tín tinh luyện đuợc nếp suy nghĩ và un đúc được khả năng
chiến lược và chiến thuật mềm dẽo và tài tình khi lâm trận. Khi
mùa Xuân đến, quân sĩ của Hàn Tín đã tiến công và phá vỡ được
trận tuyến của quân Sở, đem lại sự thắng trận vẻ vang cho quân
Hán.
Thế nhưng mãi đến
triều đại nhà Tống (960-1279), môn cờ tướng mới được canh tân và
hoàn thiện, nhưng trên bàn cờ thì dòng sông giữa hai phe theo
Tướng Điều hay Tướng Lát vẫn còn ghi dấu "Sở hà" và "Hán giới"
của thuở sơ khai.
Một nhánh của dòng
họ Hàn sản sinh những tay kỳ vương lẫy lừng trong thiên hạ và kế
tục truyền từ đời nầy sang đời khác cho đến ngày nay.
Ngày ngày, Hàn Kỳ
Vương cùng với các vệ sĩ và tay chân thân tín lũ lượt kéo đến
khắp chốn trà đình tửu điếm trong kinh thành. Càng không có
người đứng ra ứng đấu, thái độ thách thức đầy kiêu mạn của phe
Kỳ Vương càng tăng lên. Phe bình dân hay cờ, phe kẻ sĩ cao cờ,
phe kỳ sĩ danh cờ, phe ẩn sĩ tuyệt cờ... khắp kinh thành đều
rùng mình im lặng trước thực tế và huyền thọai lẫy lừng của bộ
cờ "huyết thạch" có lịch sử bách chiến bách thắng cả ngàn năm từ
Trung Quốc đem sang. Bộ cờ cũng là món gia bảo của dòng họ Hàn
vua cờ trong thiên hạ.
Trí Hải mơ hồ nghĩ
đến mình, nghĩ đến những gì không phải là mình và nghĩ đến một
cuộc cờ cuối cùng khó tránh khỏi. Dường như cũng đồng tâm trạng
với những tay cao cờ khắp xứ, Trí Hải và Phạm Xảo đều cảm thấy
như mình đang đối diện với một cuộc chiến vô hình đang diễn ra
trước mắt. Hàn Kỳ Vương đang xua đại quân đến giang sơn bờ cõi
của mình để khiêu chiến. Im lặng là mặc nhiên chấp nhận đầu
hàng, thua cuộc. Nhưng chiến đấu với một địch thủ có binh lực
bách chiến bách thắng, đầy khí thế hiển hách vừa cả uy, lại vừa
cả vũ như thế kia thì làm sao địch lại. Bàn cờ là một chiến
trường quy ước, binh tướng quân phân, ranh giới rạch ròi. Voi,
ngựa, tướng, sĩ đều phải nhất nhất tuân theo những hành động
tiến thủ đã thành nguyên tắc. Sức mạnh dồn tụ lại để tranh thắng
nằm ở bản lĩnh điều binh khiển tướng của hai tay "phù thủy" được
gọi là kỳ vương, kỳ thủ, kỳ sĩ… ra sức khuynh loát làm chủ
chiến trường.
Bên
cạnh bàn cờ những ngày sau đó, Phạm Xảo có lần hỏi Trí Hải:
- So
với Ấm Thuyên, hoàng hữu cao hay thấp?
Trí Hải
hồi tưởng và trả lời:
- Ý
huynh muốn nói cao thấp có nghĩa là ăn thua hay cao thấp về cái
tâm, cái trí và cái đạo của người chơi cờ?
- Nói
chung ấy mà.
- Cuộc
cờ là cuộc sống, có muôn nghìn vẻ khác nhau. Có đất tranh nhưng
không có đất chung giữa những con người chấp ngã. Người chơi cờ
chỉ cốt sát phạt ăn thua nhau là Hầu Kỳ (hành trạng của loài
khỉ, loài vượn ham ăn và bắt chước). Chơi cờ như một cách thực
hành điều binh khiển tướng là Tượng Kỳ. Chơi cờ như một cách
biểu thị cái ngã khoáng đạt, cái nhìn phiêu dật của mình là Tiên
Kỳ và chơi cờ như một sự thể hiện cái tâm rỗng lặng, cái chí an
nhiên của mình là Đạo Kỳ.
Ông lão
suy nghĩ một hồi về "cái đạo đánh cờ" và nói khó:
- Đánh
cờ như đánh giặc, thắng người hay bị người đánh thắng; sát người
hay bị người sát, làm gì có quân tử và tiểu nhân trên bàn cờ khi
hai bên đều thủ thắng.
Sau câu nói đó,
không có tiếng trả lời. Phạm Xảo nhìn quanh và nhìn qua Trí Hải
thì thấy ông ta đã ngủ, miệng lộ nét mĩm cười như đang nói:
"Biết rồi! Xưa nay vẫn thế!"
oOo
Sau
tiếng leng keng của cái chuông gió ngoài cổng chính báo hiệu có
khách đến, người hầu cận nữ vào trao cho Trí Hải tấm thiệp đỏ
được trang trọng bọc bằng một lớp giấy hoa tiên nền vàng. Thư
pháp của người viết có vẻ như học đòi những nét đá, nét mác, nét
nhấp nháy tài hoa và bay bướm của Vương Hy Chi. Văn phong biểu
lộ một tinh thần vừa trang nhã, vừa phóng khóang mà không kém
phần lịch lãm một cách đầy quyết đoán. Cuối thư ký tên là Hàn Kỳ
Vương.
Trí Hải
như đã mơ hồ thấy trước nên không có gì ngạc nhiên. Với một nội
dung rất ngắn trong thư, Hàn Kỳ Vương bày tỏ lòng hâm mộ khi
được nghe danh Trí Hải là một danh sĩ và cũng là một kỳ sĩ của
đất Thần Kinh, nên xin đến ra mắt thăm viếng nhân dịp Nam du.
Tấm thiệp nằm trên chiếc khay cẩn xà cừ như một tối hậu thư
không riêng với Trí Hải mà chung cho cả hàng danh sĩ kinh đô
đang im hơi lặng tiếng. Trí Hải phúc đáp : "Thuận. Trân trọng
kính mời."
Khách
đi rồi, Phạm Xảo đến gặp Trí Hải, bình luận đầy vẻ kích động:
- Hàn
Kỳ Vương thật là tự tin quá đáng. Hắn ta dám đến tận cả phủ
đường nầy để khích thần, dụ tướng nữa sao! Hoàng thân đã nhận
lời chưa, chiến hay hàng?
- Chỉ
là một cuộc chơi hơn thua qua trò thủy chiến trong ly nước lạnh
mà thôi. Có gì đáng để quan tâm chuyện chiến hay hàng!
- Hoàng
hữu ơi, đấu trường tri thức cũng như chiến trường gươm giáo.
Chốn gió tanh mưa máu đó, đâu phải là tình trường để nói việc ân
tình, nhân nghĩa đã chứ.
- Huynh
từ giã chiến trường đã lâu mà cuộc giao tranh vẫn còn tiếp diễn
trong lòng huynh dữ dội đến thế à? Không lẽ kiếp sống nầy chỉ là
một chuỗi những cuộc chém giết được biến tướng dưới muôn vàn
hình thức và sẽ không bao giờ kết thúc sao huynh?
- Có lẽ
tôi đã quen với số phận một mất một còn ngoài chiến trận. Thà
chết vinh hơn ù té chạy thoát thân trong lúc nguy khốn để sống
nhục là bản lĩnh đầu tiên của con nhà tướng. Ta phải đánh bại
tên kỳ ôn đó hay ta sẽ bị hắn đánh bại là điều làm tôi không ngủ
được trong lúc nầy. Hoàng thân có cao kiến gì không?
-
Không. Chẳng có gì quan trọng.
- Vậy
là chúng ta chấp nhận thua?
- Có
đánh thì có hơn thua. Không đánh thì không hơn thua.
- Như
thế có nghĩa là Hoàng hữu không muốn nhúng tay vào để giải quyết
cuộc cờ nầy?
- Nếu
chỉ để hơn thua thì không. Nhưng nếu để chấm dứt cuộc cờ thì có
thể…
- Ngày
xưa tôi cũng thuộc loại hay cờ, nhưng có lẽ so với Hàn Kỳ
Vương, tiếng tăm vang danh thiên hạ như thế thì tôi e mình không
đủ sức. Giữa cuộc đời biết mình biết người đã khó, trên bàn cờ
biết ta biết địch lại càng khó hơn. Những kiện tướng cao cờ thì
tay dịch một quân cờ nhưng trí đã nghĩ ra cả mươi đường công
thủ. Tôi nghe từ thời ấm Thuyên chưa bị hành hình, Hoàng thân là
đệ nhất kỳ thủ trong năm người đánh cờ hay nhất, gọi là "kỳ
vương ngũ hiệp", của đất thần kinh phải không?
Trí Hải
lắc đầu:
- Ván
cờ hay nhất là nửa ván cờ hòa.
Phạm
Xảo hiểu câu nói ấy theo ý mình và lẩm bẩm: "Lạ thật! Có trận
quyết đấu nào mà chẳng có ai đau, có cuộc cờ nào mà không có
người thua kẻ thắng. Để ta nằm trong địch và địch nằm trong ta
là một diệu pháp hay là một sự lạc lối vô hình khi biên giới
giữa ta và người biến mất?"
oOo
Đến
ngày hẹn, Hàn Kỳ Vương cùng nàng hầu thiếp xinh đẹp và ba vệ sĩ
đợi sẵn bên ngoài được mời vào Thái Ấp.
Hàn Kỳ
Vương vẫn đeo bên mình bộ cờ gia bảo đựng trong đãy gấm thêu
thùa rực rỡ. Khác với nét thư pháp phóng khoáng và lối viết đầy
uyển ngữ trong thiệp, Vương đời thường là một người hơi thô
cứng, đầy quyết đoán và đôi khi tỏ vẻ kiêu kỳ trong lối giao
tiếp.
Quà ra
mắt do người hầu thiếp trịnh trọng bưng trên hai tay là một đỉnh
trà nhỏ nhắn, trong đựng một loại trà thơm mà Kỳ Vương gọi tên
là Ô Long Kim Các. Vương giải thích rằng, trà Ô Long là một sản
phẩm địa phương của quê ông bên Tàu. Trà Ô Long có mùi thơm dịu
và vị ngọt trên đầu lưỡi sau chừng nửa tuần trà khai vị. Hương
vị trà được xếp hạng từ thấp lên cao là Ô Long điền dã, Ô Long
địa, Ô Long sơn, và Ô Long kim các. Trà Ô Long kim các là tuyệt
phẩm của Ô Long. Nó mang tên như vậy vì mùa thu đông khi có
tuyết, giống trà nầy được trồng trong những căn nhà lưới. Lá
vàng mùa thu rụng xuống tấp thành lớp dày trên mái, có sắc vàng
rực rỡ như những gác vàng của bậc đế vương.
Bên
những chén trà bốc khói, trong bầu không khí yên tĩnh của căn
phòng khách bày biện đơn sơ nhưng trang nhã và ấm cúng, những
câu chào mời và thăm hỏi xã giao dùng dằng nghi lễ hình thức rồi
cũng qua đi. Hàn Kỳ Vương vào đề mục chính của cuộc viếng thăm:
- Thưa
Hoàng thân đại nhân, nhân dịp được viếng một nhân vật tiếng tăm
như ngài, không dấu gì đại nhân, tôi có mang theo đây một bộ cờ
tướng rất quý hiếm của dòng họ nhà Hàn chúng tôi. Bộ cờ nầy có
từ cả nghìn năm trước và đã lẫy lừng ngang dọc. Bộ cờ được các
danh sĩ kỳ vương tại Trung Hoa và quý quốc lân bang chiếu cố
dùng đến trong những ván cờ tuyệt đấu. Trong chuyến Nam du nầy,
được đặt chân đến kinh đô của quý quốc, chúng tôi chỉ mong có
dịp hầu cờ với các bậc chân nhân kỳ thủ. Nhưng đến nay hầu như
vắng bóng. Hôm nay tôi mạo muội đặt chân đến quý tư dinh với
lòng ước ao được hầu cờ với ngài đôi ba nước. Nếu đại nhân có
nhã hứng chơi cờ thì xin được cùng ngài khai cuộc.
Trí Hải
không quan tâm nhiều đến vẻ mặt hiêu hiêu, ra bộ nhún nhường
nhưng đầy kiêu hãnh của Vương và những người xung quanh. Không
quanh co, Trí Hải nói thẳng:
- Cám ơn Hàn gia đã
quá bước đế thăm. Nhưng sơ giao cũng là sơ ngộ. Mới gặp nhau
mà đã tính chuyện hơn thua thế nầy thì e rằng có vẻ hơi vội vàng
và hiếu động. Tôi vốn quý lòng hiếu khách chứ không chuộng hiếu
động nên xin quý khách miễn lễ tiếp cờ cho.
- Cầm kỳ thi tửu
vốn là cái thú tiêu khiển thanh lịch của hàng tao nhân mặc khách
xưa nay chứ có gì nghiêm trọng đâu mà đại nhân ngại như thế?
- Thế có nghĩa là
tin đồn rằng, Hàn gia dùng môn đấu cờ như một đạo quân chinh
phục chứ chẳng phải là một thú tiêu khiển thanh lịch là không
đúng sao?
Kỳ
Vương chỉ nhắc lại một cách ngắn gọn rằng:
- Đây
chỉ là một truyền thống có từ lâu đời. Thắng thì làm chủ bộ cờ
tinh huyết thạch. Còn thua thì phải giao hết sự nghiệp về tay
Hàn gia.
- Cả
nghìn năm đi qua nhưng bộ cờ vẫn còn đó. Như thế có nghĩa là từ
xưa đến nay chưa hề có một đấu thủ nào thắng để lấy bộ cờ ra
khỏi tay Hàn gia?
- Thưa,
đúng vậy. Chưa bao giờ có ai đáng bại Hàn gia cả!
- Theo
Hàn gia, thế nào là sự nghiệp?
- Ai
cũng hỏi câu nầy nhưng khái niệm sự nghiệp của chúng tôi có hơi
khác. Thông thường người ta cho rằng sự nghiệp là những công
việc to lớn, có ích lợi chung và lâu dài cho xã hội. Nhưng chúng
tôi lại cho rằng sự nghiệp của một người là sự giàu có thật sự
của người đó.
- Phải
là phú ông, triệu phú mới là người có sự nghiệp chăng?
- Thưa
không, triệu phú là người có nhiều tiền chứ không phải là kẻ
giàu có. Khổng Tử, Lão Tử… là những người có sự nghiệp lớn lao
nhưng chẳng ai để ý là các ngài đó có đồng xu nào dính túi hay
không. Sự giàu có tính trên giá trị và phẩm chất thực sự của
con người chứ không thể đo bằng tiền bạc.
- …?!
Như
hiểu được câu hỏi vừa dấy lên trong lặng im, Hàn Kỳ Vương vội vã
khoác tay:
- Chỉ
riêng với Hoàng thân thì chẳng có luật chơi hay quy ước nào cả.
- Vì
sao không?
Hàn Kỳ
Vương lim dim suy nghĩ một lát, ngó quanh những người xung quanh
một lượt rồi trả lời, giọng có vẻ thành thật:
-
Nguyên bộ cờ gia bảo của Hàn gia chúng tôi được làm bằng tinh
huyết thạch. Đó là một loai đá sống đời. Đá có sự ăn uống và
phát triển như một loài sinh vật cao cấp. Hàng năm đá phải được
"ăn" một lần bằng cách ngâm vào huyết tươi ba ngày đêm. Thời xa
xưa, đá được bón bằng huyết tươi của người trinh nữ. Nhưng kể
từ 10 đời Hàn tộc trở lại đây thì hàng năm các quân cờ chỉ được
ngâm trong huyết tam sinh thay vì trinh nữ huyết. Bên cạnh cái
ăn, đá phải được "chơi". Đá đã được đẽo thành quân cờ nên cứ
đúng chu kỳ một năm, nếu chưa có trận đấu nào diễn ra, thì ít
nhất là bộ cờ phải được bày ra một lần trước mắt một danh sĩ hay
cờ tại nơi mà các quân cờ đang ngụ…
Trí Hải
mĩm cười:
- Lúc
này, tôi không còn quan tâm đến thú tao nhã đánh cờ mua vui, dù
cho tôi hay cho Hàn gia cũng vậy.
Vương
còn đang lúng túng thì Trí Hải đã nói tiếp với giọng lịch thiệp
nhưng đầy khẳng quyết:
- Mớ đá vô danh
được đẽo gọt thành bộ cờ gia bảo của Hàn gia đã phung phí quá
nhiều máu lệ của người đời. Tôi chỉ có một ước mong công bằng
là nếu thắng được mớ đá độc ác nầy, tôi sẽ ném nó về với nguồn
cội sỏi đá vô tri của loài khoáng vật mà thôi.
Hàn Kỳ Vương giọng
nửa như mời mọc, nửa như mĩa mai:
- Thật là đại hạnh
cho Hàn gia chúng tôi được hoàng thân chiếu cố ra chiêu song
đấu…
Một
khoảng trống im lặng kéo dài sau lời Trí Hải. Không rõ người
nghe ngạc nhiên hay xúc động.
Người
phá sự im lặng đầu tiên là Phạm Xảo. Từ phía trong đi ra, ông
già cúi mình thi lễ và đến trước mặt Trí Hải, đặt cả hai tay lên
ngực với một cử chỉ hàm ý tạ ân. Dáng ông lão trịnh trọng theo
kiểu cách của một đại thần lương đống trong triều đình dâng sớ
chém nịnh thần và được nhà vua "chuẩn tấu!"
Bỗng
nhiên tiếng cười vang lên. Tiếng cười bật ra từ phía Hàn Kỳ
Vương, lan qua đám vệ sĩ và truyền dần đến người tì thiếp xinh
đẹp của ông ta. Tiếng cười như đánh động một nguồn cảm hứng dồn
tụ lâu ngày, gặp phút hưng phấn đang bừng bừng trỗi dậy. Tiếng
cười vang, to, rũ rượi, nghiêng ngữa… của sự tức giận dấu dưới
vẻ chan hoà hay nỗi đau đớn làm ra vẻ thống khoái thể hiện qua
những nếp nhăn trên từng khuôn mặt khô khan và gắng gượng của
người cười. Gián tiếp như một sự thách đố, Hàn Kỳ Vương nói với
Trí Hải:
- Thưa
hoàng thân, ngài quả là một danh sĩ có khí tiết hiếm hoi thời
nay ở đất thần kinh văn vật nầy mới dùng đại ngôn với Hàn gia kỳ
vương như thế. Mong rằng lời nguyền khẩu khí của ngài sẽ không
kết thúc bằng sự thất bại đau đớn mà tất cả những đối thủ của
Hàn gia chúng tôi, không sót một người nào, đã lần lượt nếm trãi
trong cả nghìn năm qua. Một lời hứa của ngài phát ra là số phận
đã đặt trên bàn cân: Hoặc là bàn cờ tinh huyết thạch gia bảo
của Hàn gia, hoặc Thái ấp của Hoàng thân sẽ bị biến mất khỏi
cuộc đời này.
Đối
diện với phía Hàn Kỳ Vương đang khích động như vừa bắt trúng mối
cá lớn, Trí Hải nhấp chén trà Ô Long vừa mới được pha lên. Mùi
trà dẫn trí tưởng tượng của ông về một phương xa. Sự an nhiên
của Trí Hải càng thôi thúc tâm trạng nôn nóng đang cháy bỏng
trong lòng Hàn Kỳ Vương về một cuộc cờ sắp đến. Vương trịnh
trọng lên tiếng:
- Chúng
tôi từ phương xa lại, thủy thổ chưa quen, thời khí chẳng rõ.
Vậy dám mong Hoàng thân đại nhân cho biết tôn ý về ngày giờ và
địa điểm của cuộc gặp gỡ sắp đến.
Trí Hải
xác định:
- Tiết
trùng cửu. Đầu giờ Tuất. Gióng đò trên sông Hương.
Hàn Kỳ
Vương bấm đốt tay, tính nhẩm, nhíu mày lên tiếng:
- Ngày
chín, tháng chín là ngày mưa lụt ít khi tránh khỏi hàng năm tại
đất nầy, nên mới có câu: "Tới ngày trùng cửu không mưa. Cha con
làm ruộng bán cày bừa mà ăn." Lại thêm giờ Tuất thì trời đã tối
mịt. Giong đò trên sông Hương chòng chành khó khăn ổn định, làm
sao chúng ta tìm được không khí hoàn toàn yên tĩnh để khỏi bị
chi phối vào cuộc cờ?
Trí Hải
trả lời thản nhiên:
- Cùng
thuyền cùng hội, khó dễ chẳng riêng ai.
Vương
như sợ bỏ lỡ cơ hội, lên tiếng:
- Phía
Hàn gia chúng tôi xin đồng thuận. Vậy là còn đúng ba tháng nữa…
oOo
Tin
Hoàng thân Trí Hải sắp đấu ván cờ gần như chung cuộc với Hàn Kỳ
Vương là một đại biến cố đối với mọi người. Giới hoàng thân
quốc thích coi đây như là một sự thử thách đầy quyết liệt đối
với danh dự và thế lực của hoàng gia. Giới quan triều cảm thấy
như đây là một cuộc chiến tranh đấu trí giữa hai nước. Giới sĩ
phu thở phào vì không khí im lặng nghẹt thở của sự thách thức
tinh thần được giải tỏa. Quần chúng thì nô nức đón mừng sự cố
như một phản ứng giải phóng mặc cảm thế yếu của ta đối với Tàu.
Ván cờ quyết định số phận một mất một còn của Thái Ấp và bộ cờ
tinh huyết thạch của Hàn gia bên Tàu lan rộng từ trong triều cho
đến ngoài nội rất nhanh. Trong không khí thâm nghiêm của cung
đình và nếp sinh họat phẳng lặng của một xã hội nông nghiệp,
nguồn tin nầy bừng lên như một ngọn lửa rực rỡ làm lu mờ hết mọi
thứ. Không một ai nghi ngờ phẩm cách cẩn trọng và tài năng
thông tuệ của Trí Hải. Nhưng hầu như mọi người đều nơm nớp lo
sợ trước sự ám ảnh của bộ cờ đầy huyền thọai và lịch sử đấu cờ
siêu quần, vô địch của Hàn gia.
Những
danh sĩ cờ tướng thần kinh và giới hoàng gia, sĩ phu… từ khắp
nơi kéo về chốn thần kinh, cố tìm đến dinh ông hoàng để hiến kế,
hỗ trợ, chúc lành cho Trí Hải. Lòng tự hào dân tộc ngủ sâu
trong lòng nước bỗng vươn mình thức dậy. Một ván cờ tàn mua vui
chẳng ai chú ý; nhưng một ván cờ quyết đấu giữa hai danh sĩ của
hai nước lại trở thành một biểu tượng mới vượt ra ngoài biên
cương cảm tính nhất thời. Những tấm lòng hào sảng mới đến sẵn
sàng cho tất cả những gì mình có để chỉ mong được nhận một chút
bóng dáng mình mơ. Nhưng tất cả đều thất vọng ra về khi cửa dinh
vẫn đóng im lìm và người canh cổng cũng vắng bóng. Lá rụng đầy
sân. Đèn nhà không thắp sáng.
Trong
bóng tối và đèn chài soi cá hai bên bờ sông Hương, đêm đêm suốt
cả mùa trăng, xuất hiện một chiếc đò lớn. Chiếc đò che kín mui,
buông chèo để mặc trôi lờ lững trên phía thượng nguồn sông
Hương. Từ trong đò có tiếng trao đổi khi nhanh, khi chậm, khi
đuổi dồn, khi cách khoảng rất lâu và có lúc thì thầm, lúc bay
bỗng đầy thống khoái của hai người đàn ông say sưa đánh những
ván cờ mù. Đó là Trí Hải và Phạm Xảo đang luyện cờ như luyện
kiếm. Bàn cờ và những thế cờ biến ảo của hai cao thủ nằm ở đâu
đó vô hình nhưng hằn sâu trong trí nhớ. Những ván cờ mù đã tiêp
diễn giữa Trí Hải và Phạm Xảo gần hết cả mùa trăng. Phạm Xảo
trở nên sinh động, khi quyết liệt xông xáo như thời trai trẻ;
khi trầm tư ẩn nhẫn như thuở hết thời. Những nước cờ biến hiện
khi tấn, khi thoái, khi thủ, khi công… mang nguồn sinh lực năng
động của trí óc về với ông già. Giữa mỗi cuộc cờ là một sự hiện
hữu. Ông gìa quên đi sự ám ảnh ngày ra đi vừa ẩn hiện trong góc
tối trăm năm của đời mình. Phạm Xảo càng linh hoạt trong những
cuộc cờ tập trận thì Trí Hải càng thờ ơ trước những nước cờ
thượng phong đầy ưu thế. Phạm Xảo càng trầm trồ bái phục tài
"đơn xa sát vạn, song mã công thành" của Trí Hải chừng nào, càng
ngỡ ngàng thấy rõ tinh thần của vị hoàng thân đang lơ đãng gần
như xuống dốc đến hồi thấp nhất.
Trong
tâm thức trầm lắng và sâu xa, Trí Hải suy niệm về vòng lẩn quẩn
của những ván cờ biến hiện không ngừng. Cũng vẫn những quân cờ
tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã… điều động bởi những đầu óc bừng
bừng chất lửa, hai đấu thủ mang hai cái tôi to ngút trời quyết
đấu. Mỗi bên đều quay quắt trong biển lửa, cố thiêu sống nhau
bằng những đòn cay độc nhất. Bên cạnh tài ba cao thấp, vẫn
thường xuyên đối mặt với sự thăng trầm phi lý của hoàn cảnh rủi
may; của tài năng được thời, thất thế. Kẻ thắng, người thua
quần thảo nhau không khoan nhượng. Hết cuộc này, bày cuộc
khác. Tất cả trôi đi và trở lại với cùng khuôn mặt trơ lì ngày
càng loanh quanh và mệt mỏi. Hai tay cao cờ đệ nhất như Hàn Kỳ
Vương và Trí Hải gặp nhau, tất nhiên rồi cuối cùng cũng có người
thua kẻ thắng. Bàn cờ không còn là nơi tiêu khiển nữa mà trở
thành chiến địa chốn sống tình người. Rồi đây, Trí Hải là bại
tướng không đất dung thân hay Kỳ Vương là kẻ mang tội làm điếm
nhục gia phong vì không bảo vệ nổi bàn cờ gia bảo. Trí Hải như
muốn ngộp thở khi nghĩ đến mạng lưới hệ lụy nhân sinh đang vây
bủa lấy những con người. Có chăng một khung trời tự do trong
cái cũi sắt vô hình nhưng không có lỗ thưa cho tâm hồn chui lọt
đó.
Đến hết
cuối mùa trăng tháng sáu thì Trí Hải không còn muốn nhắc đến
những con cờ với Phạm Xảo hay với bất cứ ai. Ông trầm tư nghĩ
đến những ván cờ một mình. Hết cờ rồi lại cờ. Đầu óc Trí Hải
dày đặc với những con cờ, những cuộc cờ, những kẻ chơi cờ. Tất
cả chợt biến và chợt hiện bềnh bồng đâu đó. Cờ reo trong gió,
cờ đeo vào mây, cờ lung lay theo trái chín, cờ rụng xuống với
những giọt nắng quái và lá vàng đầu thu. Đêm mất ngủ vì cờ,
ngày quằn quại vì cờ. Những quân cờ quái ác vả vào mặt Trí Hải
những đụng chạm mơ hồ nhưng rát mặt. Những ván cờ độc chiêu hết
đường công phá xoắn lấy cân não không chịu buông tha.
Đã qua
nhiều đêm Trí Hải dồn hết khả năng tinh thần và trí óc như một
thiền sư để quán niệm về… cờ. Một nước cờ biến ra thành 10 nước
khác. Mười nước cờ khác lại biến ra thành một trăm, một nghìn,
một vạn, một muôn, một triệu, một ức, một khối… và cứ thế Trí
Hải suy niệm đến 100 lần, cứ mỗi lần sau nhân lên gấp 10 lần
trước. Nhưng phía đối thủ vô hình bên kia vẫn quyết liệt đón
đầu phản công theo mỗi nước. Hai bên vẫn giằng co nhau không
phân thắng bại. Trận quyết đấu âm thầm nhưng dậy sóng ba đào
khủng khiếp trong lòng Trí Hải.
Hết suy
tư về chiến thuật, chiến lược, Trí Hải lại thả trôi nguồn suy
tưởng của mình về triết lý đánh cờ. Mỗi lần trôi dạt miên man
như thế, Trí Hải lại nhớ về Paris, nhớ những ngày đánh cờ Tây
với hoàng tử Cảnh, nhớ những ván cờ xóm đêm với giới thợ thuyền
lao động quanh hè phố, mù trời khói thuốc Gaulois. Có hẹn từ
đầu non lịch sử hay không hẹn mà gặp. Cả hai bộ cờ Tây và cờ
Tàu đều có 16 quân cờ cho mỗi phe lâm trận. Cờ Tây 8 lính, cờ
Tàu 5 lính. Ngự tại bản doanh thì cờ Tây có một vua và một tể
tướng, cờ Tàu có một tướng và hai sĩ. Cờ Tây và cờ Tàu đều có 3
cặp voi, ngựa, xe. Cờ Tây không có súng mà cờ Tàu lại có súng.
Vua, tư lệnh chiến trường trong cờ Tây, rất năng động và xông
pha tung hoành trên mặt trận, trong khi Tướng tư lệnh chiến
trường trong cờ Tàu hầu như bị giới hạn ràng buộc tại bản
doanh. Lính trong cờ Tàu sang sông để mà hy sinh, bỏ mạng.
Lính trong cờ Tây có cơ hội được vinh thăng lên hàng tướng lãnh
nếu chiếm lĩnh được những vị trí chiến lược sau cùng trên đất
địch.
Trí Hải
nghĩ đến cái gốc của cờ tướng phát nguyên từ Ấn Độ, qua Trung
Đông, đến châu Âu từ thời trung cổ. Đất Ấn là chiếc nôi của
những nguồn lý thuyết siêu nhiên thần bí phương Đông và cổ Hy
Lạp là chiếc nôi của lịch sử thần thọai phương Tây. Cờ tướng là
một trò chơi tinh thần và trí tuệ để kéo con người và thần linh
trở về với thực tại của cuộc sống. Đối mặt nhau trên bàn cờ là
đối mặt với sự suy tư và sáng tạo. Vì có suy tư và sáng tạo nên
con người mới hiện hữu và kéo được thần thánh từ thiên giới trở
về trần. Trò chơi "Thiên biến vạn hóa" nầy rất gần với quan
niệm "ngã sở, ngã tính" trong nhiều môn phái triết học nguyên
thủy của Ấn Độ từ thời xa xưa, trước cả khi Phật giáo ra đời.
Nó thay hình đổi dạng linh động theo hoàn cảnh mà không khư khư
bám trụ vào cái "Ta - ngã sở" nguyên thủy của mình. Trò chơi
biến hoá như một loài bạch tuộc ma trơi, không có một định tính
rõ ràng mà có thể thay hình đổi dạng biến hiện không ngừng. Khi
đến đấ Tàu, nó thành Tượng Kỳ, qua Nê Pan, Tây Tạng biến thành
"Bụt Chỉ" (Buddhi Chal), vào Nhật thành Tướng Kỳ (Shogi), sang
Thái thành Mã Khúc (Makruk), tới Đại Hàn thành Hàn Kỳ (Jianggi)…
Trí Hải suy nghĩ về sức mạnh và tài năng của những tay cao cờ
tuyệt luân, những kỳ vương Bắc đẩu.
Những
tay cờ dòng dõi Hàn gia tiếp nối nhau đánh bại thiên hạ từ đời
nầy sang đời khác là do đâu? Câu hỏi cứ lẩn quẩn như một ẩn số
không có lời giải. Xưa nay, những nhân vật lẫy lừng trong
thiên hạ ngoài tài năng kiệt xuất, còn phải có thủ thuật và bí
mật chinh phục, thủ thắng khó so bì. Cờ tướng vừa là một cuộc
đấu khả năng vận dụng cực kỳ lịnh hoạt và bén nhạy của trí; vừa
là một cuộc thử thách quyết liệt sự kỳ diệu của tâm. Tâm an
tịnh thì trí siêu thoáng; tâm bấn lọan thì trí mê cuồng; tâm sâu
hiểm thì trí tà độc. Thế nhưng, những chiến thuật và chiến lược
trong cờ tướng: Kế sâu, mưu hiểm, đòn ma, chước quỷ đều được tận
dụng. Quỷ kế của ma vương hay kỳ mưu của bậc thánh đều được
khâm phục trong thuật chơi cờ tướng, miễn sao đạt chiến thắng
sau cùng là thành công, là đánh bại được đối phương. Người ta
quan niệm dễ dãi như thế vì thù địch và xương máu trên bàn cờ
chỉ là giả ảnh của cái đa mưu túc trí ở giữa cuộc cờ. Cái chết
sẽ sống lại và sự chiến bại có thể phục thù. Nhưng trận cờ
quyết đấu với Hàn gia là con đường mòn một chiều qua núi vì hai
đối thủ trên bàn cờ sống thật và chết thật, dù sống chết dưới
hình thức nào đi nữa thì một đi là mất lối quay về. Chết rồi
không sống lại và chiến bại không còn cơ hội phục thù.
Những
đêm sâu quán tưởng về cờ giúp Trí Hải mở dần những vòng trói
buộc của những thế cờ trong trí tưởng. Những thế cờ kim cổ ghi
trong sử sách như Kỳ Diệu Thư, Tượng Kỳ Bí Sử, Diên Tử An, Quất
Trung Bí, Mai Hoa Phổ… là những thánh thư binh pháp của Trung
Hoa trong cờ tướng. Đó là những truông hiểm, ghềnh sâu, vực
thẳm, huyệt địa, điểm xoáy của dòng sông trôi chảy. Và đó cũng
là những cẩm nang, bí kíp truyền đời để dụ địch thủ vào dòng
xoáy mà nhận chìm thuyền vào tử địa của trận đồ đã được mai phục
sẵn sàng, không lối thoát. Vẻ bình lặng trên bàn cờ chỉ là ảnh
ảo để che mắt một trường sóng gió khi ẩn khi hiện, khi thật khi
hư mà những kỳ vương đã dạn dày "mặt phong trần nắng rám mày
râu…" phải e dè và cẩn trọng.
Một
tháng đã đi qua, sự suy tưởng về cờ khi loé lên, khi chập chờn
nhưng chưa một phút lụi tàn trong đầu làm Trí Hải liên tưởng đến
5 lối đánh cờ trong sách Kỳ Vương Lục của Vương Giản Chi đời
Minh bên Tàu: Tiên kỳ, hội kỳ, phiếm kỳ, tượng kỳ và tuyệt kỳ.
Tiên kỳ là những cuộc cờ đầy huyền thọai của tiên ông. Như Hoàng
Thạch, Xích Tùng chơi cờ cùng gió cùng mây. Bàn cờ tiên đặt
trên thạch bàn trong hang động. Các tiên ông mỗi năm chỉ hội
ngộ một lần vào đêm Trung Thu nhưng các thế cờ vẫn đi luân phiên
không ngừng nghỉ. Mỗi ông tiên có dịp dừng chân đi một nước
trong cảnh núi thẳm mây bay "bạch vân thiên tải không du du" man
mác một mình. Có khi hai nước cờ cách nhau cả mấy mùa trăng.
Những ván cờ không phân biệt "ta" với "người" mà sự kết thúc
mang lại niềm thống khoái thoát tục cho cả hai vị cờ tiên như
giờ đắc đạo. Tuyệt kỳ là những trận thư hùng của hai cao thủ
với những nước cờ thiên biến vạn hóa. Thế nhưng "… nước cờ nào
cũng đòi hỏi sự bao bọc sít sao như vỏ lúa bao quanh hạt gạo.
Hở một ly là tạo ra một khoảng cách từ biển đến trời", như lời
của Vương Giản Chi trong sách luận về nghệ thuật đánh cờ.
Y niệm
"thắng ván cờ như giờ đắc đạo" chiếm ngự hết ý nghĩ của Trí
Hải. Cái Đạo của phương Đông mới là cái gốc của cờ. Đạo là sức
mạnh uyên nguyên, là gốc của Dịch. Dịch là tác nhân của Âm
Dương để tạo ra tư tưởng, ý thức và hành động. Hàn gia dùng bàn
cờ để chiếm ngọn mà nhổ bật gốc nên đã tạo ra cái thế "loạn kỳ"
trong thiên hạ. Nên những thế cờ của Hàn Kỳ Vương là những ngọn
cuồng phong, là thế tiến công, là uy lực chinh phục.
Trong
tâm y lý thường lấy khinh an để trị tác loạn. Trong binh thư
cũng có nói: "Biết dấy động đến chín tầng trời, cũng bằng biết
dấu mình dưới chín lớp đất." Ra quân với Hàn Kỳ Vương không
phải chỉ đấu cờ đơn giản bằng cách di chuyển, tạo thế những
quân cờ sắp sẵn trên bàn cờ mà cần phải biết dùng "đạo kỳ" để
đem cái tâm lặng lẽ mà dẹp cái gốc ồn ào dấy loạn. Nhưng biết
tìm cái tâm lặng lẽ ở đâu mà dựa; biết tìm cái trí an tịnh ở đâu
mà làm vũ khí. Trí Hải càng cố nhắm mắt trầm tư thì những vọng
tưởng lại hiện đến. Tạp ý khi phất phơ như gió nhẹ, khi khởi
động như đám mây giông. Chúng kéo đến ùn ùn làm cho trí óc xiêu
đổ như muốn nổ tung thành sấm dậy.
Trí Hải
càng cố giữ tâm não trống không, những tạp ý càng khởi lên cố
lấp đầy chỗ trống. Trí Hải cố quay đi để tránh, những tạp ý cứ
săn đuổi bén gót. Người ta có thể dễ dàng xua đuổi một con voi
nơi bìa rừng, nhưng lại khó khăn rủ bỏ bầy kiến trong ý niệm.
Chân cứ sãi dài bước đi thoăn thắt, nhưng đầu không biết đi về
đâu. Ra khỏi Thái ấp, qua khỏi mấy đồng lúa và theo lối mòn của
vùng nương rẫy, Trí Hải men theo con đường đất đỏ, đá sỏi nhấp
nhô. Cuối dốc lên độn sim, độn móc là lối mòn dẫn tới chân núi
Trường Sơn. Mặt trời đang xuống dần bên phía Trường Sơn Tây
nhắc nhở cỗ xe thời gian đang tụt dốc bên kia sườn đời của tuổi
50. Nắng xế chiều cắt ngang những ngọn cây cao, trả hai phần
bóng mát lại cho phía đông Trường Sơn xanh mướt cây rừng trùng
điệp.
Có nhà ai gần chân
núi đang lên khói. Len lõi qua hốc đá và cây rừng tìm lại gần,
Trí Hải chỉ thấy một người đốt than đang bưng nước suối trong
ống lồ ô để dập tắt hầm than cháy đỏ. Cũng chẳng để ý có người
đang lại gần, người đốt than có vẻ như đang chú mục để hết tâm ý
vào công việc. Trí Hải cũng không muốn khuấy động bầu không khí
yên tĩnh chỉ có tiếng gió rừng chiều và tiếng xèo xèo của nước
dập tắt lửa. Thế nhưng khuôn mặt tự tại và phẳng lặng, cũng như
dáng vẻ tươi tắn, linh hoạt của người đốt than giữa một thời
điểm về chiều đầy mệt mõi trong ngày có một sức thu hút vô hình
níu chân Trí Hải lặng lẽ dừng lại. Thật khó mà đoán biết được
tuổi tác của người đàn ông đốt than. Nét từng trãi của tuổi già
hòa quyện với nét măng tơ của tuổi trẻ làm cho ông ta có một vẻ
gì vừa đáng kính vừa đáng yêu. Tay chân ông ta làm việc thoăn
thoắt. Dáng khoan hòa và tươi cười rạng rỡ với chính mình và
cảnh vật xung quanh. Khi bếp than tắt lửa và những sợi khói
mỏng cuối cùng kéo lên ngọn cây bay xa, người đốt than ung dung
leo lên phiến đá phẳng ngồi xếp bàn và nhắm mắt. Ngủ. Trí Hải
không thể hình dung ra có người lại vô tư và đơn giản đến như
thế. Trí Hải mệt mõi ngồi xuống cách một quảng không xa với
người đốt than. Dáng ngồi vững chãi và phong thái hoàn toàn
tĩnh lặng của ông ta chinh phục cả sự xao động về chiều của rừng
cây lá. Trí Hải nhìn bức tượng người đốt than, nhìn quanh cây
lá không màng đua chen danh lợi và nhìn lại mình. Ông ngạc
nhiên khi đọc được nỗi bất an đang vây bủa lấy mình. Tại sao
bao năm qua ông cố đi tìm một sự an trú tạm thời trong đời
sống. Lớp sóng cũ vẫn còn gợn lăn tăn, ông lại để cho những đợt
sóng mới phủ lên mình những ngọn trào vật vã. Vì vật cản trên
đường đi cần phải dọn hay vì những thách đố phù du?
Trí Hải
cảm nhận như có những làn sóng vô hình từ phía người đốt than
đang ngủ ngồi trên phiến đá tỏa ra. Ông nhận ra sự yếu đuối của
mình và cố co lại để che cho cái tự tính đầy quanh co và phản
kháng đang bị chinh phục. Khối lặng im của rừng núi mạnh hơn là
tiếng lao xao của thế giới người nhỏ bé dưới kia. Trí Hải cảm
thấy như mình nhỏ lại. Chút kiêu hãnh nông nổi bọt bèo tan
loãng. Ông líu ríu ngồi xuống để nép mình vào sự im lặng của núi
rừng. Đầu óc dày đặc những ý nghĩ về cờ, về tranh thắng, về thủ
hòa mỏng dần ra. Trí Hải có cảm tưởng như hơi lạnh của rừng
chiều và cơn gió rừng thu ngát mùi tràm chổi đang thổi vào những
khoang trống. Đó là không gian nội tâm vừa mới được khai thông
trong dòng suy nghĩ còn vướng mắc bao nhiêu chuyện hơn thua giữa
cuộc đời nầy.
Trên
phiến đá, người đốt than vừa mở mắt đứng lên. Anh ta tươi tĩnh
và chẳng có vẻ gì là vừa ngủ dậy. Anh rời chỗ ngồi, đến bới hầm
than và chỉ nhặt một ít, rồi hốt bỏ vào cái bao đệm xách tay
nhỏ. Anh ta nhìn trời, miệng hát nho nhỏ, không màng nhìn lại
cái hầm than còn đầy do công khó anh ta làm ra, rồi xách bị than
lửng thửng đi về. Bước ngang qua Trí Hải anh ta vẫn tươi cười,
miệng hát nho nhỏ, thản nhiên như thể thêm sự hiện diện của một
người nào đó trong khu núi rừng nầy cũng cũng chỉ là thêm một
cục đá trong vô số cục đá vô tri, hay là thêm một gốc cây trong
muôn vạn gốc cây rừng sinh và diệt chằng chịt muôn năm chẳng có
gì đáng để ý.
Trí Hải
lên tiếng trước:
- Chào
bác tiều. Tình cờ đi ngang qua đây, tính ra mắt chào bác mà bác
ngủ say quá nên tôi ngồi đây lâu rồi. Bác ngủ mà lại giống như
ngồi thiền, hay thật!
Người đốt than
dường như không nghe lời dạo đầu lịch sự của Trí Hải, hỏi lại:
- Thiền
là cái chi?
Một câu
hỏi gần như ngớ ngẩn phát ra từ một khuôn mặt có vẻ thông minh
làm Trí Hải muốn bật cười, nên trả lời rằng:
- Thiền
là cái trí giữ nhà và cái tâm đi ngủ!
Người đốt than gục
gặc đầu:
- Đứa
thức, đứa ngủ thì đứa nào quét nhà?
- Đứa
thức không xả rác, đứa ngủ khỏi quét nhà.
- Đứa
nào mê đứa nào tỉnh?
- Đứa
nào làm tròn việc của đứa đó thì thức là thức, ngủ là ngủ, chẳng
có mê hay tỉnh.
Người
đốt than lại hỏi:
- Như
kẻ đốt than nầy là mê hay tỉnh?
- Vừa
tỉnh vừa mê.
- Sao
kỳ vậy?
Trí Hải
cười:
- Vì
bác tiều đốt than theo kiểu nghịch đời. Người ta đốt than là để
hầm than và ủ kín cho than tắt chứ chẳng ai lại đem nước suối
tưới cho than đang đượm vội tắt như bác cả.
Người
đốt than giơ hai tay lên trời cười thoải mái:
- Cây
trong rừng thì muôn hình muôn vẻ mà đốt than thì xưa nay chỉ có
một cách đốt than hầm thôi à? Người muốn than hầm, than chín;
kẻ thích than tưới, than sống. Tìm một con đường riêng mà đi.
Quanh quẩn đường mòn về chỗ cũ. Ích gì!
- Than
là than mà củi là củi. Than sống mà củi chín ư? Lạ đời!
Sau câu trả lời của
Trí Hải, người đốt than nói như nói một mình: "Cây cháy chưa hết
ròn. Than non." Anh ta lẳng lặng quảy bị than lên vai và bước
đi, chẳng chào ai một tiếng.
oOo
Gần nửa
đêm Trí Hải mới về tới nhà. Niềm an lạc và hưng phấn đến tình
cờ giữa buổi chiều ngồi lặng lẽ trong cảnh đốt than giữa rừng
không về cùng. Nỗi bồn chồn vẫn theo bén gót Trí Hải. Hình ảnh
người đốt than đã gây một ấn tượng mạnh. Anh ta có vẻ như không
có tuổi và không bị dính mắc vào hiện thực bon chen của đời sống
xung quanh mình. Đêm dài trăn trở không ngủ được, Trí Hải ôn
lại cảm giác ban chiều. Người đốt than đem cái tĩnh vào trong
cái động; đem thái độ an nhiên tự tại vào trong công việc vất vả
của nghề đốt than; đem lối suy nghĩ giản đơn và cụ thể vào trong
nếp suy nghĩ rắc rối lẫn mơ hồ thường vây bủa và làm mệt mề đời
sống tri thức. Trí Hải cứ băn khoăn tự hỏi tại sao ngồi lặng
nhìn gã đốt than mà trong lòng mình lại cảm thấy bình an đến
thế.
Hôm sau
và hôm sau nữa, Trí Hải tìm đến chỗ bìa rừng cũ nhưng chỉ thấy
bếp than lạnh lẽo nằm trơ vơ trong cảnh tịch liêu của khu rừng
vào thu.
Rồi một buổi xế
trưa khác, khi còn đi mon men dưới chân đồi, lòng Trí Hải bỗng
rộn lên niềm vui khi nhìn thấy làn khói đốt than quen thuộc bốc
lên nơi khu rừng cũ. Khi tới nơi, bếp than đã tàn và người đốt
than đã ngồi ngủ yên trên phiến đá xanh. Trí Hải đến gần và
cũng như lần trước, ngồi xuống lặng yên sau tàn cây nhỏ đối diện
với người đốt than. Thật lạ lùng, cảm giác bình an lại đến.
Những xôn xao của nếp sống đầy hệ lụy dường như đã quyện vào mây
trắng lưng chừng núi mà bay về một nơi an nghỉ nào đó mất hút
cuối trời. Khuôn mặt và dáng ngồi của người đốt than thanh
thoát, an lạc và linh động như những đốm nắng lọc qua kẻ lá giữa
rừng. Khi Trí Hải đến đây một mình, khu rừng vắng bóng người
cũng thật phong quang và hùng vĩ nhưng vẫn thiếu mất một chút
hơi ấm tỏa chiết của linh hồn. Con người là linh hồn của tạo
vật. Uy lực của vũ trụ không phải là sấm sét mà là ý thức khai
phá và tình cảm yêu thương của loài người. Ngồi lim dim suy
nghĩ, Trí Hải cảm nhận sự im lặng của khu rừng và bóng người đốt
than đơn sơ trước mặt đang trò chuyện với nhau bằng năng lực cảm
thức mà ngôn ngữ là vô ngôn. Một giây an lạc thật hạnh phúc và
đáng sống hơn một đời hệ lụy.
Người
đốt than mở mắt với nụ cười thoáng rộng và vô tư khi nhìn thấy
Trí Hải đã ngồi lặng lẽ ở đó từ bao giờ. Trí Hải chào tươi tắn:
- Chào
bác tiều. Hôm nay bác ngủ khỏe hơn hôm trước.
Người
đốt than vừa cúi bới hầm than, vừa giải thích:
- Thì
cũng cho chúng nó nghỉ ngơi đôi chút.
Trí Hải
ngạc nhiên hỏi lại:
- Ngoài
bác tiều ra tôi có thấy ai nữa đâu mà gọi là "chúng nó?"
Người
đốt than cười cười, vừa uốn éo cái đầu, vừa dang tay, dang chân
ra diễn tả:
- Thì
cái thằng đầu nầy; thằng mắt, thằng tay, thằng chân nầy…
Trí Hải
tròn mắt ngạc nhiên:
- Đầu,
mình, tay, chân… là thân thể của bác chứ có phải của ai đem ghép
vào đâu mà bác lại phân biệt lạ lùng vậy?
Ra dáng
suy nghĩ, người đốt than hỏi lại:
- Tôi
hả? Tôi là đứa nào vậy? Có ai cho ai kiếp sống tạm bợ này đâu?
Cha mẹ sinh ra một mảnh hình hài. Rồi người sinh con phải nuôi
con. Ông làm ruộng, bà bán hàng, chú thợ may… họp nhau thành
nhóm, thành làng, thành xã hội góp tay nuôi cho khôn lớn. Rồi
cứ xoay vần, đến lượt cái hình hài khôn lớn nầy sinh con đẻ cái,
lăn lưng ra làm trả lại theo cái vòng vay vay trả trả không
ngừng. Trước khi sinh ra chẳng có hình hài nầy và sau khi chết
cũng chẳng còn chi lưu lại. Nhìn trong khoảnh khắc nầy dường như
có bác, có tôi. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc sau không ai chắc
còn có tôi hay có bác. Hì… hì… chúng nó nghỉ rồi, bây giờ chúng
nó phải làm để đổi lấy miếng ăn.
Người
đốt than lại trở về với những động tác cũ. Trí Hải hỏi với vẻ
ái ngại:
- Vì
thấy bác làm nghề đốn củi, đốt than nên tôi mạo muội gọi là "bác
Tiều". Nay đã biết nhau, xin bác cho biết quý danh để xưng hô
cho tiện.
Ông
tiều xua tay:
- Ôi
thôi! Bác để ý làm chi cái danh vị, hình tướng hảo cho thêm bận
lòng. Một người, hôm nay là kẻ đốt than, mai kia là gã làm
thuê, mốt nọ là đứa chèo đò, kia nữa là cái xác chết trôi… nào
ai biết. Nhìn đây nầy. Tổ nhện xây trên tổ chim, tổ chim xây
trên cành cây khô, cành cây khô là một phần của thân gỗ mục,
thân gỗ mục mọc cheo leo trên ghềnh đá, cái ghềnh đá khập khiểng
nầy có thể rơi xuống hố bất cứ khi nào. Thế mà con nhện vẫn
thong dong đón mồi, con chim vẫn ấp trứng, nhành khô vẫn đong
đưa…
Người
đốt than nói chưa hết lời, có tiếng chân thú rẽ lá đuổi nhau,
đàn nai chạy qua ghềnh đá. Thấy bóng người, đàn nai chuyển
hướng. Nhưng bỗng muộn rồi, phiến đá gập ghềnh mà ông tiều vừa
mới nói đã bứt ra khỏi triền núi và rơi dài xuống hố, mang theo
lưới nhện, tổ chim, cành khô, thân cây gỗ mục và những con nai
đang bị vùi lấp dưới đám bụi mù.
Bóng
người đốt than đã đi xa khuất dưới chân đồi. Trí Hải vẫn chưa
rời chỗ cũ. Một bụi cây hoang sơ lại là vùng an lạc.
Trí Hải
ngồi sâu giữa bóng tối chạng vạng cho đến khi trăng lên. Gã
tiều phu và con trăng mùa thu lạnh mát trên kia có một cái gì
thật giống nhau mà Trí Hải chưa thể định hình, gọi tên cho rõ
mặt. Dòng suy tư chờn vờn và lốm đốm chưa có một hình thù rõ
nét như bóng trăng xuyên qua rừng cây. Ánh trăng dát vàng trên
lá, nhuộm bạc trên đất, nhưng chỉ một thoáng gió đi qua, lá
không còn nguyên điểm cũ thì ánh trăng cũng không còn để lại một
dấu vết gì trên lá, trên đất. Cái gã đốn củi đốt than kia cũng
thế. Gã không có một chút gì dính mắc dù chỉ là cái tên giả tạm.
Gã không quan tâm tự nhận biết mình là ai. Cái đầu, cái tay, cái
ý thức của chính gã đều được xem như là một tập hợp nối kết tình
cờ và sẽ tan đi chẳng còn dấu vết. Con trăng phủ nhận dấu vết
của ánh trăng, cũng như gã tiều phu phủ nhận cái tôi mà ai cũng
tự cho là trọng đại của mình. Phải chăng vì thế, nên trăng mãi
chiếu hoài muôn phương mà không hết sáng và gã tiều phu ngồi ngủ
những giấc dài trong trong vắng lặng mà không bị thảng thốt giật
mình bởi hoàn cảnh xung quanh níu kéo.
Sự
chiến thắng xưa nay là một cách nói khác của sự sống còn trên
xác chết. Sự vinh quang náo nức của người chiến thắng là nỗi tủi
nhục ê chề của người chiến bại. Nụ cười của kẻ được là tiếng
khóc của kẻ thua. Đôi mắt trong ngần không váng vất chút mê mờ
tham vọng và nụ cười vô tư của người đốt than không ngừng hiện
lên trong tấm gương soi mình tưởng tượng của Trí Hải. Trận cờ
thư hùng sắp đến cứ sau mỗi đêm suy nghĩ lại nhạt dần ý nghĩa
ban đầu của nó. Trận cờ như một thách đố phù du. Người thua sẽ
bị chôn vùi tên tuổi và sự nghiệp. Người thắng cũng sẽ bị chôn
vùi trong tham vọng và kiêu căng. Càng gần đến ngày hẹn đấu,
Trí Hải càng ít quan tâm hơn. Không còn những buổi tập trận
trên bàn cờ với Phạm Xảo và các danh thủ đất thần kinh. Trong
lúc Phạm Xảo và mọi người ở phía phe nầy hay phe kia đang bị
thiêu đốt vì sự nôn nóng lẫn lo lắng đang cháy ngùn ngụt về số
phận của trận cờ sắp đến thì Trí Hải càng kéo dài hơn những phút
ngồi tĩnh tọa trong rừng vắng. Tâm không dính mắc với cuộc cờ
nên trí cũng chẳng tư lự với giới hạn hay thế cờ của phe địch
phe ta.
Chiều
hôm gần tối trước ngày hẹn của trận đấu Trí Hải vẫn còn trải
lòng với cỏ cây trong rừng. Khi quảy bao than lên vai, khác với
những lần trước, người đốt than đi chậm lại như có ý chờ Trí Hải
cùng về. Trí Hải bước theo. Trên con đường rừng gập ghềnh nhá
nhem tối, chẳng ai nói với ai lời nào. Chỉ có tiếng lạo xạo khô
khan của bước chân trên đường sỏi đá là tâm đắc chuyện trò không
ngớt.
Ánh đèn
xóm đêm đã thấy xa xa. Người đốt than lên tiếng trước làm vỡ sự
tĩnh mịch của buổi chiều trên đường vắng:
- Lý do
nào khiến quý hữu vào rừng?
Trí Hải
trả lời thành thật:
- Tôi
muốn được yên tĩnh.
- Bị
đời khuấy động lắm sao?
- Không
hẳn thế. Nhưng có lẽ sự khuấy động dấy lên từ trong lòng mình.
- Thất
tình, thất bại, thất sủng?
- Chẳng
vướng "thất" nào cả.
- Vào
rừng được gì?
- Được
cái trống không.
- Cho
ai?
- Cho
một cuộc cờ sắp đến.
- Hiểu
rồi!
Cuộc
đối thoại thân tình nhưng nhấm nhẳn giữa hai người bỗng rơi vào
lặng im. Lời nói không luôn luôn là phương tiện tốt nhất để
chuyên chở ý nghĩ làm cho người ta hiểu nhau rõ hơn.
Qua bến
đò khi sắp chia tay, người đốt than đột ngột hô lên:
- Pháo 2 bình 5!
Đi… !
Trí Hải
phản ứng một cách ngỡ ngàng:
- Bác
tiều cũng biết đánh cờ mù à?
- Đi!
Sự thôi
thúc như ra lệnh của người đốt than khiến Trí Hải phản ứng theo
quán tính:
- Mã 8
tiến 7.
- Mã 2
tiến 3.
- Xe 9
bình 8.
- Xe 1
bình 2.
- Tốt 7
tiến 1.
- Hỏng!
- ?!
- Bị
dính chặt với những thế cờ đã cũ thì có khác gì mượn cánh vịt
đồng mà đòi bay vào vùng trời Đâu Suất!
Sau câu
nói của người đốt than, hai người lại im lặng đi cho đến khi về
đến khu đồng bằng dân cư. Trí Hải hỏi:
- Làm
sao để khỏi hỏng?
- Tìm
cái mới!
- Cái
mới từ đâu?
- Từ
trong cái cũ nhưng thoát ly cái cũ.
- Bằng
cách nào?
- Đừng
dính mắc!
Hai
người lặng lẽ chia tay không một lời chào từ biệt. Cái giao tình
bên ngoài có vẻ nhạt thếch. Quân tử chi giao đạm nhược thủy…
Trí Hải
về dinh ngủ một giấc say sưa cho đến khi có tiếng gà gáy sáng.
Lại tiếng gà tỉnh thức giữa dòng định mệnh trôi theo đường xuôi
nẻo ngược. Trí Hải lẩm bẩm trong đêm vắng một mình: "Đừng dính
mắc!" Ánh trăng chiếu muôn phương, tiếng gà vang xa khắp nẻo vì
không bị vướng vào giới hạn giữa ta với người; không dính mắc
vào những sản phẩm của tạo hóa bày ra đã cũ. Rồi trong dòng suy
tưởng, cả 32 quân cờ xao xác tìm nhau. Không có bên này Sở hà,
bên kia Hán giới. Không có bên nầy đương đầu pháo quá hà xe; bên
kia bình phong mã, đấm tốt, bình pháo đổi xe. Những thế cờ đối
công phản kích dính chùm giữa cuộc binh đao không lối thoát phải
được hóa giải để đi tìm một con đường mới. Những quân cờ phải ra
trận, phải đấu nhau như bánh xe phải lăn trên đường cái là
chuyện tất nhiên. Không ai sắm những quân cờ để làm hoa trang
trí cả. Nhưng quân cờ phải đi theo đường bay tâm trí của hai
đối thủ quyết đấu sống chết đang ở giữa cuộc cờ. Làm sao "đừng
dính mắc" giữa hai gọng kềm đối kháng mới chính là xương sống
của hồi chung cục mà Trí Hải đang miên man nghĩ đến.
Trời
chưa sáng hẳn, Phạm Xảo đã mang trà vào cho Trí Hải. Thói quen
pha trà buổi sáng vẫn không có gì thay đổi. Chỉ khác một Phạm
Xảo trong vai người lão bộc pha trà cho chủ thì giờ đây hai
người đối ẩm. Khác với mọi ngày, hôm nay Phạm Xảo mặc đồ chàm
quần ngắn ống, áo ngắn tay của con nhà võ. Râu cạo nhẵn nhụi,
tóc búi gọn được nhuộm màu tiêu muối nên trông trẻ trung và oai
nghi như một vệ sĩ xế tuổi trung niên. Trí Hải nhìn Phạm Xảo,
bình luận một cách thú vị:
- Trẻ
trung và oai vệ thế này thì e "huynh" sẽ biến thành "đệ" mất
thôi!
Phạm
Xảo nói một cách nghiêm trọng:
- Hàn
Kỳ Vương đã biến ngày đấu cờ thành một ngày hội lớn. Giới phú
thương người Hoa từ Bắc chí Nam đã chung góp tiền bạc để ủng hộ
cho phe nhà của họ. Tất cả đều sẵn sàng để mở đại tiệc ăn mừng
thắng trận không một mảy may nghi ngờ tại Thái ấp này. Trong
lúc phía bên kia dốc hết sức người, sức của lo cho trận đấu, thì
bên ta chỉ có người nườm nượp đi xem. Tôi phải ở sát cạnh hoàng
thân để bảo vệ.
Uống xong ba bốn
tuần trà trong sự lặng im từ khi có mùi hoa ngọc lan tỏa hương
mai. Nắng đã lên cao. Mặt trời sẽ gác bên kia đầu núi và chiều
về. Giờ quyết đấu điểm.
Trí Hải ái ngại
nhìn Phạm Xảo. Sự đợi chờ căng thẳng làm cho những đường gân
trên trán, trên mặt viên lão tướng muốn bứt ra thành suối, thành
dòng, thành tiếng nói. Phạm Xảo ngạc nhiên đến sững sờ nhìn Trí
Hải vẫn với tập Đường Thi trên tay với dáng vẻ thản nhiên và
tươi cười như đã quên trận thư hùng sống mái đang đợi. Thơ phú
ích gì cho buổi ấy.
Hai bên
bờ sông Hương người đi như hội. Người ta cố lấn ra gần gần bờ,
nơi có bốn chiếc đò đại bản kết thành bè trên sông. Ít người đi
xem biết Trí Hải là ai, nhưng chỉ biết là "người đó phe ta" thôi
thì cũng đủ cho lửa nhiệt tình bốc cháy. Người ta la hét, xô
đẩy nhau, chạy rần rần bao vây cả một vùng bến sông khi Trí Hải
và Phạm Xảo xuống đò ngang để lên bè nổi neo giữa sông. Người
cầm tay Trí Hải sau cùng trước khi đò rời bến là Lê Trung Ẩn,
thủ lãnh sĩ phu Bắc Hà và cũng là đương kim thượng thư bộ Hình
trong lục bộ của triều đình. Lê Trung Ẩn ngỏ lời, không ai rõ là
hỏi hay dặn:
- Có
cần giăng lưới trên sông Hương không?
Trí Hải chỉ thoáng
cười, nhìn rất sâu vào mắt người đối diện mà không nói gì.
Thuyền rời bến trong tiếng reo hò, cổ vũ của biển người đứng hai
bên bờ.
Bốn chiếc thuyền
lớn kết lại thành một hòn cù lao nhỏ và được neo cẩn thận trên
sông. Trời không mưa nhưng mây mù u ám và nước bạc trên sông
cuồn cuộn chảy. Cả một vùng được trang hoàng rực rỡ. Nền thuyền
trải thảm Ba Tư với màu sắc được tuyển chọn khéo léo. Khung
thuyền treo đèn lồng mỹ thuật. Mui thuyền phủ gấm Thượng Hải ngũ
sắc. Ngay chính giữa, trên chiếc bàn gỗ mun đen tuyền bóng
loáng, bàn cờ và quân cờ đã sắp sẵn nhưng tất cả đều được phủ
kín dưới một lớp gấm đỏ thêu hoa văn màu hoàng kim lóng lánh.
Trong
trận "đại kỳ quyết đấu" nầy sẽ không theo mô thức đấu cờ thông
thường là có tổng số ván cờ theo số chẵn như hai, bốn, sáu... mà
toàn bộ cuộc đấu sẽ có 3 ván cờ. Nếu cả 3 ván đều hòa thì trận
đấu sẽ tiếp diễn cho đến khi có một bên thắng. Trận cờ sẽ được
diễn ra theo một luật lệ khắt khe về nhiều mặt.
Luật
thời gian.
Một ngày và một đêm
tính từ nửa đêm, giờ Tý đến buổi trưa giờ Ngọ ngày hôm sau. Đêm
có 5 canh, ngày có 6 khắc. Mỗi khắc dài bằng một vạn tiểu
khắc. Tiếng chuông báo hiệu thời gian cho ván cờ và tiếng khánh
báo hiệu thời gian cho nước cờ.
Mỗi nước cờ không
được kéo dài 100 tiểu khắc. Mỗi khắc được đếm bằng một giọt
nước đỏ từ một bình cao rơi xuống một bình thấp. Người quản lý
thời khắc phải đếm công khai. Sẽ có một tiếng khánh vàng đánh
lên báo hiệu giữa giờ khi nước giọt đến khắc thứ 50, hai tiếng
đánh lên đến khắc thứ 90 và ba tiếng báo hiệu hết giờ. Người
suy nghĩ quá giờ không được quyền đi tiếp và phải nhường cho
phía đối thủ.
Luật xử
hòa.
Ván cờ sẽ đương
nhiên coi như được xử hòa trong ba trường hợp sau:
- Luật
về số nước đi: Khi tổng số nước đi của ván cờ là 200.
- Luật
về nước đi có tác dụng: Không kể những nước đuổi và chiếu cũng
như những nước để đối phó với những nước đuổi và chiếu, tổng số
nước đi là 100.
- Luật
về nước đi có tiến triển: Khi tổng số nước đi kể từ lần cuối
cùng ván cờ có tiến triển là 20. Điều kiện được coi là ván cờ
có tiến triển khi hoặc là có quân bị bắt hay tốt đã sang sông
tiến lên một bước.
Luật
công bình.
Chiếu dai và đuổi
dai là vi lệ. Phía vi lệ sẽ bị xử thua. Nếu một bên vi lệ
chiếu dai và bên kia vi lệ đuổi dai thì bên chiếu dai sẽ bị xử
thua. Khái niệm về "dai" được minh định là chiếu hoặc đuổi quá
5 nước liên tục với 1 quân cờ, 10 nước liên tục với 2 quân cờ và
15 nước liên tục với 3 quân cờ.
- Chiếu
liên tục đối phương bằng một hay nhiều quân cờ của mình là vi
lệ.
Ban hành luật có 5
vị, người đứng đầu là chưởng kỳ. Ban giám khảo có 5 vị, người
đứng đầu là chủ khảo. Ngoài ra ban hộ kỳ cũng có 6 người. Hai
người có nhiệm vụ ghi chép trên văn bản và 2 nữ, 2 nam có giọng
tốt đại diện cho mỗi bên có nhiệm vụ hô to lên công khai ngay
sau khi mỗi quân cờ được di chuyển để xác định dứt điểm một nước
đi, đồng thời công bố cho kỳ chúng, là những người đang theo dõi
trận đấu, biết được diễn tiến của trận cờ.
Hàn gia
đã bày biện bao nhiêu hình thức biểu diễn và trang trí cho cuộc
đấu cờ. Đây không chỉ là cuộc đấu cờ tay đôi giữa Trí Hải và
Hàn Kỳ Vương mà còn mang một ý nghĩa xa hơn là cuộc đấu trí giữa
hai nước chư hầu và thống lĩnh. Bộ cờ tinh huyết thạch của Hàn
gia phải tồn tại và mục đích cuối cùng phải đạt được, cho dù
phải lòn trôn hay thí quân huyết chiến với địch thủ như thủy tổ
Hàn Tín năm xưa.
oOo
Trận cờ
khai diễn với những thủ tục trình diễn rườm rà chưa từng thấy.
Nhưng rồi cuối cùng vị chưởng kỳ với khăn chít áo dài cũng tới
hồi trang trọng hai tay nâng lớp gấm điều bọc bàn cờ gia bảo của
Hàn gia. Mọi người như cùng "ồ" lên một tiếng để tán dương vẻ
đẹp rực rỡ của bàn cờ. Mỗi quân cờ quả là một tác phẩm kỳ tú
của thiên nhiên và con người. Đá tinh huyết chỗ trong như pha
lê, chỗ trắng ngần, chỗ đen thẳm, chỗ lóng lánh như trân châu mã
nảo. Nhưng tuyệt tác hơn tất cả là những đường gân đỏ thắm như
máu đào chạy quanh. Những đường gân đỏ linh động biến hiện lung
linh như đang sống, đang trổ nhánh, nẩy mầm. Vẻ đẹp mê hồn của
loài đá tinh huyết làm cho lớp lớp đèn lồng ngũ sắc và màn
trướng trang trí lộng lẫy mờ nhạt hẳn đi sau một màn sương cảm
giác.
Từ khi
được trao bộ cờ gia bảo, Hàn Kỳ Vương có một niềm tin mạnh mẽ
rằng, với một hình thức lễ nghi mở màn trận đấu đầy tính kỳ bí
của tôn giáo và đặc biệt là vẻ thu hút mê hồn của bộ cờ, phía
đấu thủ khách đã bị lung lạc tinh thần và bị chinh phục từ phút
đầu tiên.
Đối mặt
với Trí Hải trên bàn cờ lần này, Hàn Kỳ Vương cảm thấy niềm tự
tin từ bao lâu nay của mình bị dao động mạnh. Vương quen chờ
đợi một đối thủ xốc nổi, ồn ào hay thâm trầm, kín đáo; có khi
là một đối thủ mưu lược, nguy hiểm. Nhưng chưa bao giờ Vương
gặp một đối thủ thản nhiên gần như vô tâm trong giây phút mở đầu
như thế. Vẻ mặt bình thản và phong thái trầm tĩnh của Trí Hải
trong giây phút cực kỳ nghiêm trọng nầy khó ai lường được những
gì đang chất chứa sau lớp chắn bên ngoài. Trí Hải ngồi nhìn bàn
cờ với cái trí của một đấu thủ đã sẵn sàng nhưng với cái tâm của
một gã lang thang bên cạnh người đốt than trong rừng. "Đừng
dính mắc!" lời nhắn vói sau cùng của gã tiều phu vẫn đang vang
vọng trong tâm trí của Trí Hải. Không dính mắc với quá khứ, hiện
tại và tương lai. Không dính mắc giữa ta và người. Không dính
mắc với thua và được.
Khi
người chưởng kỳ lên tiếng thông báo thủ tục bốc thăm tranh nước
đi tiên. Trí Hải ngỏ lời mời Hàn Kỳ Vương đi trước. Trong một
ván cờ quyết đấu của các danh thủ xưa nay, người đi trước vừa có
ưu thế khống chế cuộc cờ vì nhanh hơn một nước, vừa có cơ hội
triển khai chiến thuật tấn công thần tốc ngay từ hồi khai cục.
Bởi thế, quan điểm "tiên hạ thủ vi cường" thường được áp dụng
triệt để trong cờ tướng để "tranh tiên". Tranh tiên là giành
trước một nước cờ. Tranh tiên là chiến lược sinh tử của phép
tiến công. Nếu phải đi sau thì phải giành cho được "bình tiên",
nghĩa là phải rán giữ cho được thế ngang ngửa, ngang nhau. Các
nhà chiến lược tranh cờ gọi là "diệu thủ tranh tiên" vì tranh
tiên có nhiều mưu kế, thủ đoạn: Phối hợp để bắt quân địch. Thí
quân để tranh cho được thế. Có khi phải tàn sát quân phòng ngự
để xâm nhập vào bản doanh bắt tướng
chiến thuật và chiến lược
biến ảo khó lường với những chiêu thức tuyệt diệu. Thế nhưng
Trí Hải lại không một mảy may quan tâm đến thế tranh tiên.
Ba hồi
trống lệnh cáo với Trời; chín tiếng chiêng đồng tạ với đất.
Phường bát âm nổi lên trong giây lát rồi im bặt. Có tiếng hô của
chưởng kỳ: "Xuất quân!" Trận cờ bắt đầu. Hàn Kỳ Vương run run
đặt tay lên quân cờ gia bảo mà suốt năm qua không tìm ra đối thủ
để hành quân. Kỳ Vương nhìn trời lâm râm khấn vái, hít một hơi
dài để thu hết tinh lực sông núi làm sức mạnh, nhíu mày chú mục,
mím chặt môi đầy quyết đoán để đi quân cờ khai cục. Có giọng
nam của hai hộ kỳ phía Hàn Kỳ Vương hô lên đĩnh đạc:
- Pháo
2 bình 5.
Một vài giây im
lặng đợi chờ và giọng nữ hộ kỳ phía Trí Hải lại vang lên lảnh
lót:
- Mã 8
tấn 7.
Giọng
nam lại vang lên hầu như tức khắc:
- Mã 2
tấn 3.
Nữ:
- Xa 9
bình 8.
Nam:
- Xa 1
bình 2…
|