|
Thế
giới càng phát triển, sự tiếp cận giữa các nền văn minh và văn
hóa càng nhiều thì sự xâm thực và ô nhiễm văn hóa càng nghiêm
trọng.
Khi hai nền văn hóa khác nhau tiếp cận thì sự "xâm
thực văn hoá" (Cross- cultural invasion) là một tiến trình tự
nhiên và tất yếu, không thể nào tránh khỏi như khi hai con nước
cao thấp giao lưu. Một nền văn hóa cao cấp và đa dạng hơn sẽ
đóng vai trò xâm thực trong khi một nền văn hóa khép kín và sơ
khai hơn sẽ bị xâm thực. Sự xâm thực nầy thường diễn ra dưới ba
mức độ: (1) Toàn phần, (2) từng mảng, (3) từng lĩnh vực và (4)
từng chi tiết (2).
Nếu sự xâm thực văn hóa diễn ra trên một mức độ cao
cấp mang tính tích cực thì đấy sẽ là một sự khai sáng văn hóa
(Cultural glorification); nếu ngược lại thì đấy là một sự ô
nhiễm văn hóa (Cultural detestation) hay nói một cách gợi hình
hơn là một sự "xả rác văn hóa". Có khi sự xâm thực văn hóa lại
mang một tác dụng nhị trùng là vừa khai sáng vừa ô nhiễm. Cuộc
đối đầu trong sự tiếp cận giữa hai nền văn hóa phương Tây và văn
hóa phương Đông trong thế kỷ 19 và 20 là ví dụ đìển hình ngay
trên đất nước Việt Nam. Khi dòng văn hóa Pháp chảy vào dòng văn
hóa Việt Nam thì ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nhanh
hay chậm, mặc nhiên hay minh nhiên... sự xâm thực văn hóa bắt
đầu xảy ra.
Tác dụng "nhị trùng" trong cuộc đối đầu văn hóa nầy
có thể nói là văn hoá Việt Nam vừa được khai sáng về mặt văn
chương, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật; nhưng đồng thời, cũng bị
ô nhiễm về mặt đạo lý và triết lý sống cổ truyền. Trong cuộc
đối đầu và tiếp cận văn hóa nầy sự giao lưu văn hóa diễn ra dưới
nhiều hình trạng rất nhiêu khê, không đơn giản để có một sự phân
tích, đánh giá chi li và dứt điểm.
Sự xâm thực văn hóa mang hai yếu tính "mềm" và
"cứng". Mềm như nghệ thuật âm nhạc, văn học thi ca lãng mạn.
Cứng như súng đồng đại bác, những tư tưởng bạo loạn, những phong
trào chống lại xã hội.
Khái niệm mềm và cứng trong văn hóa không nhất thiết
mang nặng tính vật thể và vật lý.
Hiện tượng xâm thực văn hóa
của ngành kinh doanh khách sạn-du lịch.
Theo nhóm nghiên cứu văn hóa đa
phương (multi-cultural research) của Doug Lancaster, Adam
Lindsey, Robert Hughes (3)... (Đại học LPU, Oregon, 2003) thì
một sự ô nhiễm văn hóa tồi tệ nhất nhưng thường được"mỵ trang"
(velvet masking) dưới vẻ khai sáng văn hóa đã và đang diễn ra
tại các nước nghèo Á Phi, các nước thứ ba kém phát triển là "Văn
Hóa Ô Ten" hay là "văn hóa kỹ nghệ khách sạn" (The Culture of
Hotel Industry). Hay nói một cách nôm na theo ngôn ngữ đại
chúng là sự xâm lăng của giới đầu tư khách sạn giàu có vào các
xứ nghèo. Đấy là một lối kinh doanh xông xáo mang bản chất
thuộc địa và khai thác tài nguyên từ một quá khứ lịch sử chưa
xa. Nhưng tất cả đều được ngụy trang dưới dáng vẻ đẹp đẽ của kỹ
nghệ du lịch, kỹ thuật kiến trúc và phát huy xây dựng qua hình
thái thiết kế và bành trướng khách sạn. Theo nhóm nghiên cứu
vừa nêu dẫn thì những tập đoàn kinh doanh kỹ nghệ khách sạn
"bạo" (aggressive) nhất trên thế giới đều phát xuất từ Âu châu
và Mỹ châu như Hilton, Sheraton, Holiday Inn, Marriott, Red
Lion... Hay những thế lực "trùm" nầy sẽ biến tướng thay tên khi
đến một địa phương nào đó cho thích nghi nhưng cổ phần khai thác
thì vẫn là một.
Nói tóm lại, kỹ nghệ khai thác
khách sạn trong thế kỷ 20 và đầu thế kỹ 21 cũng là một thế lực
kinh tế viễn chinh mà những mục tiêu chinh phục đầu tiên là thị
trường du lịch và nắm thế thượng phong khai thác cảnh quan của
những xứ sở chưa phát triển.
Về mặt kinh tế, kỹ nghệ khách sạn
tạo ra một sự "phồn vinh giả tạo" tại một địa phương nào đó. Sự
phồn vinh nầy có khi là một sư mâu thuẫn đầy mĩa mai và cay đắng
với đám dân nghèo bản địa. Như ở xứ quần đảo Brahmas ngoài khơi
Caribbean, là nơi khách sạn có giá đắt nhất thế giới, trong
lúc dân Brahma phần đông còn làm nghề đan đát thủ công và chữa
thuốc bằng lá cây. Khó tưởng tượng nổi là giá một đêm tại the
Atlantis Bridge Suite của khách sạn Atlantis, Brahmas, là 25
nghìn đô la Mỹ (so với giá một đêm tại the Imperial Suite của
khách sạn President Wilson Hotel ở Thụy Sĩ là 23 nghìn đô la.
Hilton Hotel ở HàNội là 109 đô la. New World Saigon là 92 đô la
Mỹ trong cùng thời điểm quảng cáo trên Tourist Web-Site (4) ).
Cái gì đã làm cho khách sạn
Atlantis ở Brahmas đắt đến như vậy? - Vị trí thiên nhiên! Vẻ
đẹp thiên nhiên mê hồn của biển trời, núi non, mây nước trên
quần đảo Brahmas chỉ cách tiểu bang Florida của Mỹ 50 dặm là yếu
tố quyết định.
Các nhà kinh doanh khách sạn chỉ
đặt sự hưởng thụ của khách lên hàng đầu, bất chấp văn hóa và con
người bản địa. Lợi nhuận là ưu tiên sinh tử và cũng là đối
tượng cao nhất mà các nhà kinh doanh khai thác khách sạn hướng
đến.
Cũng theo nhóm nghiên cứu nêu
trên thì cũng chính thế lực kỹ nghệ khách sạn nầy đã tạo ra
những "mảnh vá đáng ghét" (outrageous patches) trên những chiếc
áo thiên nhiên tuyệt tác khắp năm châu. Họ không ngần ngại cày
núi, lấp sông, phá thành, xé biển để chiếm lĩnh những vị trí
tuyệt hảo nhất tại một nơi nào đó mà họ đặt chân đến. Khẩu hiệu
sinh tử của giới kinh doanh khách sạn là "Location! Loacation!
Location!" (Location trong tiếng Anh có nghĩa là nơi chốn, vị
trí, địa điểm.) Bởi vậy những "chiến sĩ xung kích tiền phong"
trong quá trình xây dựng một đại khách sạn là đi tìm địa điểm.
Ưu tiên cao nhất của họ là chiếm cho bằng được thế sông, thế
núi, thế biển, thế thiên nhiên và văn hóa... bất chấp sự chiếm
lĩnh ưu thế nầy có tác dụng như thế nào đối với toàn khung cảnh
văn hoá và xã hội của địa phương mà họ đến đầu tư và khai thác.
Âu châu là chiếc nôi văn hóa của
phương Tây có mấy nghìn năm lịch sử. Thế nhưng kỹ nghệ khách
sạn với lịch sử chỉ có hơn 100 năm đã có một tác động vừa sâu,
vừa rộng trên những kinh đô ánh sáng của Âu Châu. Khi đến Rome,
nơi có Michelangelo, thiên tài điêu khắc muôn thuở của nhân
loại, du khách sẽ cảm thấy khó chịu như phải đọc một vần thơ lạc
điệu sai vần khi đi ngang qua những con phố cổ đầy di tích lịch
sử trộn lẫn với những công trình xây dựng khách sạn mới. Những
đường nét lạc lõng ngang phè của một số khách sạn đời mới, chiếm
cứ những vị trí đáng lẽ phải dành cho những công trình văn hóa.
Những người am hiểu lịch sử của những công trình mỹ thuật và
điêu khắc tại địa phương đã kể lại những cuộc đối đầu giữa giới
nghệ sĩ hậu duệ Michelangelo và giới kinh doanh có quyền thế
trong thế kỷ 19, 20. Nhưng giới kinh doanh thường mạnh hơn nên
giới mỹ thuật chỉ còn biết ngậm ngùi chấp nhận. Dẫu thế, nhưng
Rome đã quá đẹp với muôn nghìn tượng đài có đường nét tuyệt tác
dựng khắp nơi từ cả hàng thế kỷ trước. Vậy mà đã có nhận xét:
"Rome chắc sẽ đẹp hơn nhiều nếu có một sự phối hợp hài hoà giữa
các công trình mỹ thuật truyền thống và xây dựng đời mới (5)."
Paris, London, San Francisco, Washington DC, New York... cũng
có dáng vẻ chật chội tương tự trong những khu phố cũ. Nhưng so
với một số những thành phố lớn nổi tiếng ở châu Âu, phần lớn thì
kiến trúc ở Mỹ có vẻ trẻ trung và khoảng khoát hơn. Ai ở Mỹ
cũng đều biết là mọi công trình xây dựng ở Mỹ từ đầu thế kỷ 20
về sau luôn luôn có một Họa đồ chủ đạo (Master Plan) được chỉ
đạo và áp dụng chặt chẽ từ phía lãnh đạo và các thành viên triển
khai, tức là các nhóm tư nhân hay nhà thầu xây dựng. Khi một cơ
sở công cộng được dự trù xây cất, luôn luôn có sự phối hợp ý
kiến của 3 thành phần thông qua 3 lần hội nghi:
- Thứ nhất: Cơ quan xây dựng của
chính quyền ra trình bày dự án xây cất chi tiết trước hội nghị.
-Thứ nhì: Công ty chịu trách
nhiệm xây cất kết hợp với nhóm người chủ xướng và chủ trì xây
cất có trách nhiệm phải trình bày công khai và đại chúng đầy đủ
các mặt lợi hại của cơ sở sắp được xây dựng và phương cách thực
hiện cùng tiến trình thi công.
-Thứ ba: Chất vấn, ý kiến phản
bác hay ủng hộ của những người trong địa phương khu vực có cơ sở
sắp được thực hiện.
Công trình chỉ được thực hiện sau
khi mọi ý kiến đã được tham khảo và thống nhất tán đồng thông
qua hình thức biểu quyết công khai và dân chủ từ phía quần chúng
tại nơi có công trình xây cất dựng lên.
Ngay một cơ sở xây cất đang trên
đà thi công, hay thậm chí đã hoàn thành nhưng tập thể quần chúng
phát hiện ra rằng, cở sở vừa mọc lên có phương hại cho môi
trường sống và hạ thấp giá trị văn hóa, quần chúng sẽ kiện ra
tòa án địa phương, tiểu bang, liên bang và có khi lên tới tối
cao pháp viện. Không ít công trình xây dựng đồ sộ ở Mỹ phải bị
đình hoãn hay vô hiệu hóa vì quần chúng thắng kiện.
Sự cân đối trong tổng thể của một
bức tranh xây dựng đòi hỏi sự phong phú về tài nguyên và vật
chất đã đành, nhưng trên tất cả vẫn là sự chỉ đạo đúng đắn của
những người lãnh đạo vừa tôn trọng luật pháp và nguyên tắc, vừa
có tầm nhìn xa thấy rộng và đặc biệt là cần có tâm hồn. Một hậu
duệ trường phái Michelangelo, Milo Delgo nói về quan điểm xây
nhà, dựng tượng: "Kẻ có tâm hồn và tầm nghĩ đúng đắn trong xây
dựng sẽ không nhầm lẫn giữa cánh hoa dại và viên kim cương; giữa
giá trị vật chất tạm thời và gia tài văn hóa miên viễn để đặt
đúng vào vị trí của mỗi thứ (6)."
Trên đồi
Vọng Cảnh
Cũng giống như các ngành du lịch
tại những quốc gia có kỹ nghệ du lịch đang còn trẻ trung và đang
trên đà phát triển, ngành du lịch của Huế đang có những nhu cầu
và cần những cơ sở vật chất trước mắt. Nhưng bên cạnh đó, cũng
cần bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên trong dòng sinh
mệnh tồn tục lâu dài thường được coi như là linh hồn của ngành
du lịch. Tại những quốc gia có ngành du lịch phát triển rực rỡ
nhất của thế giới như Ý, Pháp, Anh, Mỹ... người ta bảo vệ và làm
thăng hoa những "điểm nóng" mang tính lịch sử và thiên tạo độc
đáo của một thành phố, một địa phương cực kỳ nghiêm cẩn. Chẳng
hạn như di tích cung điện và đấu trường La Mã ở Rome tuy chỉ còn
là những phiến thành đổ vỡ hoang phế nhưng mỗi ngày có hàng hàng
lớp lớp người từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt đến viếng. Cũng
thế, ở nhiều nước khác, những điểm nóng du lịch thiên nhiên trở
thành tài sản vô giá của quốc gia và gia tài văn hóa quý báu của
nhân loại mà không một thế lực nào có quyền xâm phạm.
Những khách sạn năm sao, bảy sao
nơi nào cũng có. Đấy chỉ là những phương tiện tạm thời làm chỗ
nghỉ chân. Khách sạn, dù sang trọng đến đâu và giá mỗi đêm vài
chục nghìn đô la như ở Brahmas hay vài ba chục đô la như những
Motel Six dọc đường của Mỹ thì cũng chỉ là những phòng ngủ sang
trọng hay tiện nghi bình dân qua đêm mà thôi. Khách sạn là tiện
nghi. Tự bản chất và thực tế khách sạn hiếm khi là một công
trình văn hóa cho dẫu đó thực sư là những lọai khách sạn văn hóa
(cultural hotels) kiến trúc theo những đường nét cung điện tuyệt
vời như ở Trung quốc, cheo leo và hoà điệu với thiên nhiên như
ở Siri Lanka, hay với hình thức lâu đài cổ xưa như ở Pháp
(Symboles de France - Chateaux). Văn hóa khách sạn không thể
nào thay thế cho văn hóa truyền thống của một quốc gia, một dân
tộc, một địa phương. Vua thiết kế khách sạn Mỹ Edward Flynn
trước khi phủi tay gác kiếm về hưu đã nói một câu đầy luyến tiếc
cho đời mình vì đã từng phá bỏ những tụ điểm văn hóa để biến
thành những tiêu điểm kinh doanh khách sạn: "Di sản văn hóa thế
giới bị ngành du lịch bành trướng đe dọa. Nhiều nơi, sự tham lam
của kỹ nghệ khách sạn đã phá hủy những khung cảnh văn hóa không
thua gì chiến tranh." (World's cultural heritage is threatened
by mass tourism. In several situations, greedy hotel industry
destroyed cultural sites as wars (7) .)
Huế là một thành phố có thế mạnh
về du lịch. Nhưng cái gì là giá trị quý báu và đích thực giúp
nâng chất lượng và giá trị du lịch của Huế lên tầm mức hôm nay?
Về điều nầy, không ai có thể chối bỏ được thực tại hiển nhiên
rằng, chính khung cảnh thiên nhiên, môi trường địa lý, truyền
thống văn hóa và di tích lịch sử đã chung phần vẽ nên một bức
tranh toàn cảnh về Huế. Nhưng trong đó, yếu tố thiên nhiên đóng
vai chủ đạo. Chính đồi núi, sông ngòi, biển cả, cây cảnh của
Huế đã định nghĩa cho bảng giá trị du lịch của Huế.
Đầu năm 2005, có tin là công tu
Du Lịch Huế, phối hợp với công ty Xây Dựng Khách Sạn Việt Nam có
sự đầu tư của một công ty khách sạn lớn Hà Lan-Áo, Projekt BV,
đã đi dến quyết định xây dựng một khách sạn cao tầng ngay trên
đồi Vọng Cảnh. Quyết định nầy đã bị sự chống đối mạnh mẽ từ
nhiều phía: Phía báo chí, phía đồng bào, nhân sĩ Huế trong và
ngoài nước, phía các nhà văn hóa và nhân văn tích cực tại địa
phương... Đã có sự khởi công và đình hoãn. Nhưng vấn đề đã được
hâm nóng trở lại khi các đại biểu Hội đồng Nhân dân Thừa Thiên
Huế đã bỏ phiếu "thuận" (48 thuận và 1 chống) trong ngày 6 tháng
4 năm 2005 vừa qua. Nghĩa là Đồi Vọng Cảnh vẫn đang đứng trước
nguy cơ sẽ bị phá bỏ để làm khách sạn8!
Điều đáng ngạc nhiên ở đây là Huế
vẫn còn nhiều địa điểm rất tốt để làm phòng ngủ, khách sạn để
phục dụ ngành kinh doanh du lịch. Cớ sao lại phải chọn Đồi Vọng
Cảnh là một danh địa được xem như là con mắt thiêng liêng, là
một vị trí thiên nhiên truyền thống, một địa điểm lịch sử trong
toàn cảnh sông núi Huế?
Nếu một khách sạn được xây cất
trên Đồi Vọng Cảnh thì rõ ràng là chỉ có 01 điểm lợi nhỏ là giúp
ngành du lịch và đầu tư khách sạn Huế chiếm ưu thế kinh doanh.
Trong lúc đó, tạo ra 03 điểm tai hại lớn: (1) Thất nhân tâm,
(2) Phá hủy một địa điểm địa lý, lịch sử và văn hóa đã thành
danh thắng, (3) Tạo một tiền lệ tiêu cực "bất chấp" của kỹ nghệ
kinh doanh khách sạn vào các danh lam thắng cảnh Việt Nam.
Gần như các thắng cảnh thiên
nhiên nổi tiếng trên thế giới, thu hút nhiều du khách đều có
"điểm ngắm" (scenic view/bellevue). Một điểm ngắm lý tưởng là
nơi có thể nhìn được toàn khung cảnh hữu tình của một thành phố
hay toàn cảnh của vùng đất địa phương trãi rộng trong tầm mắt
bên dưới. Đồi Vọng Cảnh là một điểm ngắm địa đầu lý tưởng khung
cảnh thiên nhiên của Huế. Từ Đồi Vọng Cảnh, du khách có thể
nhìn thấy dòng sông Hương xanh biếc uốn lượn quanh co dưới chân
các ngọn đồi tả hữu. Đồi Vọng Cảnh được người xưa xem là con
mắt thần, là nơi hội tụ khí thiêng sông núi, là báu vật thiên
nhiên ban tặng cho Huế, cần thiết phải giữ gìn và xây dựng.
Vọng Cảnh nằm bên dòng Hương thơ mộng, cảnh quan thiên nhiên đẹp
nổi tiếng và là tiền án của quần thể lăng tẩm của các triều vua
ở Huế (9).
Khu vực đồi Vọng Cảnh là một điểm
nằm trong không gian qui hoạch của một số di tích như: Lăng Tự
Đức, Lăng Đồng Khánh, Điện Hòn Chén thuộc quần thể di tích Cố Đô
Huế. Và cũng theo các nhà nghiên cứu và biên khảo về Huế thì
người xưa còn tin rằng nơi đây có âm phần linh thiêng, không nên
tác động thô bạo đến nó, bởi sẽ gây hậu quả khôn lường...
Theo cụ Cao Đình Dương thì trước
đây đã có đề nghị xây "Vọng Cảnh Lâu" cho cựu Hoàng Bảo đại trên
Đồi Vọng Cảnh. Nhưng khi các vị lão thần thừa lệnh đến thắp
nhang khấn vái phát quang, đã chạm phải một phiến đá có ghi hàng
chữ: "Vọng Cảnh vong thân. Thất thần khiếm thị" Câu nầy được
giải thích theo hai cách: (1) Nếu Đồi Vọng Cảnh mất đi thì thần
khí của vùng đất nầy không còn và tầm nhìn, tầm soi ngắm cảnh
đẹp cũng mất theo; (2) Nếu ai phá hủy Đồi Vọng Cảnh thì sẽ bị
liên lụy điên khùng (thất thần) và đui mù (khiếm thị). Người
đương thời có khuynh hướng giải thích theo ý thứ hai nên sợ hãi,
xin bãi bỏ lệnh phát quang xây nhà mát từ đó. Tuy đây chỉ là
chuyện tương truyền mang tính thần thoại, nhưng về mặt tâm lý,
câu chuyện cũng nói lên được nỗi lòng yêu mến, trân trọng và bảo
vệ thiên nhiên của người dân khi Đồi Vọng Cảnh sắp biến thành
nhà mát, dù là nhà mát cho vua, chứ không đến nỗi là... nhà ngủ
cho bàng dân tứ xứ có tiền!
Sự việc đem một khung cảnh văn
hóa và lịch sử gắn liền với sinh mệnh của xứ Huế như Đồi Vọng
Cảnh để làm sân bãi cho một khách sạn là một sự cố nhân văn
không bình thường. Sự cân nhắc cần được đặt trên tầm mức quốc
gia và có khi là quốc tế chứ không chỉ là địa phương. Nếu việc
xây khách sạn trên đồi Vọng Cảnh diễn ra thì rõ ràng đây là sự
phế bỏ một cảnh quang văn hóa vô tình như chiến tranh. Những
người Huế sống xa quê hương không tin đồi Vọng Cảnh sẽ bị kỹ
nghệ khách sạn phá hủy dễ dàng như thế. Càng có dịp tiếp cận
với khung cảnh xã hội và kỹ nghệ du lịch thế giới, người Việt
càng được thấy tinh thần bảo vệ thiên nhiên và di tích văn hóa
của các nước tiên tiến chặt chẽ đến dường nào. Ngành du lịch
Huế càng phát triển trên một quy mô rộng lớn hơn, lẽ ra, càng có
lợi cho Huế vì một cách vô hình chung, kỹ nghệ kinh doanh du
lịch phải có trách nhiệm cao hơn trong việc bảo vệ các di tích
và khung cảnh văn hóa Huế. Du lịch là cuộc sống sinh động giao
hòa giữa đôi mắt và thiên nhiên. Du lịch không sống bằng bánh
mì và phòng ngủ!
Kinh nghiệm ngành xây dựng kiến
trúc Âu Châu và Mỹ Châu là những bài học đáng quý cho ngành du
lịch thế giới. Các nhà kiến trúc học Âu Châu đều lấy làm tiếc
vì cuộc cách mạng kỹ nghệ của những thế kỷ trước đã đặt kỹ thuật
xây dựng nhân tạo lên trên thiên nhiên. Sự đô thị hóa vội vàng
đã mang theo di lụy "bê tông hóa và cao ốc hóa" những trọng điểm
thiên nhiên đáng lẽ phải được bảo tồn và tôn tạo. Ngành xây
dựng kiến trúc Mỹ Châu trẻ trung hơn nên đã học được bài học
"vôi hóa" tiêu cực và đáng tiếc của Âu Châu. Ngành kiến trúc
cận đại và đương đại của Mỹ phát triển theo một tốc độ đáng
chóng mặt. Những cánh đồng mênh mông, những vùng núi đồi bạt
ngàn được xây dựng trở thành khu dân cư và phố xá sầm uất chỉ
trong vòng vài ba năm. Nhưng điều đáng tham khảo và nghiên cứu
trong lĩnh vực xây dựng trên xứ Mỹ nầy là tinh thần tôn trọng và
quy chế nghiêm ngặt trong vấn đề bảo vệ những di tích, quang
cảnh lịch sử và thiên nhiên. Những con suối, dòng sông, núi
đồi tô điểm cho tổng thể thiên nhiên; những vùng hoang dã (wild
life) và thậm chí những cây sồi (oaks) cổ thụ cũng được khéo léo
bảo vệ trong những công trình thiết kế và xây dựng có quy mô dầu
nhỏ hay lớn. Nhờ vậy mà khi đi vào những thành phố mới của Mỹ
Châu, du khách có cảm giác bình an, tươi mát, gần với thiên
nhiên cây cỏ hơn là cảm giác nặng nề, nghẹt thở như khi đi giữa
những thành phố "vôi hàu bê tông cao ốc"!
Những người xa quê hương lâu
ngày, có dịp du lịch nhiều nơi trên thế giới, khi trở về thăm
lại quê hương Việt Nam thường có một cảm nhận chung là thiên
nhiên Việt Nam mình đẹp quá. Những cánh đồng bằng xanh ngút mắt,
những vùng cao nguyên đồi núi chập chùng, những thành phố ven
biển mây nước mênh mông, những ốc đảo ẩn hiện ngoài khơi... đẹp
đến lặng người.
Trong một bài viết trước đã được
đăng tải và xuất bản, nhan đề : "Dòng Sông Biệt Xứ", người viết
bài nầy đã có dịp mô tả và nhận định về "sự vôi hóa" của những
dòng sông. Có những dòng sông đẹp như một ân sủng của thiên
nhiên dành cho trái đất như sông Seine, sông Danube, sông Tiber,
sông Thames... đã bị kỹ nghệ lâu đài biến thành những lạch nước
chảy một cách tội tình giữa hai bờ bê-tông và nhà cửa, cao ốc
san sát. Tham vọng của con người đã lấn chiếm thiên nhiên để phô
trương vẻ giàu sang thô nhám trên vẻ đẹp mượt mà của tạo vật.
Những núi biển, sông hồ, cảnh quang thiên nhiên nhiều nơi đã bị
con người đày đi biệt xứ. Nếu hiện tượng nầy đang xẩy ra trên
quê hương Việt Nam thì quả thật là một điều đang quan ngại cần
phải cân nhắc một cách cẩn trọng trên tầm mức quốc gia.
Nếu tự hào là một Cố Đô, một
thành phố văn hóa thì khía cạnh văn hóa vật thể đang thiếu
nghiêm trọng ở Huế là tượng đài chứ không phải là phòng ngủ và
khách sạn. Nếu cần có một công trình xây dựng để nâng cao ngành
du lịch Huế thì với một diện tích khiêm tốn 70.000m2, Đồi Vọng
Cảnh là nơi thích hợp để xây dựng tượng đài chứ không phải là
khách sạn. Nhiều thế hệ đi qua, đã có bao nhiêu người đặt vấn
đề rằng, với 700 năm lịch sử Công Chúa Huyền Trân, tại sao Huế
vẫn chưa có một tượng đài Huyền Trân Công Chúa. Trên quy mô địa
bàn thành phố Huế phát triển và mở rộng, Đồi Vọng Cảnh sẽ là nơi
thích hợp nhất để dựng tượng đài Công Chúa Huyền Trân.
Sau Đồi Vọng Cảnh
Với một tâm lý lành mạnh, ai mà
chẳng muốn quê hương mình giàu đẹp. Sự giàu đẹp của bất cứ một
đất nước nào đang đang trên đà vươn lên và phát triển, nhìn trên
khía cạnh nhân văn, thường diễn ra trong ba mô thức: Tha hóa,
tục hóa và văn hóa.
Mô thức phát triển tha hóa là bị
trói buộc và hướng dẫn bởi động cơ lợi nhuận. Đa phần nguồn vốn
đầu tư từ các thế lực kinh doanh nước ngoài. Những dự án đầu tư
xây dựng nặng tính cá thể, bất chấp hình thái và phương tiện
kinh doanh có phù hợp với quyền lợi và hoàn cảnh kinh tế, xã hội
và văn hóa xung quanh hay không.
Mô thức phát triển tục hóa là sự
diễn dịch sai lầm dấu hiệu văn minh tiên tiến. Để rồi, nhắm mắt
để bị cuốn theo sức hút mù mịt của một sự đổi mới vội vàng đầy
vọng động. Đổi mới thiếu hướng chủ đạo (master plan) là đổi
bình mới, lấy rượu cũ. Bề mặt "nổi" của mô thức phát triển tục
hóa là sự chạy theo những phong trào thời thượng hình thức tại
các thành phố đông người. Điển hình là sinh hoạt nặng dục tính,
suy tôn vật chất. Nếp sống tri thức bị giới hạn và tinh thần tù
đọng. Khung cảnh văn hóa và xã hội nặng hình thức, nghèo nội
dung.
Mô thức phát triển văn hóa là có
sự kết hợp hài hòa và phối hợp đồng bộ giữa hai lĩnh vực nhân
văn và kinh tế. Bên cạnh một đời sống xã hội mang tính văn hóa
phù hợp với truyền thống và hướng đi lên của một đất nước, sự
kiến thiết và xây dựng những cơ sở vật chất có sự quân bình giữa
hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến -- mà bất cứ ở đâu hay thời
nào cũng có.
Nếu Đồi Vọng Cảnh mai kia biến
thành Khách Sạn Vọng Cảnh, điều đáng quan ngại không phải là từ
đó, con mắt Huế phải đeo kính cửa sổ phòng ngủ để nhìn về Huế.
Vấn đề đáng quan tâm hàng đầu ở đây là sẽ có bao nhiêu danh lam
thắng cảnh, bao nhiêu vị trí thiên nhiên của đất nước Việt Nam,
xuyên suốt cả ba miền Bắc Trung Nam sẽ bị khiếm dụng (misuse)
hay lạm dụng (abuse) vì sự bành trướng của kỹ nghệ du lịch và
khách sạn phối hợp.
Công ty kinh doanh khai thác
khách sạn du lịch Hà Lan-Áo "Dutch-Austrian Life Resort" đang
năng nổ bắt tay vào chương trình đầu tư một loạt khách sạn hạng
B & C (trên dưới 100 phòng với giá thuê phòng dưới 100 đô la Mỹ
mỗi đêm) tại Hội An, Qui Nhơn, vịnh Hạ Long, đảo Phú Quốc, Huế,
Đà Lạt... Ông Louk Lennaerts, tổng giám đốc của công ty
Dutch-Austrian Life Resort đã tỏ ra là nhân vật tiêu biểu cho
giới doanh nhân phương Tây với tinh thần rất thực dụng và chủ
quan khi ông tuyên bố rằng, dự án xây khách sạn trên Đồi Vọng
Cảnh vẫn tiến hành nhưng có thay đổi chút ít về vị trí và quan
tâm hơn về việc xử lý rác và chất thải. Lennaerts cũng đã trả
lời trong cuộc phỏng vấn của Trần Nguyên, báo Tuổi Trẻ On Line
(lên mạng ngày 08-04-2005) rằng, ông không cho Đồi Vọng Cảnh là
một ngọn đồi thiêng vì chẳng có sự thờ cúng gì trên ngọn đồi nầy
cả. Nhưng Công Ty ông ta mong muốn xây cho được khách sạn trên
Đồi Vọng Cảnh vì vị trí nầy quá đẹp.
Khi phát biểu như thế với phóng
viên Trần Nguyên, không hiểu Lennaerts có liên tưởng đến một
rừng tiếng kêu xác quyết hơn, tha thiết hơn, nặng tình nặng
nghĩa hơn phát ra từ trái tim của những người Huế, những người
yêu Huế và những người mong có ngày thăm lại Huế xưa. Đấy là
tiếng kêu văn hóa, ngược lại với tiếng kêu thương mãi, rằng: Vì
vị trí Đồi Vọng Cảnh quá đẹp nên chúng tôi muốn giữ nó phong
quang như giữ đôi mắt của mình. Nhất định không muốn phá nó đi
để biến thành một "hệ thống phòng ngủ cao cấp cho mướn" gọi là
khách sạn!
Mong rằng, Louk Lennaerts hãy tìm
đọc lại những cuốn sách nổi tiếng như The Ugly American (Người
Mỹ Xấu Xí) của William Lederer hay The Quiet American (Người Mỹ
Trầm Lặng) của Graham Greene... để tránh một thái độ hời hợt và
máy móc Âu Mỹ đáng tiếc khi đến làm ăn tại một đất nước Á Châu
tuy chưa giàu, nhưng đã có lịch sử văn hiến mấy nghìn năm như
Việt Nam. Cái lô-gích thuần lý phương Tây của Lennaerts may lắm
là chỉ mô tả được vẻ mặt và bộ áo bên ngoài, chứ làm sao đủ mẫn
cảm để "thấy" được những đền thờ thầm lặng trong tâm hồn người
Việt Nam đối với quê hương yêu dấu của họ.
Hoàn cảnh phát triển ngành du
lịch của các nước nhỏ vùng quần đảo Caribbean và Thái
Bình Dương rất giống Việt Nam. Giới kinh doanh khách sạn du
lịch quốc tế đã đến khai thác những bãi biển thiên nhiên đẹp
nhất của các xứ chậm phát triển và thiếu nguồn vốn đầu tư nầy.
Sau hơn nửa thế kỷ bị bóc lột, đến thập niên sau cùng của thế kỷ
20, giới lãnh đạo của các nước Caribbean mới tĩnh ngộ để chủ
động bắt tay nhau đứng lên thành lập Liên Minh Bảo Vệ Ngành Du
Lịch Vùng Caribbean (The Caribbean Alliance For Sustainable
Tourism). Bất cứ công ty khai thác khách sạn du lịch nào muốn
họat động ở vùng nầy, điều kiện tiên quyết phải là hội viên của
tổ chức kinh doanh khách sạn trong vùng, được Liên Minh chấp
nhận tư cách pháp lý và cấp giấy phép hành nghề.
Trong Hội Nghị bảo vệ
thiên nhiên và môi sinh "Green Tourism Conference" tổ chức tại
Montego Bay ngày 23-7-2004, bà Berthia Parle, chủ tịch Liên Minh
Bảo Vệ Ngành Du Lịch Caribbean đã mạnh mẽ yêu cầu Liên Minh
tuyệt đối không nhượng bộ các nỗ lực mua bán, đổi chác những tụ
điểm lịch sử hay thiên nhiên cho các tập đoàn kinh doanh khách
sạn. Họ thường xuyên dựa vào thế lực lãnh đạo địa phương và sức
mạnh của nguồn vốn đầu tư hùng hậu để chiếm lĩnh cho bằng được
những vị trí thiêng liêng và đẹp đẽ nhất để xây khách sạn bằng
bất cứ giá nào. Đơn giản bởi vì đấy là sự đầu tư "nhất bản vạn
lợi" hàng đầu trong ngành kinh doanh khách sạn du lịch. Bà
Parle đã lập đi lập lại trong bài diễn văn được cử tọa tán
thưởng nồng nhiệt rằng, những tụ điểm danh lam thắng cảnh là văn
hóa, là gia sản tinh thần cũng như vật chất của của thế hệ đàn
em. Parle đã tha thiết kêu gọi: "Nền văn hóa của chúng ta và
tương lai của thế hệ đàn em không thể nào đem bán được, nó là vô
giá" (Our culture and the next generation's future cannot be
sold, it's priceless (10) !)
Chuyện du lịch xứ người là thế, còn chuyện xứ ta thì
sao? Số phận chung quyết của Đồi Vọng Cảnh ở Huế trong những
ngày sắp tới sẽ là câu trả lời cụ thể và hùng hồn nhất cho thế
hệ đàn anh hôm nay và đàn em mai sau.
Trần Kiêm Đoàn
Sacramento, California 4-2005
1 English version: Translated by Dr. Tran
Kiem Doan and sent to CEO of Dutch-Austrian Life Resort.
2 Merky, Lindsey J. et al. Cross-cultural
Assimilation. Harper; New York, 2002.
3 Doug Lancaster, Adam Lindsey, Robert
Hughes..Multi-cultural Research. Đại học LPU, OR, 2003
4
http://www.indochinatour.com/vietnam/hotel/hiltonhanoi
5 Julie Biene. Romemythology., Harper San
francico, 2002
6 Milo Delgo. Contemporary Sculpture. Milan,
2003
7 Edward Flynn. Retrospect. San Francisco
Examiner. Apr, 2004
8 Google "Đồi Vọng Cảnh Huế". Search Online.
Website: April 20, 2005
9 Thanhnien Online 26-02-2005. Bùi Ngọc
Long. Tuoitre Online 22-4-2005. Vietnam. Net 3-9-05
10 CAST: Caribbean Alliance For Sustainable
Tourism. April 25, 2005.
Bertha Parle, CHA President. The Need For
Sustainable Tourism., July 23, 2004
Ý Kiến xin gửi về:
trankiemdoan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |