|
Gần đây
tại một số các quốc gia, đặc biệt là các nước phương Tây, tỷ dụ
như Anh, Mỹ, Gia Nã Đại, Tây Ban Nha,
một số các phong trào của các nhóm đồng tính luyến ái đã vận
động và đòi Quốc Hội chấp nhận quyền được kết hôn của những
người cùng phái, gồm cả nam lẫn nữ, (same-sex marriage) và hợp
thức hoá hôn nhân của họ, để họ cũng được hưởng quyền lợi như
những cặp hôn nhân khác. Trước sức ép của việc hợp thức hoá hôn
nhân cùng phái và sự kiện ly dị mỗi ngày một gia tăng,
khái niệm truyền thống về hôn nhân và giá trị gia đình dường như
không còn được rõ ràng đối với một số đông trong anh chị em
chúng ta. Lẽ đó, người viết xin mạo muội được chia sẻ một vài
suy tư và cảm nghĩ của mình về trách nhiệm luân lý trong đời
sống hôn nhân và gia đình đối với thời đại mà chúng ta đang
sống.
I. TÌNH
YÊU HÔN NHÂN ĐANG BỊ ĐE DỌA.
Đức cố
thánh cha Gioan Phaolô II, nhân dịp viếng thăm Mexico tháng
5.1990 đã nói về gia đình như sau: "Tình yêu trong thế giới ngày
nay đang bị đe dọa bằng nhiều cách và tình yêu gia đình đang bị
lu mờ dần dần." Để điều chỉnh lại tình trạng này, Ngài nói đến
sự cao cả và trách nhiệm của gia đình. Gia đình là một cộng đồng
đầu tiên của sự sống và tình yêu. Gia đình là một môi trường đầu
tiên nơi con người học yêu mến và cảm thấy được mến yêu. Không
những bởi người khác mà còn bởi chính Thiên Chúa nữa. ĐTC kêu
gọi như sau: "Vì thế, hỡi các cha mẹ Công Giáo, bổn phận của anh
chị em là xây dựng và gìn giữ tổ ấm này, trong đó con cái anh
chị em được sinh ra và lớn lên trong phẩm giá làm con T.C. Nhưng
tình yêu của anh chị em chỉ có thể nói về T.C cho con cái của
anh chị em, nếu trước hết anh chị em được sống trong sự thánh
thiện và trong việc tận hiến hoàn toàn cho nhau trong hôn nhân."
Do đó,
mục đích của bài viết này nhằm đưa ra một vài yếu tố cơ bản giúp
chúng ta có thể thực hiện và xây dựng một mái ấm gia đình Kitô
Giáo, thể theo như những gì mà Vị Cha chung của chúng ta, Cố
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã mời gọi.
II.
TRÁCH NHIỆM LUÂN LÝ TRONG HÔN NHÂN
1) Thời
gian đính hôn.
Thông
thường thì việc chuẩn bị cho hôn nhân được diễn ra, sau thời
gian mà hai anh chị đã quen nhau và đã trở nên thân thiết. Sau
thời gian này, nếu được tiếp tục, họ sẽ đi đến thời kỳđính hôn.
Cái động lực chính để đưa hai tâm hồn đến với nhau, trong nhiều
trường hợp, đó chính là tình yêu mà họ đã cảm nghiệm được từ nơi
nhau. Người thanh niên kia vàcô thiếu nữ nọ tự khám phá ra những
nét độc đáo nơi đối tượng của mình, mà thiết tưởng người ngoài
cuộc có thể không nhìn thấy, và điều đó khiến cho cả hai người
cảm thấy họ thực sự thuộc về nhau. Có thể trong một vài trường
hợp khác, cái động lực chính trong việc chọn lựa cho mình một
người bạn đời, lại là những yếu tố có tính thực tiễn và do bởi
lý luận tự nhiên, tỷ dụ như cùng một nghề nghiệp hay cùng chung
một sở thích. Nhưng cũng có trường hợp, tuy chỉ mới gặp nhau đôi
ba lần mà cả hai anh chị đã yêu nhau ngay lập tức. Đó là một sự
kiện mà ta hay đề cập đến gọi là "tiếng sét của ái tình", nhưng
dầu sao đi chăng nữa, thì chúng ta cũng không nên loại trừ vai
trò của lý trí và tiếng nói của lương tâm trong việc chọn lựa
người bạn đời cho chính mình. Vì đôi khi yêu quá cũng có thể hóa
dại.
Người
bạn đường tương lai phải có trách nhiệm xem xét và tìm hiểu coi
đối tượng và mình có thể hoà hợp với nhau hay không? Và có sẵn
sàng chia sẻ vơí nhau những khó khăn để cùng nhau xây dựng hạnh
phúc lứa đôi cho bền lâu. Đây thiết nghĩ là công việc của thời
gian đính hôn.
2) Ý
nghĩa của giai đoạn đính hôn.
Thời
gian đính hôn là một cơ hội thuận tiện, cho phép cả hai tìm hiểu
lẫn nhau để xem tình yêu của mình có được đặt trên một nền tảng
vững chắc hay không? Trong giai đoạn này, họ có thể có những
tranh luận hoặc bất đồng ý kiến với nhau trong khi thảo luận hay
nói chuyện. Họ có thể dò xét những sở thích của nhau, tìm hiểu
những ưu khuyết điểm của nhau và giúp nhau vượt qua những tính
hư nết xấu nếu có. Dần dà như thế, họ có thể hiểu rõ hơn về đối
tượng của chính mình để có một cái nhìn trung thực và chuẩn xác
hơn. Và hy vọng với những chiều hướng như thế, sau này họ sẽ
khắc phục được những khó khăn khi về chung sống với nhau với tư
cách là vợ chồng.
Có thể
nói cái điểm then chốt hay cơ bản, trong thời kỳ đính hôn là
thời gian để cả hai bên xem xét lẫn nhau. Và để tránh tình trạng
ngộ nhận về đối tượng của mình, thì chúng ta cần có một thời
gian tương đối kha khá, có thể là 6 tháng trở lên. Kẻo sau này,
khi lấy nhau về, lại có người than rằng: "Phải hồi đó, con biết
"ảnh" như dzậy thì con đâu có lấy"… Tính hấp tấp, vội vàng
thường hay dẫn đến sự ngộ nhận - "dục tốc bất đạt" - người xưa
vẫn nói thế. Nhưng ngược lại, cũng không nên kéo dài quá, tỉ dụ
như đã đính hôn cả hơn hai năm mà vẫn chưa thấy cưới, như vậy nó
cũng đâm ra thất lợi. Người con gái họ cũng chỉ có một thời mà
thôi!
Người
trẻ hôm nay, có rất nhiều tự do trong việc chọn lựa cho mình một
người bạn đời, so với bậc cha mẹ thuở xưa. Nhưng điều ấy cũng
kèm theo sự gia tăng về trách nhiệm cá nhân. Nói một cách chung,
thì giới trẻ hôm nay bước vào ngưỡng cửa hôn nhân muộn hơn, so
với thời ông bà của chúng ta trước đây.
Điều ấy, nhìn với một khía cạnh tích cực thì nó có thể diễn tả
sự trưởng thành trong cái quyết định của chính họ. Tuy vậy,
người trẻ hôm nay cũng gặp rất nhiều khó khăn đang khi bước vào
đời sống hôn nhân. Họ bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tư tưởng
hiện đại, coi nhẹ cái giá trị của đời sống gia đình và định chế
hôn nhân. Có một số các bạn trẻ quan niệm như sau: Nếu thích thì
ở với nhau, còn không thích nữa thì ra toà ly dị, rồi đường ai
nấy đi, như vậy là êm xuôi, không phiền toái gì đến ai cả. Quan
niệm ấy đặt giá trị hôn nhân như là một "hợp đồng" giữa hai
người, mất đi cái ý nghĩa của hôn ước hay giao ước, và mất đi
cái giá trị của sự bất khả phân ly trong định chế hôn nhân. Điều
này xảy ra rất nhiều ở các nước Tây phương, vì lẽ đó mà con số
ly dị của họ lên rất cao. Một vài tỷ dụ để dẫn chứng.
-
Tại nước Ý Đại Lợi, theo con số thống kê
của Học Viện Quốc Gia cho biết thì có sự gia tăng về mức độ
ly dị hiện nay. Họ cho biết cứ 100 đôi hôn phối thì tỷ lệ ly
thân là 23.5%. Trong số này có 12.3% sẽ ly dị chính thức.
Theo bài viết được đăng tải trên nhật báo La Repubblica
phát hành ngày 20.10.2001, thì con số ly dị hiện nay tại Ý
gia tăng gấp 3 lần trong những năm gần đây.
-
Tại Anh Quốc, theo tờ báo The Time
ra ngày 22.8.2001, thì hiện nay đang có một hiện tượng đáng
chú ý, đó là con số ly dị đang gia tăng đối với những cặp vợ
chồng mà hôn nhân được thực hiện lần thứ hai. Theo thống kê
cho biết thì có 18.000 đôi vợ chồng ly dị vào năm 1981 và
đến năm 1999 thì có 28.000. Như vậy chỉ trong có 8 năm, con
số đã nhảy vọt hơn lên 10.000.
-
Tại nước Úc Đại Lợi, theo nhật báo The
Age xuất bản tại thành phố Melbourne, phát hành ngày
25.10.2001, thì cứ 3 đôi hôn phối, có 1 đôi sẽ ly dị và con
số này còn gia tăng.
Từ đó
chúng ta có thể suy ra ảnh hưởng của ý thức hệ rất quan trọng.
Tôi rất thích cái câu của Steven Biko, một nhà đấu tranh cho
nhân quyền ở Nam Phi trong gian đoạn kỳ thị chủng tộc, giữa
người da trắng và người da đen tại đây. Anh ta nói như thế này:
"nếu bạn muốn cải tổ xã hội, bạn trước tiên, phải thay đổi cái
não trạng của họ." Đời sống hôn nhân sẽ bị ảnh hưởng rất lớn -
điều này có thể xấu hoặc tốt - tuỳ theo cái nhìn của mỗi người
chúng ta và những giá trị mà chúng ta gán đặt cho nó.
Lẽ đó, mà tôi thiết
nghĩ, anh chị em chúng ta, những nhà lãnh đạo tinh thần, chúng
ta có một trọng trách rất lớn trong việc bảo tồn, duy trì và
phát triển những giá trị đặc biệt trong đời sống hôn nhân Công
Giáo. Chúng ta và những người tín hữu trong cộng đoàn của chúng
ta phải ra sức tìm cách, hầu đề ra những phương thế hữu hiệu
nhằm giúp đỡ và hướng dẫn người trẻ hôm nay, để họ có cơ hội tìm
hiểu và khám phá ra cho chính mình những giá trị tốt đẹp và độc
đáo trong đời sống gia đình; nhờ đó, họ được am hiểu một cách
tường tận thế nào là đời sống hôn nhân. Điều này có thể thực
hiện cách hữu hiệu qua các khoá dự bị hôn nhân, nếu chúng ta tổ
chức cho đến nơi, đến chốn. Đặc biệt là tại những nơi mà từ xưa
đến nay, chúng ta đã có một truyền thống tốt đẹp về các lớp dự
bị hôn nhân, có lẽ lúc này chúng ta cần đẩy mạnh và thăng tiến
nó để cho nó được hoàn chỉnh hơn.
Theo
nhận xét chung, có tính cách mục vụ, thì những người trẻ sắp sửa
bước vào đời sống hôn nhân, nếu họ bằng lòng chịu khó chuẩn bị
cho mình một cách tỉ mỉ bằng việc tham dự học hỏi cho đến nơi,
đến chốn, các lớp dự bị về hôn nhân, thì họ sẽ có nhiều điều
kiện và cơ hội hơn, để xây dựng mái ấm gia đình được bền lâu, và
họ sẽ sống hạnh phúc với nhau hơn, là những anh chị em không có
tham gia các lớp dự bị hôn nhân. Nói như vậy, cũng không có
nghĩa là, hễ ai đi học lớp dự bị hôn nhân thì đều có hy vọng là
đời sống lứa đôi của mình sẽ được vững chắc. Vì có nhiều người
đến tham dự lớp dự bị hôn nhân với một tính cách miễn cưỡng, bất
đặng đừng, chứ cũng chả mấy gì là tha thiết cho lắm, miễn sao
cho nó xong, và hoàn tất những thủ tục cần thiết để cha xứ cử
hành thánh lễ hôn phối là kể như hoàn tất.
Nói tóm
lại, các khóa dự bị hôn nhân là điều tối cần thiết cho tất cả
những ai muốn bước vào đời sống gia đình, muốn xây dựng một cuộc
hôn nhân hạnh phúc. Thật khó có thể hiểu được, khi có những
người chỉ muốn lái xe hơi, nhưng không bao giờ chịu khó học lái,
kết quả là họ đã gây ra tai nạn, và thương tổn đến tính mạng,
trước tiên là chính mình, sau đó là những người khác.
III.
BẢN CHẤT CỦA HÔN NHÂN
Trong
đời sống hôn nhân, người nam và người nữ cả hai hợp nhất với
nhau trong cộng đồng yêu thương vợ chồng, tạo cho nhau một mái
ấm và sự hỗ tương về mặt an toàn; họ đáp ứng và thỏa mãn cho
nhau những ước muốn về phương diện thể xác trong yêu thương, từ
đó phát sinh ra con cái. Họ cũng lãnh nhận và đảm nhiệm vai trò
giáo dục con cái. Quyền lập gia đình là một trong những quyền
căn bản của con người, cũng như quyền bình đẳng giữa những người
phối ngẫu trong đời sống gia đình đã được liệt kê trong bản
tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Con người (nam lẫn
nữ) khi đến tuổi trưởng thành, không bị giới hạn bởi chủng tộc,
quốc gia hay tôn giáo, đều có quyền (được lập gia đình) đi đến
hôn nhân và xây dựng mái ấm gia đình (điều 16).
1)
Những mục đích của hôn nhân.
Mục
đích của hôn nhân thì nó đi liền với mục đích của tình yêu tình
dục, nhưng chúng lại không nhất thiết là đồng nhất. Đời sống hôn
nhân không chỉ có mục đích duy nhất là sinh sản con cái, như vẫn
thường được quan niệm trước đây,
nhưng nó còn có những mục đích khác, chẳng hạn như việc giáo dục
con cái. Một trong những mục đích khác của đời sống hôn nhân là
sự tương trợ lẫn nhau trong một cách thức rất cụ thể, được thể
hiện ngang qua cuộc sống hằng ngày, ví dụ như chăm lo săn sóc
lẫn nhau, đặc biệt khi đau yếu, đây cũng là một hình thức biểu
lộ sự yêu thương của tình nghĩa vợ chồng, song song với việc
chăn gối. Nói cách khác, đời sống và mục đích của hôn nhân không
chỉ hạn hẹp trong việc sinh sản và các hành động hợp giao.
1.1.
Sinh sản và giáo dục con cái.
Một
trong những mục đích cơ bản của đời sống vợ chồng là việc sinh
sản con cái: "Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui
hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ân huệ cao
quí nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh
phúc của cha me…” Khi nói như vậy, không có nghĩa là Công Đồng
Vaticanô II, xem thường hay coi nhẹ những giá trị khác trong đời
sống hôn nhân. Thực ra, hai mục đích này (và nhiều mục đích khác
để phát triển nhân phẩm về mọi phương diện) đều là chính yếu,
nghĩa là hôn nhân đòi hỏi quyền lợi để hai bên (vợ chồng) nhờ
nhau mà đạt tới mục đích ấy. Lập giao ước hôn nhân, nhưng loại
trừ quyền lợi để sinh sản con cái thật là vô lý và giao ước
không thành. Điều này muốn ám chỉ đến những đôi vợ chồng lấy
nhau chỉ để muốn hưởng thụ nhục-cảm, chứ không màng gì đến việc
sinh con cái. Lẽ đó, dưới cái nhìn của Công Đồng thì những đôi
hôn nhân như vậy không thành sự, xét về phương diện bí tích.
Do đó,
việc thể hiện đích thực tình yêu vợ chồng cũng như toàn thể tổ
chức đời sống gia đình phát sinh từ việc sinh sản con cái, đều
nhằm giúp đôi vợ chồng can đảm sẵn sàng cộng tác với tình yêu
của Đấng Tạo Hoá và Cứu Thế, mặc dù không loại bỏ các mục đích
khác của hôn nhân (như đã giải thích ở trên). Nhờ đời sống lứa
đôi, Thiên Chúa làm cho gia đình Ngài càng ngày càng bành tướng
và phong phú hơn.
Bổn
phận truyền sinh và giáo dục con cái phải được coi là sứ mệnh
riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết
rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hoá và như
thể trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ
sẽ chu toàn bổn phận của mình với trách nhiệm là bậc cha mẹ và
là người Ki-tô hữu.
Nhằm
chú giải ước muốn của Đấng Tạo Hoá, Thánh Kinh đã chí lý khi coi
việc lưu sinh hậu thế là một mục đích thiết yếu trong đời sống
hôn nhân. Lời chúc lành của Thiên Chúa cho cặp vợ chồng đầu tiên
của nhân loại trong Sách Sáng Thế ký "Hãy sinh sôi nảy nở thật
nhiều, cho đầy mặt đất" (St 1, 28), đã ban cho đời sống lứa đôi
khả năng sinh sản ở tất cả mọi thời và mọi nơi. Lời chúc phúc
này của Thiên Chúa dành cho đời sống hôn nhân được thể hiện nơi
niềm tin của dân Do-thái rằng: con cái là ân huệ của Thiên Chúa.
Và trong cái kế hoạch của Thiên Chúa đối với đời sống gia đình,
là họ phải sinh sôi nảy nở nhằm bành trướng nhân loại.
Mặc
dầu, một số gia đình hôm nay đã giới hạn số con mà họ sẽ có, so
với thời gian trước đây, vì những lý do chính đáng và dẫu cho
chúng ta hiện tại, đang nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tình yêu
tương-trợ và sự ân cần nâng đỡ lẫn nhau trong đời sống lứa đôi
hơn, so với quá khứ, thì một số đông vợ chồng vẫn tiếp tục khao
khát và ước mong có con. Điều này được thể hiện qua các cặp vợ
chồng hiếm muộn về việc sinh con. Họ đã nổ lực và đã tìm đủ
phương pháp chữa trị hầu có thể thụ thai. Và ngay cả những cách
thức trên đã không thành công, thì họ đã nhận một con nuôi. Điều
này là một chứng cớ hiển nhiên, có sức thuyết phục chúng ta về
sự thật rằng: định chế hôn nhân và tình dục tự bản chất của nó
qui hướng về việc sinh sản con cái.
Định
chế hôn nhân và mái ấm gia đình tạo nên những điều kiện hay môi
trường thuận lợi cho việc sinh sản con cái và giáo dục chúng.
Quả thực, đời sống hôn nhân và gia đình chuẩn bị một bầu khí cần
thiết cho tình yêu vợ chồng và hoa trái của tình yêu đó là những
đứa con. Vì thế các quan hệ về tình dục chỉ hợp pháp trong lãnh
vực đời sống hôn nhân.
1.2. Sự
nâng đỡ lẫn nhau và lòng thủy chung trong tình yêu.
Một mục
đích quan trọng khác được đạt đến ngang qua giao ước hôn nhân,
đó chính là sự giúp đỡ lẫn nhau và lòng thủy chung trong tình
yêu của đời sống vợ chồng. Người xưa vẫn nói: "dấu ấn của tình
yêu là lòng chung thủy." Trong hôn nhân, người nam cũng như
người nữ: "phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết
trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự
hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật
thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích
của con cái, buộc vợ chồng phải trung tín và đòi hỏi kết hợp với
nhau bất khả phân ly (Gaudium et Spes, 48). Trong giao
ước hôn nhân, người nam và người nữ với những năng khiếu và khả
năng khác biệt, bổ túc lẫn nhau một cách hết sức hoàn hảo. Nói
cách khác, họ bổ sung cho những khiếm khuyết của nhau.
Chính
mục đích này mà trong đời sống hôn nhân đã được Thánh Kinh trong
Sáng Thế Ký xác định và thuật lại, nó xảy ra trong vườn địa
đàng. Lý do tại sao Thiên Chúa phú ban một người nội trợ và cũng
là bạn đường cho người đàn ông, là để nâng đỡ lẫn nhau và để trở
nên bạn đồng hành. "Người nam ở một mình không tốt. Ta sẽ làm
cho nó một người trợ tá tương xứng với nó" (St 2,18). Vì vậy,
Thiên Chúa đã dựng nên một người nữ. Nhìn thấy người phụ nữ,
Adam đã nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi
thịt tôi!" Và Thánh Kinh đã kết luận: "Bởi thế, người đàn ông
lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một
thịt" (St 1, 23tt). Cách diễn tả "một xương một thịt" xác định
một cách hết sức thực tiễn và rõ rệt sự trọn vẹn và giúp đỡ lẫn
nhau, giữa người nam và người nữ trong đời sống hôn nhân. Điều
đó ngụ ý rằng hôn nhân không chỉ là một sự ràng buộc, nhưng nó
là một thực thể mới, hay là một đời sống mới, một cuộc sống
chung với nhau, đã được cấu tạo và trong thực tế chúng ta không
bao giờ có thể tháo gỡ.
Sự giúp
đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng trong đời sống hôn nhân, không chỉ
trong những khi vui tươi phấn khởi hay là hạnh phúc ngập tràn,
mà ngay cả những khi gặp khốn khó, hoạn nạn hay ưu sầu. Nói tóm
lại, đã là vợ chồng thì chúng ta phải chung lưng đấu cật, cùng
chia sẻ với nhau tất cả mọi ưu tư lo lắng trong đời sống lứa
đôi. Sự so sánh giữa hôn nhân loài người và sự kết hiệp mật
thiết giữa Chúa Giê-su và Giáo Hội được mô tả trong thư gửi tín
hữu Ê-phê-sô (Ep 5,21-33). Đó là điều thánh Phaolô muốn chúng ta
nắm giữ khi ngài nói: Hỡi các người chồng, hãy yêu mến vợ mình
như Chúa Kitô đã yêu thương Giáo Hội, và đã nộp mình vì Giáo
Hội, để thánh hóa Giáo Hội (Ep 5,25-26), và thánh nhân cũng
không quên nhấn mạnh rằng: "này người nam sẽ rời bỏ cha mẹ mình
để gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ làm thành một xác thịt duy
nhất. Mầu nhiệm này thật lớn lao: tôi muốn ám chỉ về Chúa Kitô
và Giáo Hội." (Ep 5,31-32). Xem Sách Giáo Lý Công Giáo (GLCG),
số 1617.
Điều mà
tôi vừa trích dẫn ở trên, nhằm mục đích nói lên một thực tại
trong đời sống hôn nhân, đó là ý nghĩa của sự khổ đau, được coi
như thập giá. Quả thực, trong bất kỳ bậc sống nào, tu trì hay
lập gia đình, chúng ta đều có thập giá mà Chúa trao gởi cho
chúng ta. Điều ấy không có nghĩa là chúng ta dơ tay đầu hàng khi
đối diện với những khổ đau, thất bại hoặc điều bất hạnh xảy đến.
Là Ki-tô hữu chúng ta được kêu mời để không ngừng nổ lực đem hết
mọi cố gắng hầu bảo vệ và duy trì hạnh phúc gia đình, ngay cả
những khi gặp trục trặc. Đôi khi, chúng ta cũng cần nhắc nhở
chính mình là những bất hạnh ấy cũng có thể là những cơ may cho
chúng ta, nhằm điều chỉnh một vài sự sai trái của bản thân và
cũng có thể trở thành trường dạy của tình yêu, giúp ta khám phá
ra những giá trị cao hơn của đời sống vợ chồng.
2) Sự
bất khả phân ly trong đời sống vợ chồng.
Một số
xã hội trong thế giới ngày nay đã cho phép ly dị trong một vài
trường hợp, khi có sự bất tương xứng giữa những cặp vợ chồng.
Trong số những nguyên nhân và căn cớ làm nền tảng cho việc ly dị
được công nhận, đó là vấn đề ngoại tình, đặc biệt là điều ấy nếu
được gây ra do người vợ. Một nguyên nhân nữa gây nên sự ly dị,
đó là tình trạng hiếm muộn không thể sinh con do người vợ, một
giải pháp được đưa ra cho vấn nạn trên, là cho phép người đàn
ông được cưới vợ bé. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần ghi nhận rằng:
phần đông các quốc gia không coi việc ly dị là một giải pháp lý
tưởng. Vì thế, việc ly dị tuy được chấp nhận ở một vài xã hội,
nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả mọi nơi đều nhất trí và
ủng hộ lập trường đó.
Vấn đề
ly dị, trong những thập niên gần đây đã trở thành một vấn nạn
khá thương đau. Cấp độ ly dị đã gia tăng một cách hết sức nhanh
chóng.
Nhiều lý do được đưa ra hay được vịn tới, thêm vào số những lý
do đã được nêu trên. Sự tự do phóng túng trong vấn đề tình dục
đã được chấp nhận cách rộng rãi hơn trước. Trong thế giới kỹ
nghệ hoá và với những thành phố văn minh hiện đại ngày nay, con
người không còn chung sống như một đại gia đình, trong đó gồm có
ông bà nội, ngoại, hay cô chú, dì dượng… v.v.., trái lại, họ
sống như kiểu gia đình hạt nhân hay còn gọi là tiểu gia đình:
trong đó chỉ có ba mẹ và con cái. Điều này, một mặt, đánh mất
đi sự nâng đỡ hữu hiệu của những thân nhân ruột thịt, bà con
trong họ hàng đối với vợ chồng. Đàng khác, đối với những cặp vợ
chồng mà họ phải sống xa nhau tạm thời, vì công ăn việc làm.
Trong những hoàn cảnh như vậy sẽ gia tăng cái nhu cầu tìm cho
mình một người "bạn đường" khác. Thêm vào đó, con người ngày hôm
nay dường như sống lâu hơn, đặc biệt trong những quốc gia phát
triển và văn minh so với ba hoặc bốn chục năm trước đây. Trong
quá khứ, cái chết của hai vợ chồng sẽ kết thúc hôn nhân, trước
cái thời điểm mà họ có thể cứu xét đến việc ly dị. Trái lại,
ngày hôm nay, nếu có sự ly thân, thì điều ấy quả là một gánh
nặng đau khổ, bởi vì sự sống của con người hôm nay kéo dài hơn.
Nhiều đạo luật cho phép việc ly dị, mà chúng ta thấy trong thế
giới ngày nay tại một vài quốc gia, chẳng qua, đó cũng là một
phản ảnh của thực tế về những sự kiện thay đổi trong cuộc sống
con người; nhưng cùng lúc điều ấy, cũng là một lời mời hấp dẫn
và dễ dàng bị cám dỗ. Nó đưa đến cho chúng ta một giải pháp rất
thuận tiện cho những khó khăn mà chúng ta đang gặp trong đời
sống hôn nhân, nhất là khi cơm không ngon, canh không ngọt.
Một mặt
khác, điều này cũng ghi nhận rằng, theo con số thống kê cho
biết, một tỷ lệ khá đáng kể của nhiều cặp vợ chồng đã ly dị, họ
đã công khai thú nhận rằng: hôn nhân của họ có thể được cứu vãn.
Dám thú nhận điều này, quả thực là một hành động khiêm tốn và là
một lời khuyến khích thật quí báu cho những cặp vợ chồng khác
khi họ đang gặp khó khăn.
VI.
QUAN ĐIỂM CỦA THÁNH KINH ĐỐI VỚI VIỆC LY DỊ.
1. Cựu
Ước
Thái độ
của Cựu Ước đối với việc ly dị thì đồng quan điểm với những dữ
kiện mà người ta tìm thấy dựa vào khoa nhân học xã hội (Social
Anthropology). Trong thời Giáo phụ, chỉ có một trường hợp ly dị
được nhắc tới: đó là việc Tổ phụ Abraham đuổi nàng thiếp của
mình theo yêu cầu của Sarah (St 21, 9-14). Sự việc khước từ một
cô vợ nếu không có lý do chính đáng, thì tiền nộp cho phía cô
dâu sẽ không được trả lại cho chú rễ, hẵn nhiên, điều này cũng
nhằm để ngăn ngừa tình trạng từ chối hôn nhân hay ly dị một cách
tự tiện, và bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Nhưng trong thực
tế, hay trên phương diện nguyên tắc, ly dị vẫn có thể xảy ra, và
luật lệ của người Do-thái cho phép thực hiện điều ấy và chấp
nhận điều đó là hợp pháp. Nếu người đàn ông đã lấy vợ và đã cưới
hỏi rồi, mà sau đó vợ không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy
thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng
thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà (x. Đnl 24,1). Điều
nổi bật và đáng chú ý của chứng thư ly dị là người phụ nữ đó
được quyền tái giá với một người đàn ông khác mà không phạm tội
ngoại tình (x. Đnl 24, 2).
Lý
chứng để làm nền tảng cho việc ly dị được mô tả khá chi tiết
trong bản văn của sách Đệ Nhị Luật, và đã là nguyên nhân cho
những cuộc tranh luận sôi nổi trong giới các luật sĩ. Trong thời
buổi Chúa Giê-su, có hai lối giải thích khá quan trọng đối với
luật cho phép được ly dị, xuất phát từ hai trường phái.
-
Trường phái thứ nhất là của Shammai, có
vẻ nhặt nhiệm hơn, chỉ có việc ngoại tình của người vợ thì
mới được coi là đủ lý chứng cho việc ly dị.
-
Trường phái thứ hai là của Hillel, được
đặt trên nền tảng của chương 24, câu 1, trong sách Đệ Nhị
Luật, cho rằng bất cứ lý do gì cũng được. Trong số đó, một
vài lý do được nhắc tới, tỷ dụ như việc người vợ nấu thức ăn
bị cháy, hoặc ngay cả nếu người chồng tìm thấy một người phụ
nữ khác đẹp hơn, thì ông ta cũng có quyền ly dị vợ mình để
đính hôn với người ấy. Dân chúng thời Chúa Giê-su trong các
hội đường ủng hộ lập trường của phái Hillel. Dẫu vậy, việc
ly dị cũng đã không xảy ra thường xuyên, chỉ có những kẻ
giàu có lợi dụng chuyện này.
Các
ngôn sứ, một đàng tỏ ra chấp nhận việc ly dị như một thực tại
của hoàn cảnh; nhưng đàng khác, họ nhìn nhận sự bất khả phân ly
trong hôn nhân là một lý tưởng. Tuy nhiên, điều rõ nét nhất
trong toàn bộ các lời giảng dạy của các ngài về hôn nhân và sự
trung tín giữa vợ chồng, thì việc ly dị là điều không thể xảy
ra. Sự bất khả phân ly trong đời sống hôn nhân thì cũng giống
như cái lý tưởng một vợ một chồng, được các ngôn sứ bao hàm
trong lối so sánh của họ, nhằm nói lên mối liên hệ mật thiết của
Đức Chúa Yavê và dân Do-thái, tựa như một hôn ước (marriage
covenant). Tột đỉnh của lý tưởng hôn nhân được mô tả trong Cựu
Ước, qua đoạn sách của ngôn sứ Malachi (2,14-16).
"Bởi Đức Chúa Trời
là chứng nhân giữa ngươi và người đàn bà ngươi đã cưới trong
tuổi thanh xuân. Chính ngươi đã phản bội nó, mặc dầu nó là bạn
đường và là người vợ kết ước với ngươi. Người đã chẳng làm nên
một hữu thể duy nhất có xác thịt và Thần Khí đó sao? Vậy hữu thể
duy nhất này tìm cái gì? Một dòng dõi của Thiên Chúa. Các ngươi
hãy coi chừng và chớ phản bội người đàn bà ngươi đã cưới trong
tuổi thanh xuân. Quả thật, Ta ghét việc rẫy vợ, Đức Chúa, Thiên
Chúa Ít-ra-en phán."
Cái lý
tưởng này cũng được phản ảnh trong đoạn Sách Sáng Thế, nói về
việc Thiên Chúa tạo dựng người phụ nữ nơi vườn điạ đàng, trong
cái khung cảnh mà hôn nhân đầu tiên được mô tả như là chỉ có một
vợ và một chồng và hôn nhân có tính cách vĩnh viễn.
2.
Tân Ước
Những
tranh luận về việc ly dị giữa những người Do-thái với nhau, tạo
cơ hội cho Chúa Giê-su trả lời cho vấn đề, và đưa ra cái quan
điểm của Ngài một cách công khai, và thẳng thừng lên án cách
mạnh mẽ, những sự ươn hèn của các luật sĩ Do-thái và lập trường
của chính họ về vấn đề ly dị.
Lời lẽ
phát biểu của Ngài được ghi lại trong Tin Mừng của Mát-thê-ô
(5,31tt), Lu-ca (16,18) và thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô
(1Cô-rin-tô 7,10tt). Cũng như trong các cuộc thảo luận được ghi
lại do Mác-cô (10,2-12) và Mát-thê-ô (13, 3-9). Trong khi tranh
luận với các biệt phái, Chúa Giê-su đã hủy bỏ việc cho phép ly
dị theo luật của Mô-sê, điều ấy đã được ban cho dân Do Thái, vì
tấm lòng chai đá của họ. Chúa Giê-su đã trưng dẫn hai đoạn Sách
Thánh nhằm chống lại và phản đối sự việc Mô-sê đã chuẩn cho dân
Do-thái được phép viết chứng thư ly dị. Theo Sách Sáng Thế Ký,
phụ nữ được coi như ngang hàng và bình đẳng về nhân-phẩm với nam
giới. "Cả nam lẫn nữ Thiên Chúa đã dựng nên họ." (St 1,27) " và
cả hai thành một xương một thịt" (St 2,21). Sự hiệp nhất bền
vững giữa người nam và người nữ được Đức Ki-tô nói rõ khi nhắc
lại ý định "từ nguyên thủy" của Đấng Sáng Tạo. "Họ không còn là
hai; nhưng chỉ là một xương một thịt" (Mt 19,6). Lẽ đó, họ không
thể phân ly.
Lời
Chúa Giê-su tỏ cho biết, Ngài khẳng định từ chối bất cứ trường
hợp ly dị nào. Nhưng chẳng phải trong Tin Mừng đã chả cho phép
rẫy vợ (ly dị) trong trường hợp ngoại trừ đó sao? sự kiện này đã
được hợp thức hoá trong điều khoản phạm tội gian dâm với người
khác.
"Còn
Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ngoại trừ trường hợp hôn nhân
bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ tới chỗ ngoại tình; và ai cưới
người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình"
(xem Tin Mừng Mát-thê-ô 5,32).
Và
Mát-thê-ô 19,9 " Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường
hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác thì phạm
tội ngoại tình".
Phải
công tâm mà nói việc chú giải đoạn văn trên với "mệnh đề đặt
điều kiện" là một việc khá phức tạp và nhiều khó khăn. Tuy
nhiên, điều ấy vẫn không có hiệu lực làm mất đi cái giá trị căn
bản mà Chúa Giê-su đã tuyên bố về việc ly dị. Mác-cô, Lu-ca và
Phao-lô không hề hay biết về trường hợp ngoại trừ này. Không thể
hình dung được là họ đã bỏ sót một tuyên ngôn khá quan trọng như
vậy.
Vậy thì
chúng ta phải giải thích như thế nào cái điều khoản gian dâm?
Nhiều học giả Thánh Kinh đã cố gắng chú giải điều ấy với những
lý lẽ khác nhau. Tuy nhiên, có hai giả thuyết đã được đại đa số
chấp nhận. Giả thuyết thứ nhất cho rằng từ "Porneia"
(nguyên ngữ Hy lạp), trong mệnh đề nhắm tới việc cưới hỏi lẫn
nhau giữa những người trong họ hàng thân tộc, điều này đã được
cấm đoán trong Cựu Ước (x. Lv 18, 6 tt) và vì thế được coi như
là bất hợp pháp, bởi người Do-thái cũng như bởi Giáo Hội thời sơ
khai, trong khi điều ấy được coi như là hợp pháp đối với dân
ngoại (tỉ dụ đám cưới giữa chú và cháu hoặc giữa anh em họ với
nhau). Những cuộc hôn nhân như vậy, sau này có thể bị khám phá
ra khi họ nộp đơn xin rửa tội để trở lại đạo, và hôn nhân của họ
phải được kết thúc hoặc giải thể. Điều này, tạo nên cái ấn tượng
là cho phép ly dị đối với người lương dân, sau này các nhà soạn
thảo lại Tin Mừng theo thánh Mát-thê-ô đã nỗ lực cố gắng để đưa
ra một giải thích thỏa đáng cho vấn đề nan giải này.
Giả thuyết thứ hai
thì cho rằng cái mệnh đề (đặt điều kiện) ấy, mô tả một trường
hợp ngoại trừ thật sự đối với việc cấm đoán ly dị. Từ "Porneia"
được chuyển ngữ là thông dâm/gian dâm (Fornication) hoặc ngoại
tình (Adultery). Lối giải thích này được các nhà chú giải Kinh
Thánh của giáo phái Tin Lành và Chính Thống Giáo chấp nhận cách
rộng rãi, và cho đến nay thì một số đông các học giả Công Giáo
cũng đã chấp nhận. Hầu hết các nhà chú giải Kinh Thánh (trong số
đó có cả Công Giáo) hiện nay, có xu hướng chấp nhận trường hợp
ngoại lệ cho vấn đề ly dị trong trường hợp người vợ phạm tội
ngoại tình.
Nhưng
nếu chúng ta đối chiếu với phần chú giải - nằm ở cuối trang -
của bản dịch Tân Ước do Ban PhụngVụ Các Giờ Kinh thực hiện, thì
chúng ta thấy văn bản được dịch là "ngoại trừ trường hợp HÔN
NHÂN BẤT HỢP PHÁP" (Mt 5,32) và cụm từ hôn nhân bất hợp pháp
được giải thích như sau: diễn dịch từ Hy lạp "porneia". Theo văn
mạch ở đây cũng như ở Mt 19,9 và so với Mc 10,11-12; Lc 16,18;
1Cr 7,10-11, thì Chúa Giê-su thắt chặt lại khoản luật lỏng lẽo
của Cựu Ước về ly dị (x. Đnl 24,1-2). Trường hợp ngoại trừ ở đây
không phải là ly dị vì ngoại tình (Hy Lạp: moikheia). Porneia
cũng không hiểu là gian dâm theo nghĩa thông thường, mà theo
luật Do-thái thời xưa. Những cuộc sống chung giữa những người họ
hàng với nhau mà Lê-vi 18 kê khai được coi là gian dâm, nghĩa là
bất hợp pháp. Có lẽ Mát-thêu muốn đưa về Công Vụ Tông Đồ 15, 29
(cũng từ porneia): các tín hữu gốc ngoại phải tránh kết hôn với
người có họ hàng, vì đó trái luật Do-thái, dù rằng theo luật
đời, các hôn nhân giữa họ hàng như vậy có thể hợp pháp.
Chúa
Giê-su từ chối việc ly dị (đối với giả thuyết thứ hai, nghĩa là
được phép ly dị), nếu người vợ phạm tội ngoại tình. Sự kiện Chúa
Giêsu phản đối việc ly dị, điều đó được xem như là một biểu lộ
của lý tưởng, chứ không phải là luật hoàn toàn có tính cách
tuyệt đối. Quan điểm này được ủng hộ dựa vào những chứng cớ tìm
thấy nơi đoạn Tin Mừng của Mát-thê-ô 5, 3tt, qua Bài Giảng Trên
Núi. Tại đây, chính Chúa Giê-su, trong một diễn đạt khoáng đại
đã mời gọi con người đạt tới mức thiện hảo vô song. Nhưng điều
ấy không có nghĩa là đặt ra những luật lệ buộc con người phải
tuân giữ theo sát bản văn.
Trong
Bài Giảng Trên Núi, có rất nhiều lời tuyên bố với tính cách xác
quyết. Tuy nhiên, Giáo Hội chỉ coi đó là những lý tưởng chứ
không phải là giới luật (ví dụ như những huấn dụ về lời thề hứa,
việc bất bạo động, yêu thương kẻ thù và nên hoàn thiện như Thiên
Chúa - xem Mt 5, 21-48).
Vì thế, việc Chúa Giê-su khăng khăng phản đối việc bất khả phân
ly trong đời sống hôn nhân có thể mang một tính chất giống như
vậy, nó chỉ là một lý tưởng mà người ta phải nỗ lực ra sức theo
đuổi chứ không hẳn là một lề luật áp chế tất cả mọi người tuân
theo, theo nghĩa ngữ của nó.
Nói tóm
lại, quan điểm của Chúa Giê-su thì đơn giản: lý tưởng cho các
cặp vợ chồng Ki-tô giáo là họ nên trung tín với nhau, cho nên
việc ly dị xét ra không cần thiết. Nhưng một mặt khác, Giáo Hội
thời tiên khởi, dường như cũng đã xem xét đến những điều kiện
thực tiễn của một thế giới bị giới hạn bởi những khiếm khuyết và
tội lỗi, nên không thể tránh khỏi những bất trắc xảy ra, cho
nên các ngài cũng đã tìm kiếm một giải pháp thích hợp nhằm điều
chỉnh sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tại. Nơi đây, ta cũng
nên nhắc lại trường hợp ngoại trừ được thánh Phao-lô cho phép,
trong trường hợp, một người ngoại giáo mà họ muốn ly dị với
người phối ngẫu của họ đã trở thành Ki-tô hữu. Trong trường hợp
này, thánh Phao-lô phán quyết như sau: Người tín hữu không bị bó
buộc phải duy trì bậc sống độc thân. "Còn với những người khác,
thì tôi nói chính tôi chứ không phải Chúa: nếu anh em nào có vợ
ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy
đừng rẫy vợ. Người vợ nào có chồng ngoại đạo mà người này bằng
lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng bỏ chồng. Thật vậy, chồng
ngoại đạo được thánh hoá nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hoá
nhờ người chồng có đạo. Chẳng vậy, con cái anh em sẽ làm ô uế,
trong khi thật ra chúng là thánh. Nếu người ngoại đạo muốn bỏ
người kia thì cứ bỏ; trong trường hợp đó, chồng hay vợ có đạo
không bị luật hôn nhân ràng buộc: Thiên Chúa đã kêu gọi anh em
sống bình an với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được
chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ?" (1Cr
7,12-16) .
V. GIÁO HUẤN CỦA
HUẤN QUYỀN
Đại đa
số các giáo phụ ủng hộ lập trường tuyệt đối bất khả phân ly của
hôn nhân. Tuy thế, cũng có một số vị đã bênh vực trường hợp
ngoại trừ cho một số trường hợp nan giải. Họ thường xuyên trưng
dẫn đoạn văn của Mat-thê-ô 5,32, để ủng hộ cho quan điểm và lập
trường của họ.
Thái độ
của Huấn Quyền đã được đặc điểm hoá bằng những xác tín không lay
chuyển rằng: sự ràng buộc hôn nhân Công Giáo ngang qua bí tích,
thì không thể tháo cởi, nó mang tính chất bất khả phân ly. Giáo
huấn của các Đức Giáo Hoàng và của Công Đồng chung thì kiên vững
và hầu như đồng tâm nhất trí: việc tái hôn hay lập gia đình lại,
sau khi đã ly dị là điều không thể được, và không thể chấp nhận,
ngoại trừ trong trường hợp đã được tiêu hôn (Annulment), nghĩa
là Giáo Hội, qua toà án Hôn Nhân Công Giáo, xác nhận hôn nhân
đầu tiên của họ không thành sự.
Giáo Hội Công Giáo hằng lên tiếng bảo vệ sự tuyệt đối bất khả
phân ly của hôn nhân, ngay cả khi phải trả một giá rất đắt. Một
ví dụ điển hình nổi bật là thái độ khẳng định của hàng phẩm trật
thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã đối với vua Henry VIII của Anh
quốc, người đã gây nên cuộc ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo La
Mã và thành lập Anh Giáo, bởi vì Đức Giáo Hoàng thời bấy giờ đã
khước từ thỉnh nguyện thư của ngài nhằm để xin phép giải hôn
phối đầu tiên, và cho phép ngài được kết hôn một lần nữa.
Giáo
thuyết về việc bất khả phân ly trong hôn nhân Công Giáo được
công bố một cách rõ rệt, tỏ tường bởi Công Đồng Trentô. Nhưng có
một điểm đáng chú ý là các nghị phụ đã chủ tâm tránh né việc lên
án cách thực hành của các Giáo Hội Đông Phương liên quan đến
việc ly dị. Theo các giáo hội này thì quan điểm của họ cho rằng:
hiệu lực của bí tích hôn phối không có giá trị suốt cả cuộc đời,
đối với người phối ngẫu đầu tiên. Tuy vậy, hôn nhân thứ hai chỉ
là việc bất đặng đừng phải chấp nhận và cho phép đón nhận Bí
tích Hôn phối.
Công
Đồng Va-ti-ca-nô II công bố việc bất khả phân ly của hôn nhân,
mặc dầu có một số nghị phụ đề nghị cho phép ly dị trong một vài
trường hợp nan giải. Sau đây, tôi xin phép trích dẫn một đoạn
trong Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay
(Gaudium et Spes), số 48, liên quan đến việc bất khả phân ly
trong đời sống hôn nhân.
"Như thế, bởi một
hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và
đón nhận nhau nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định
chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì ích lợi của
lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh
thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên
Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu
khác… Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho
nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn
toàn trung tín và đòi họ kết hợp với nhau bất khả phân ly."
Bộ Giáo
luật cũng đã diễn giải một cách chi tiết hơn, liên quan đến Bí
tích Hôn Nhân Công Giáo, một khi đã được thành sự trọn vẹn bởi
hành vi quan hệ vợ chồng, qua việc giao hợp, thì không thể tháo
cởi do quyền lực con người, hoặc bất cứ điều gì ngoài sự chết.
(x. Sách Giáo luật, số 1141). Tuy nhiên, nếu như Bí tích Hôn
nhân chưa thành sự trọn vẹn thì điều ấy có thể cởi tháo, nếu có
lý do chính đáng (x. Sách Giáo Luật, số 1142). Thêm vào đó, việc
kết hôn hợp pháp giữa những người chưa chịu phép Rửa Tội, tuy
rằng hôn nhân ấy đã thành sự trọn vẹn, thì điều ấy vẫn có thể
cởi tháo nhằm ủng hộ đức tin theo đặc ân của thánh Phao-lô (x.
Sách Giáo Luật, số 1143). Đặc ân này được dựa trên đoạn thánh
thư gửi cho tín hữu Côrintô (1Cr 7, 12-16).
VI. NHỮNG LÝ DO CƠ
BẢN NHẰM PHẢN ĐỐI VIỆC LY DỊ
Bản văn
của Công Đồng Va-ti-ca-nô II liệt kê ba lý do chính nhằm phản
đối việc ly dị gồm có: 1) Lợi ích của lứa đôi, 2) của con cái và
3) của xã hội (x. Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới
Ngày Nay, Gaudium et Spes, số 48). Lý do thứ tư có tính
cách thần học, được rút ra từ vai trò của bí tích trong hôn nhân
Công Giáo.
1) Ly
dị bị phản đối vì lợi ích của đôi vợ chồng.
Việc ly
dị sẽ đánh mất đi cái ý nghĩa và mục đích của sự tự hiến của hai
người cho nhau và lòng trung tín trong tình yêu. Người chồng và
người vợ không thể tận hiến cho nhau một cách trọn vẹn, khi mà
trong đầu óc của họ vẫn lấp ló một ý nghĩ, là mối dây liên hệ
mật thiết ràng buộc trong tình nghĩa vợ chồng vẫn có thể bị tan
vỡ. Xét về phương diện tâm lý thì tự bản chất tình yêu của con
người đã qui hướng về bạn đường trăm năm. Mục đích của việc bảo
vệ và giúp đỡ chăm sóc lẫn nhau là một điều tối cần thiết, nhất
là trong khi gặp hoàn cảnh khó khăn, điều này chỉ có thể đảm bảo
trong bậc sống hôn nhân khi quan hệ vợ chồng là một quan hệ vĩnh
viễn. Quả vậy, tình yêu chân thật trong đời sống hôn nhân không
thể giới hạn trong một khoảng khắc nào đó. Nghĩa là hôm nay thì
tôi yêu em, nhưng ngày mai thì không còn nữa.
Việc
khẳng định rằng mối dây ràng buộc trong đời sống hôn nhân là bất
khả phân ly tạo nên một thế lực rất mạnh, nhằm để bảo vệ lợi ích
tình yêu vợ chồng và lòng trung thành. Nó mang lại một động lực
rất mạnh, hầu giúp cho đôi vợ chồng chấp nhận, chịu đựng những
khuyết điểm của nhau trong kiên nhẫn và bảo tồn sự hiệp nhất
cũng như hoà thuận với nhau. "Nếu định chế hôn nhân và gia đình
không có một nền tảng vững chắc, thì xã hội sẽ trở nên nghèo
nàn, và điều đó đã làm mất đi cái nét yêu kiều của bộ mặt con
người. Con người sẽ trở nên cô lập, tính toán so đo với nhau và
những mối liên hệ giữa con người với nhau chẳng qua là để vụ
lợi. Nó còn làm cho sự đoàn kết mỗi ngày một rạn nứt lớn hơn."
Qủa thật chí lý khi nói rằng: "Dấu ấn của tình yêu chân thật là
lòng trung thành."
2. Sự
phân ly trong hôn nhân gây tác hại cho trẻ em.
Một khi
mà mối dây liên hệ ràng buộc trong đời sống hôn nhân bị lỏng
lẻo, thì con cái bị tước đoạt đi tình cảm của bố hoặc mẹ nó hay
cả hai, và điều ấy hiển nhiên ảnh hưởng đến sự tự tin của chúng,
việc học hành và gây nên sự bất ổn trong tâm hồn. Sự mất mát đối
với trẻ em thì không thể bồi hoàn lại được.
"Có thể
nói không ai chịu nhiều đau khổ hơn các em khi ba mẹ chúng ly
dị. Các em là nạn nhân chính trong các cuộc ly dị. Thật vậy, các
em là của hy sinh cho sự yếu hèn của cha mẹ. Ly dị được cảm nhận
bởi các em như là một sự khước từ của cha mẹ đối với chúng ."
(xem "Love Is For Life" - Lá thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Ái
Nhĩ Lan (1985) .
Thông
thường thì các em sẽ gặp phải nhiều vấn nạn và khó khăn khi
chúng phải trải qua cuộc ly dị của ba mẹ. Một cha ghẻ hay dì ghẻ
không thể nào có thể thay thế cho một người cha hay người mẹ của
các em, mặc dầu có rất nhiều những cha mẹ ghẻ đã làm hết sức của
họ. Một em khi phải sống với cha hay mẹ ghẻ của mình thì khả
năng bị đối xử tàn tệ có thể diễn ra thường xuyên hơn khi em ấy
sống với cha mẹ ruột của mình.
Lợi ích
của con cái ít khi được sử dụng để coi đó như một sự ép buộc cha
mẹ không được phép ly dị, nhưng ngược lại, nó dùng để đấu tranh
cho sự bền vững của mái ấm gia đình.
3) Lợi
ích của xã hội đòi hỏi gia đình phải bền vững.
Chỉ có
phương cách ấy thì việc giáo dục lành mạnh cho các thế hệ trẻ có
thể được bảo đảm; và sự tương thân, tương trợ đoàn kết lẫn nhau
trong cùng một cộng đoàn mới được bảo vệ và nâng đỡ. Chính quyền
không những chỉ có trách nhiệm và bổn phận giải thể những cuộc
hôn nhân bị trục trặc, nhưng họ còn phải có trách nhiệm cung cấp
những dịch vụ tư vấn về phương diện gia đình hầu giúp đỡ việc
hoà giải và tái lập những hôn nhân đã bị đổ vỡ.
4) Lý
luận sau cùng là một lý luận mang tính chất thần học.
Điều
này được xây dựng trên nền tảng của Bí tích Hôn nhân Công Giáo,
bởi nó chỉ được áp dụng cho Ki-tô hữu mà thôi. Đức Giê-su Ki-tô
gợi lại cho những kẻ đi theo Ngài, việc nhân nhượng cho phép
người Do-thái rẫy vợ theo luật của Mô-sê; và trong thư gởi cho
giáo đoàn Côrintô (1Cr 7,12-16), thánh Phaolô cũng đã nhân
nhượng cho phép họ được ly dị chỉ trong trường hợp hôn nhân
không Công Giáo (nghĩa là giữa hai người chưa chịu phép Thanh
Tẩy). Ngược lại hôn nhân Công Giáo, một khi đã thành sự và trở
nên bí tích thì không thể giải được.
Chúng
ta thấy Bí tích Hôn nhân Công Giáo cũng được nhắc đến trong thư
của thánh Phao-lô gửi cho giáo đoàn Ephêsô (Ep 5, 21-33). Bản
văn này đã so sánh giữa hôn nhân Ki-tô giáo và sự hiệp nhất của
Đức Ki-tô với Giáo Hội, như đã nhắc tới ở phần trên "Hôn nhân
Ki-tô giáo là dấu chỉ hữu hiệu, là Bí tích của Giao Ước giữa Đức
Ki-tô và Hội Thánh" (x. GLCG, số 1617).
Thánh
Phao-lô còn nói thêm: "Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức
Ki-tô yêu thương Hội Thánh, và hiến mình vì Hội Thánh … Còn
những người làm vợ thì hãy tùng phục chồng mình, như Hội Thánh
tùng phục Chúa Ki-tô". Nhưng chúng ta cần ghi nhớ điều này: là
chúng ta đang sử dụng phương pháp loại suy, để so sánh, do vậy
điều ấy có thể trở thành quá khắc khe, khi chúng ta đi đến một
kết luận được suy ra từ một giao ước siêu việt có tính cách vĩnh
cửu, tuyệt đối giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh (Hội Thánh được ví
như nàng dâu, chỉ là một cách nói bóng bẩy, đầy tính chất ẩn dụ;
và những phần tử cá nhân của Hội Thánh thì đã luôn luôn không
trung thành với giao ước), rồi đặt nó ngang hàng với vĩnh viễn
và tuyệt đối của giao ước hôn nhân, điều này xét cho kỹ thì nó
rất khác biệt, một trật tự không chắc chắn. Theodore Mackin,
S.J. trong tác phẩm rất nổi tiếng: Divorce and Remarriage,
(Ly Dị và Tái Hôn) (1984), trang 530-537, đã đưa ra một nhận xét
như sau: Điểm then chốt trong việc so sánh (bằng phương pháp
loại suy của thánh Phao-lô trong Eph 5,21-33) giữa Chúa Ki-tô và
Hội Thánh, chính là tình yêu tự hiến và niềm tin tưởng, điều ấy
cùng lúc cũng có hiệu lực phát sinh và gây sống động cho sự liên
hệ mật thiết giữa vợ chồng với nhau, chứ không có ý ám chỉ đến
việc bất khả phân ly của hôn nhân. Để có một chứng cớ rõ rệt
nhằm đi đến kết luận về việc bất khả phân ly của hôn nhân qua Bí
tích Hôn Phối, chúng ta cần phải có thêm những lý chứng khác
nữa. Nói vắn gọn, chúng ta không thể chỉ nại đến mối liên hệ mật
thiết giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh để đưa ra một hệ luận cho
việc cấm không được ly dị.
Để kết
luận, vì hôn nhân tượng trưng cho một mối liên hệ hết sức mật
thiết giữa người nam và người nữ và được nối kết trong việc sinh
sản và giáo dục con cái, cho nên hôn nhân mang tính cách hợp
nhất và vĩnh viễn. Thêm vào đó, ngay từ giây phút ban đầu, vợ
chồng phải mang một trách nhiệm lớn lao và có bổn phận phải gìn
giữ, bảo vệ và làm cho đời sống hôn nhân càng ngày càng thắm
thiết, kết hợp chặt chẽ hơn. Họ có trọng trách không để cho hôn
nhân của mình bị tan vỡ và chết đi. Đây là điều cầm buộc riêng
cho những ai đã đi vào đời sống hôn nhân, vì đó là bí tích, là
dấu chỉ cho trần gian, và bằng cuộc sống tốt đẹp lứa đôi của họ,
họ chiếu giải khuôn mặt và tình yêu của Đức Ki-tô cũng như lòng
tín trung của Ngài đối với Hội Thánh.
Linh Mục Trần Mạnh Hùng
C.SsR., S.T.D
Trở về Trang Chính
|