Ngày nay ai nấy đều nhìn nhận rằng an
tử và trợ tử là những vấn đề ngày càng được quan tâm và
tranh luận. Có những người vận động rất mạnh mẽ hầu mong
pháp luật thừa nhận hành vi an tử chủ động tự nguyện và
trợ tử. Một số người tin rằng những hành xử ấy là hợp
luân lý cho dù là bất hợp pháp. Số khác cho rằng làm như
thế chẳng những là bất hợp pháp mà còn trái luân lý và
chắc chắn gây tác hại sâu sắc cho y học. Vì thế, vấn đề
an tử và trợ tử rất xứng đáng là đối tượng cho những suy
tư tốt đẹp nhất của chúng ta để từ đó rút ra nhiều lợi
ích. Dù suy tư để xem an tử, trợ tử có thể là lựa chọn
hợp pháp, hợp luân lý và riêng tư hay chăng, dù suy tư
về việc sử dụng những thứ thuốc giảm đau nhưng vô tình
và gián tiếp thúc đẩy bước tiến của cái chết, dù suy tư
về quyết định đình chỉ việc điều trị kéo dài sự sống...
tất cả đều là suy tư về những vấn đề sẽ đối mặt với
chúng ta lúc này hay lúc khác.
Vì thế bài viết sau đây cố gắng bàn
đến những vấn đề nền tảng trong các cuộc tranh luận hiện
nay về an tử và trợ tử đang diễn ra tại một số quốc gia
trên thế giới, cụ thể là tại Mỹ quốc, Anh Quốc, Âu Châu
và gần đây nhất là tại nước Ý Đại Lợi, Gia Nã Đại và
nước Úc. Mục đích của bài viết là nhằm khảo sát và đánh
giá những luận cứ chủ yếu đã được nêu ra trên diễn đàn
công khai nhằm ủng hộ an tử và trợ tử, cùng những luận
cứ phản biện của huấn quyền Giáo Hội và của thần học
luân lý Công Giáo. Nói cách khác, mục đích cụ thể của
bài viết là xem xét, đánh giá những luận cứ bênh vực và
chống đối được sử dụng trong những cuộc tranh luận. Vì
khuôn khổ của tờ báo, nên bài viết này không có ý định
bàn đến nhiều vấn nạn và tình huống khác đã được nêu ra
trong các cuộc tranh luận và cũng là những mối quan tâm
của thần học luân lý Công Giáo. Chẳng hạn, phải quyết
định thế nào về một bệnh nhân mê man, vật vờ và chỉ có
thể tiếp tục sống nếu được nối với một hệ thống duy trì
sự sống? Một bên là duy trì sự sống, một bên là chấm dứt
đau khổ, cán cân luân lý nghiêng về bên nào? Có nên duy
trì sự sống bằng bất cứ giá nào, bất kể hoàn cảnh ra
sao? Có nên điều trị cho những người tuy sẽ không chết
nhưng sẽ sống thiểu năng trầm trọng tương tự trẻ sơ sinh
tàn tật hay những nạn nhân chấn thương cột sống? Những
bệnh nhân như thế có được phép chết cách tự nhiên, không
dùng đến những thủ thuật can thiệp hay những thiết bị hỗ
trợ nhằm kéo dài sự sống? Luân lý có cho phép bệnh nhân
được từ chối sự điều trị mang tính cách kéo dài sự sống?
Có được phép làm giảm đau bằng những thuốc men có tác
động thúc đẩy cái chết đến sớm hơn? Và nhiều câu hỏi
khác nữa.
Đó là một số trong nhiều vấn nạn đang
được nêu ra trong tranh luận, dẫn đến những khảo sát
luân lý về việc chăm sóc bệnh nhân vô phương cứu chữa
chờ chết và thúc đẩy người viết bàn về an tử và trợ tử.
Tất nhiên, chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn khi ra sức
bàn về an tử và trợ tử một cách nghiêm túc, trong đó vấn
đề khó khăn không nhỏ là thuật ngữ "euthanasia" (an tử)
với những ý nghĩa mơ hồ, phức tạp của nó. Vì thế, bài
viết này không thể giải quyết chuyện thuật ngữ với những
vấn đề triết học liên hệ, nhưng, trong khi nhìn nhận
tính phức tạp của thuật ngữ, người viết sẽ cố gắng tập
trung chủ yếu vào các vấn đề luân lý và dồn nỗ lực vào
việc phân tích đánh giá những luận cứ chính yếu về an tử
và trợ tử trong những năm vừa qua.
Những luận cứ ủng hộ an tử và trợ tử
có thể tóm lược như sau:
1. LUẬN CỨ GIẾT VÌ LÒNG XÓT THƯƠNG
Ấy là do tình xót thương khi để cho
một số người bệnh nặng vô phương cứu chữa được trốn
thoát điều được cho là đau khổ và nhục nhã. Khi kết liễu
sự sống của những người này, ta chẳng hề gây hại nhưng
là trao tặng tình xót thương. Thành thử, theo nhóm ủng
hộ quan điểm này, an tử là hành vi từ bi, nhân ái, đáp
ứng được nguyện vọng trốn thoát đau khổ của nhiều người
bệnh nặng vô phương cứu chữa. Hành vi này còn được hiểu
là "giết vì xót thương" (mercy killing).
2. LUẬN CỨ QUYỀN TỰ QUYẾT CÁ NHÂN
Quan điểm xót thương đi đôi với quan
điểm mạnh mẽ về quyền tự quyết cá nhân. Tự quyết là
trung tâm điểm của lý chứng luân lý bênh vực cho hành vi
an tử. Cách diễn giải phổ biến hiện nay mang tính cách
chủ nghĩa tự do luân lý vốn hết mực đề cao sự tự do và
quyền của mỗi cá nhân. Khi những người bênh vực an tử
kêu gọi sự tự quyết, họ muốn nói lên rằng mỗi người có
quyền định đoạt thân xác và mạng sống của mình, kể cả
việc kết liễu nó, và do đó mỗi người phải được trao cho
sự tự do để thực hiện quyền tự quyết này.
Thế nên chúng ta nghe thấy họ nại đến cái gọi là "quyền
được chết" (right to die), còn mệnh danh là "quyền được
người khác giết "(right to be killed), ý nói rằng quyết
định kết liễu mạng sống là sự lựa chọn riêng tư, không
gây hại cho ai cả. Một trong những luận cứ chủ yếu là:
chúng ta sẽ sống tốt đẹp hơn, sẽ chết tốt đẹp hơn, bởi
lẽ chúng ta có quyền định đoạt. Họ dựa vào an tử để làm
cho ta được an tâm về bước đi dứt khoát sau cùng ấy trên
con đường đạt tới sự tự quyết viên mãn ngõ hầu ta có thể
chết theo ý lựa chọn của mình.
Theo quan điểm này, bác sĩ (hoặc các nhân viên y tế)
phải theo yêu cầu của bệnh nhân, không những phải đình
chỉ việc điều trị mà thậm chí còn phải giết chết bệnh
nhân, bởi lẽ quyền lựa chọn phải được tôn trọng. Chiếu
theo sự tôn trọng quyền tự quyết, con người phải có
quyền định đoạt sự sống và cái chết của mình, do đó họ
phải được đủ khả năng để kết liễu sự sống khi nào họ
muốn, hầu chặn đứng sự đau khổ không cần thiết. Bác sĩ,
với tư cách là người chăm lo cho lợi ích tốt đẹp nhất
của bệnh nhân, phải ra tay trợ giúp bằng cách trực tiếp
giết chết bệnh nhân hoặc giúp bệnh nhân tự tử. Vì thế,
theo nhóm chủ trương quan điểm này, an tử và trợ tử là
những hành vi nhân ái nhằm giải toả đau khổ cho con
người.
Mấy dòng vắn tắt trên đây là luận cứ
chủ yếu ủng hộ an tử và trợ tử và hợp pháp hoá các hành
vi này. Đây là một lập trường không dễ gì gạt bỏ được,
lại rất đáng là đối tượng để suy tư cặn kẽ ngay cả với
những người không tán thành lập trường này và cho rằng
nó phải rút lui.
Một nét đặc trưng của những người chủ
trương an tử và trợ tử là họ thường hay nói đến "quyền
được chết", đôi khi mệnh danh là "quyền được người khác
giết". Họ biện luận rằng: vì mọi người đều có quyền ấy
nên pháp luật không thể cấm chế để ngăn cản an tử chủ
động hay thụ động. Theo họ, những cấm chế này xâm phạm
trực tiếp đến quyền được chết của mỗi con người. Vì thế,
cái biện minh cho việc hợp pháp hoá hành vi an tử chính
là một nhân quyền căn bản mà mỗi con người đều có và quả
là đang bị pháp luật hiện hành xâm phạm.
3. LUẬN CỨ VỀ SỰ THÁNH THIÊNG CỦA SỰ SỐNG
Nối gót luận cứ về "quyền được chết"
thì nét chính trong luận cứ của tôn giáo chống lại hành
vi an tử và trợ tử như sau: sự sống con người là thánh
thiêng, do Thiên Chúa ban tặng, cần phải được nuôi dưỡng
và bảo vệ. Định đoạt về mạng sống không phải là quyền
của con người nhưng là quyền của Thiên Chúa. Con người
chỉ quản lý công trình sáng tạo, do đó chỉ có quyền phần
nào và tự do phần nào đối với mạng sống của mình mà
thôi. Sự sống con người là một "tài sản tín thác"
(trust) chứ không phải là "tài sản sở hữu" (possession)
để ta có quyền hoàn toàn định đoạt. Những nguyên tắc này
hình thành nên một luận cứ chống lại sự biện minh cho an
tử nói chung và quyền tự quyết nói riêng.
Có liên hệ sâu sát với nguyên tắc về tính thánh thiêng
của sự sống là những nguyên tắc thần học về quyền chủ tể
của Thiên Chúa và vai trò quản lý của con người. Niềm
tin về thượng quyền của Thiên Chúa và sự quản lý của con
người được khơi ra bởi những người ủng hộ quan điểm tôn
giáo về tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự
sống con người.
4. LUẬN CỨ VỀ LỢI ÍCH CHUNG
Ngoài ra, luận cứ tôn giáo chống lại
an tử còn dựa trên nguyên tắc về ích lợi chung. Ai nấy
đều công nhận rằng chúng ta sinh ra trong những mạng
lưới xã hội, vì thế mỗi người đều được đặt trong những
mối quan hệ xã hội. Ta được nuôi dưỡng, được hoàn thiện
trong những quan hệ này và thậm chí bị chúng làm cho bực
bội. Bản chất xã hội của con người cũng làm hạn chế sự
tự do của chúng ta. Thành thử, nhấn mạnh quá nhiều đến
quyền tự quyết tức là không nhận ra được rằng sự đổi
thay trong quan hệ xã hội có thể làm thay đổi sự phát
triển của chúng ta. Dưới ánh sáng này, chúng ta có thể
đồng ý khi truyền thống luân lý Công Giáo nhấn mạnh rằng
chiều kích cộng đồng của sự sống phải được hoạch định
sao cho nâng đỡ được phẩm giá của mỗi con người. Do đó,
bất kỳ biểu lộ nào của tự do cũng phải được đánh giá
bằng thước đo là nội dung xã hội của nó. Điều này cũng
áp dụng cho cách thức chúng ta từ giã cõi đời. Vì chưng,
quan hệ xã hội giữa ta với tha nhân định hình cho cách
tạ thế của ta; ngược lại, cách chết của ta lại định hình
cho quan hệ xã hội ấy. Vì thế, an tử phải được xem xét
trong ánh sáng của những giá trị cộng đồng và những hoạt
động dấn thân của cộng đồng. Hy vọng rằng nguyên tắc lợi
ích chung sẽ đem lại một cái khung luân lý cho việc đánh
giá nói trên.
Trên đây là một vài quan niệm và giá
trị luân lý trong đạo Công Giáo, những điều này đã tạo
thành quan điểm tôn giáo trong cuộc tranh luận về an tử,
trợ tử nói chung và phạm vi quyền tự quyết nói riêng.
Dựa trên niềm xác tín vào quyền chủ tể của Thiên Chúa,
và phạm vi giới hạn của quyền quản lý có trách nhiệm của
con người đối với sự sống, đồng thời nêu ra nguyên tắc
về tính thánh thiêng của sự sống và trình bày truyền
thống luân lý xã hội, hằng kêu gọi con người chăm lo lợi
ích chung, đạo Công Giáo đã nhìn nhận những giới hạn của
quyền tự quyết và do đó đã chống lại chủ trương ủng hộ
an tử. Vì thế, vấn đề này có tầm quan trọng, phức tạp,
gây tranh cãi, đòi hỏi có sự nhạy cảm đối với thực tại
cái chết và cách chết, đòi hỏi có sự hiểu biết rõ ràng
về đức tin Kitô giáo và những nội dung của đức tin liên
quan đến chiều kích quan trọng này của đời người. Cần
phải có kỹ năng khái quát hóa và phân tích để cẩn trọng
nêu ra những phân biệt cần thiết trên hành trình khảo
sát, và cần có sự nghiêm nhặt hợp lý để rút ra được
những kết luận thích đáng. Do đó trong bài viết này, tác
giả sẽ cố gắng nêu ra một số quan điểm về an tử và trợ
tử, hầu làm sáng tỏ được những chiều hướng của cuộc
tranh luận hiện nay về đề tài này. Hy vọng điều này sẽ
góp phần đem lại sự hiểu biết sâu sắc và phong phú cho
những ai muốn đang quan tâm đến cuộc tranh luận hiện
nay.
5. HIỆN TÌNH CUỘC TRANH LUẬN RA SAO?
Điều mà các cuộc tranh luận hiện nay
đang xảy ra, xoay quanh về vấn đề hợp pháp hóa an tử,
đáng chú ý nhất là trong các trường hợp, khi bệnh nhân
khổ sở vì bị đau đớn khốc liệt và vô phương cứu chữa.
Trong những hoàn cảnh như thế, họ tự nguyện và sẵn sàng
đón nhận cái chết." Trợ tử và an tử với hai hình thức:
chủ động và thụ động đã trở thành những điểm bùng nổ các
vấn đề về mọi phương diện, liên quan đến sự tận cùng của
mạng sống, và vô cùng lớn lao là sự thách thức mà nó đưa
ra đối với y khoa truyền thống, đối với các quy tắc văn
hóa và các giá trị khác. Tuy có nhiều vấn đề khác liên
quan đến hành vi tự tử, nhất là tự tử có sự trợ giúp của
người không phải là bác sĩ và tự tử trong những hoàn
cảnh không phải là bệnh tật vô phương cứu chữa, nhưng
vấn đề tự tử với sự trợ giúp của bác sĩ lại là trung tâm
của cuộc tranh luận.
Vì thế, vấn đề trợ tử và an tử có thể trở thành mối quan
tâm hàng đầu về các phương diện xã hội, chính trị và
luân lý ở Hoa Kỳ, Ý, Gia Nã Đại và gần đây nhất là tại
nước Úc và có lẽ những nơi khác nữa trong tương lai gần.
Vấn đề bỗng nhiên được đưa vào tiêu điểm chính trị, nhất
là ở Hoa Kỳ: trước hết là do những việc làm của Jack
Kevorkian, một thời là nhà nghiên cứu bệnh lý học ở
Michigan; trong những năm qua ông đã dùng "máy tự tử"
(suicide machine) do ông tự thiết kế để trợ giúp ít nhất
năm mươi người tự tử, mà những người này không phải là
bệnh nhân hấp hối; sau đó là do những nỗ lực ở rất nhiều
tiểu bang, bằng một bước ngoặt pháp lý ngoạn mục, đã làm
thay đổi hoặc hủy bỏ những khoản trong luật lệ đã được
luật pháp quy định lâu đời hay luật chung có nội dung
nghiêm cấm hành vi tự tử có trợ giúp; hai tòa phúc thẩm
liên bang vào năm 1996 đã phán quyết rằng: người bị bệnh
vô phương cứu chữa và một số người khác, có quyền được
trợ giúp để kết liễu mạng sống, và quyền này được hiến
pháp bảo vệ. Tuy cả hai phán quyết ấy đều bị Tòa Án Tối
Cao Pháp Viện Hoa Kỳ bác bỏ vào tháng 6-1997, nhưng ý
kiến của các quan tòa này sẽ được đưa ra trước ngành lập
pháp và công luận để tham khảo trong suốt nhiều năm sắp
đến.
Do đó, cuộc tranh luận hiện nay là về
an tử chủ động tự nguyện. An tử chủ động tự nguyện nghĩa
là sự can thiệp cố ý (tức trực tiếp thực hiện hành vi
kết liễu mạng sống của bệnh nhân); người thực hiện không
phải là chính bệnh nhân. Hành vi này có ý chấm dứt mạng
sống của bệnh nhân vô phương cứu chữa; bệnh nhân đưa ra
yêu cầu hoàn toàn tự nguyện và nhất mực để mạng sống của
mình được chấm dứt. Một cách thông thường để hình dung
an tử chủ động tự nguyện là bác sĩ cho bệnh nhân muốn
chết một mũi tiêm tử vong. Thuật ngữ "giết vì thương
xót" thường được dùng thay cho "an tử" để nhấn mạnh rằng
hành vi này thực hiện chỉ vì lòng nhân ái.
Tóm lại, cuộc tranh luận nhằm trả lời
câu hỏi là an tử chủ động có thể được luân lý chấp nhận
hay không, nếu có, thì phải được pháp lý cho phép để bác
sĩ có thể kết kiễu mạng sống của bệnh nhân vô phương cứu
chữa, còn tỉnh táo-minh mẫn và yêu cầu được chết, hoặc
cho phép bác sĩ có thể trợ giúp bệnh nhân vô phương cứu
chữa và còn tỉnh táo để ông ta tự kết liễu mạng sống của
mình. Nói cách khác, có nên hợp pháp việc bệnh nhân vô
phương cứu chữa, được phép yêu cầu bác sĩ cho một liều
thuốc tử vong, trong những hoàn cảnh có kiểm soát cẩn
thận?
Hy vọng trong bài viết kế tiếp, tôi
sẽ có dịp để cống hiến cùng qúy vị độc giả
Khoa học@Đời
Sống về những luận cứ chính yếu đã được cả hai phe sử
dụng để biện luận cho lập trường của mình về vấn đề an
tử và trợ tử.
Rev Dr Trần Mạnh Hùng,
C.Ss.R., S.T.D.
Consultant
L.J. Goody Bioethics Centre
39 Jugan Street, Glendalough, WA
6016.
Email:
phtran-ljgbc@iinet.net.au
_____________________________________________________
CHÚ THÍCH:
1. Bài viết này bàn đến một vấn đề khá mới mẻ đối với
độc giả người Việt, với một số thuật ngữ chưa có sẵn đơn
vị tương đương trong từ vựng Việt ngữ. Lẽ đó trong bài
viết này, tác giả xin tạm dùng từ "an tử" cho euthanasia
(chết êm ái) và "trợ tử" cho physician-assisted suicide
(tự tử với sự trợ giúp của bác sĩ).
2. Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo (xem các số 2258,
2270, 2280).
3. Thần học gia luân lý, cha Bernard Haring, C.Ss.R., từ
xác tín nền tảng của mình, biện luận rằng sự sống con
người là tặng vật thiêng liêng của Thiên Chúa, và khẳng
định: "Sự sống được giao phó cho sự tự do và đồng trách
nhiệm của con người. Con người chẳng phải là chủ tể độc
lập của mạng sống mình mà chỉ là người quản lý dưới
quyền Thiên Chúa." Xem Free and Faithful in Christ,
Vol. 3. (New York: Crossroad Publishing Co., 1981), tr.
5.
4. ĐGH Gioan Phaolô II, Evangelium Vitae: Về giá
trị và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người.
Thông điệp 25-03-1995. (Vatican City: Libreria Editrice
Vaticana, 1995).
5. Có 3 biến cố xảy ra ở Hoa Kỳ đã thật sự đẩy mạnh cuộc
tranh luận toàn quốc về trợ tử và an tử. Thứ nhất, cuộc
thập tự chinh của bác sĩ Jack Kevorkian (cung cấp phương
tiện trợ tử cho những người muốn kết liễu mạng sống) đã
tạo được đà tiến mạnh mẽ cũng như làm ló dạng khả năng
miễn hình phạt. Thứ hai, vào năm 1995 Oregon đã trở
thành tiểu bang đầu tiên hợp pháp hóa trợ tử. Thứ ba,
vào năm 1996 hai tòa phúc thẩm liên bang đã công bố một
quyền hợp hiến mới bảo vệ cho một vài hình thức trợ tử.
Xem Michael M. Uhlmann, chủ biên, Last Rights?
Assisted Suicide and Euthanasia Debated.
(Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center,
1998), tr. 1; M. Cathleen Kaveny, "Assisted Suicide,
Euthanasia, and the Law." Theological Studies 58
(1997): 126-148, ở tr. 125; John Paris, "Active
Euthanasia." Theological Studies 53 (1992): 119.
6. Vụ Compassion in Dying kiện Tiểu bang Washington của
Tòa Lưu Động Số 9 và vụ Quill kiện Vacco của Tòa Lưu
Động Số 2 đều xảy ra vào đầu mùa xuân năm 1996. Hai tòa
phúc thẩm liên bang này đưa ra những quyết định với
những nội dung quan trọng, không những đối với việc xử
trí y khoa cho người hấp hối mà còn cho người quá đau
đớn hay bị bệnh gây suy nhược. Cả hai tòa án đều cho là
bất hợp hiến những nghiêm cấm của tiểu bang đối với việc
trợ giúp bệnh nhân tự tử. Ngoài ra, tòa còn phán rằng
các công dân có những quyền lợi được hiến pháp bảo vệ
gọi là "quyền tự do về sở thích" trong việc chọn thời
điểm và cách thức từ giã cõi đời. Xem M. Cathleen
Kaveny, "Assisted Suicide, Euthanasia, and the Law."
Theological Studies 58 (1997): 126-127; Brian
Stoffell, "Voluntary Euthanasia, Suicide and
Physician-Assisted Suicide" trong A Companion to
Bioethics. (Great Britain: Blackwell Publisher Ltd.,
1998), tr. 276, Helga Kuhse và Peter Singer chủ biên;
xem thêm Magaret Pabst Battin, "Ethical Issues in the
Physician-Assisted Suicide" trong Michael M. Uhlmann,
chủ biên, Last Rights? Assisted Suicide and
Euthanasia Debated. (Washington, D.C.: Ethics and
Public Policy Center, 1998), tr. 114-115, ở tr. 114.
7. Ví dụ, một liều mạnh thuốc ngủ, một mũi tiêm
potassium chloride gây ra cái chết rất nhanh. Đôi khi
thuật ngữ "giết vì thương xót" được dùng để chỉ hành vi
này. Xem Andrew C. Varga, The Main Issues in
Bioethics, Revised Edition. (Ramsey, N.J: Paulist
Press, 1984), tr. 268.
8. Luân lý tính của an tử và việc hợp pháp hóa an tử là
hai vấn đề riêng biệt. Chẳng phải hễ xác định được luân
lý tính của an tử là tự động giải quyết xong vấn đề hợp
pháp hóa cho nó. Hầu hết chúng ta đều biết rằng chẳng
phải cứ hành vi nào bị luân lý phản đối thì pháp luật
phải nghiêm cấm, và chẳng phải cứ hành vi nào luân lý
không phản đối thì pháp luật phải cho phép. Không hề có,
và chúng ta biết rằng không thể bắt phải có sự tương
đương giản đơn giữa tội lỗi (sin) và tội hình sự
(crime): không nên coi tội hình sự nào cũng là tội lỗi,
cũng không nên xem tội lỗi nào cũng là tội hình sự. Vì
thế, nếu an tử dưới hình thức này hay hình thức khác là
tội lỗi thì không nhất thiết phải coi nó là tội hình sự.
Xem Robert N. Wennberg, Terminal Choices: Euthanasia,
Suicide, and the Right to Die. (Michigan: William B.
Eerdmans Publishing Co., 1989), tr. 11-12.