|
DẪN NHẬP:
Gần đây,
phương tiện truyền thông đại chúng và báo chí đã cho đăng tải và
phổ biến cách rộng rãi về những kết quả nghiên cứu của tế bào
gốc (Stem Cells), đặc biệt là các ứng dụng và hiệu quả của việc
sử dụng các tế bào gốc trong các phương pháp trị liệu. Có thể
nói đây là một bước tiến nhảy vọt trong nghành y-sinh học vào
đầu thế kỷ thứ 21. Nếu quả thực đúng như những dự đoán và tiên
liệu của các chuyên gia nghiên cứu, thì đây là một khám phá hết
sức mới mẻ và cực kỳ quan trọng đối với nền văn minh của con
người, cụ thể nhất là trong lãnh vực nghành y.
Tuy nhiên, vấn đề nêu trên còn là một sự kiện tương đối quá mới
mẻ so với đại chúng. Hầu hết giới bình dân, nếu có được nghe qua
thì cũng không thể nắm bắt và thông hiểu tường tận. Điều này có
nhiều nguyên nhân gây ra.
Trước
tiên, việc nghiên cứu tế bào gốc chỉ được bắt đầu từ năm 1998,
điều này bắt nguồn từ sự hiểu biết về chức năng của các tế bào
gốc hiện diện ở phôi bào (blastocyst – là phôi đã được hình
thành khoảng từ 5-6 ngày, sau khi trứng thụ tinh), trước khi
chúng biệt-phân, và do đó có tiềm năng để trở thành bất kỳ loại
tế bào nào trong cơ thể con người. Sự hiểu biết sâu sắc ấy đã
dẫn đưa các chuyên gia ra sức nghiên cứu để làm sao có thể tách
biệt các tế bào gốc này ra khỏi phôi bào nhằm cô lập chúng và để
nuôi dưỡng chúng trong các môi trường thuận lợi, để các tế bào
gốc ấy có thể gia tăng sinh sản thêm nhiều các tế bào giống như
vậy. Sau đó các chuyên gia nghiên cứu sẽ vận dụng y-thuật, tỷ dụ
như việc kích thích các tế bào, để các tế bào này tự nó sẽ phát
triển và biến thành các mô (tissues) riêng biệt, chẳng hạn như
các cơ trong bắp thịt, dây thần kinh, hoặc các tế bào tuỵ.
Những tế
bào chuyên biệt này, sau đó được đem cấy với mục đích nhằm chữa
trị hoặc thay thế các mô đã bị hỏng. Các chuyên gia nghiên cứu
đã dùng tế bào gốc của loài động vật để thử nghiệm, đặc biệt là
của loài chuột, và nay họ đang thí nghiệm trên con người.
Như đã
được đề cập ở trên, việc nghiên cứu trong cách thức sử dụng các
tế bào gốc cho các phương pháp trị liệu những căn bệnh nan y mà
từ xưa đến nay, hầu hết các y sĩ đều bó tay chịu trận, thì nay
đã có khả năng và triển vọng trở thành một hiện thực, tuy còn
nhiều thử thách. Tuy nhiên, điều ấy theo như ước đoán của các
nhà chuyên môn thì có rất nhiều tiềm năng và việc ấy được coi
như là khả thể.
Nguyên nhân khó khăn thứ hai, hệ tại ở chỗ, đó là việc sử dụng
các thuật ngữ chuyên môn để mô tả hoặc giải thích về những đề
tài này còn xa lạ đối với đại đa số quần chúng. Nhất là khi phải
chuyển dịch chúng sang ngôn ngữ Việt, vì hầu hết các tài liệu
hiện nay đề cập đến vấn đề tế bào gốc, đều được viết bằng ngoại
ngữ. Đây cũng là một công việc nhiều cam go và không mấy đơn
giản. Tôi xin mạn phép được đơn cử một tỷ dụ để làm sáng tỏ vấn
đề. Hiện nay, vấn đề "Human Cloning", mà tôi tạm gọi là “Nhân
bản tạo sinh vô tính” đang được bàn thảo và tranh luận thật sôi
nổi tại nhiều quốc gia trên thế giới, giữa các chuyên gia gồm đủ
moị thành phần, đủ các khoa ngành, thuộc phạm vi xã hội cũng như
tôn giáo.
Điều đáng chú ý nhất là cách đây khoảng 5 năm, một công ty tư
nhân, gọi là “Advanced Cell Technology – Kỹ thuật tiên tiến về
tế bào” (ACT), có trụ sở tại tiểu bang Massachusetts - Hoa Kỳ,
ngày 25 tháng 11 năm 2001, đã tuyên bố trên màn
ảnh
truyền hình, là họ mới thực hiện thành công "Cloning" một phôi
người đầu tiên (the first human embryo). Điều này đã gây một
chấn động trên thế giới, gồm cả đời lẫn đạo. Ngay lập tức, Tòa
Thánh Vaticanô, và Đức cố Thánh Cha Gioan Phalô II đã lên tiếng
chỉ trích và cảnh báo việc làm thiếu tính cách đạo đức của công
ty nói trên. Tất cả các văn bản và sứ điệp trên được ghi lại đầy
đủ trong bản tin của Zenith News (phát hành hôm 26 tháng 11,
2001 - số ZE01112602 và ZE01112606). Và cách đây khoảng gần 3 năm, vào ngày 12 tháng 2 năm 2004, chuyên
gia nghiên cứu Woo Suk Hwang và các bạn đồng nghiệp, thuộc Đại
học Quốc Gia Seoul tại Nam Triều Tiên đã tiêm chất liệu di
truyền (genetic material) lấy từ các tế bào trưởng thành (của
người) vào các noãn mà cấu tử di truyền cơ bản của nó đã được
lấy ra khỏi. Như thế các phôi được tạo thành do kỹ thuật này,
đều có chung một cấu tử di truyền cơ bản giống y hệt như người
đã hiến tặng tế bào, và như thế là họ thành công, nhân bản phôi
vô tính. Sau đó các nhà nghiên cứu sẽ thâu hoạch tế bào gốc từ
các phôi này.
Thế nhưng
cũng chính các chuyên gia nghiên cứu ấy lại lên tiếng kêu gọi
cộng đồng thế giới nghiêm cấm việc nhân bản người bằng phương
pháp tạo sinh vô tính (human cloning). Họ cho rằng kỹ thuật mà
họ đã sử dụng để nhân bản phôi người vô tính, thì không bao giờ
nên sử dụng để tạo ra các em bé. Hiện nay trên thế giới chưa có
một chính phủ nào cho phép hoặc hợp pháp hóa việc nhân bản người
vô tính (reproductive cloning), dù có một số quốc gia cho phép
việc nhân bản phôi vô tính cho phương pháp trị liệu (therapeutic
cloning) và để các chuyên gia có thể nghiên cứu thêm về các căn
bệnh nan y. Điều này đã được một số Quốc Hội thông qua và đã trở
thành luật, đồng ý cho các khoa học gia và các nhà nghiên cứu,
có thể tạo nên các phôi bằng phương pháp tạo sinh vô tính, hầu
thâu hoạch tế bào gốc cho việc trị liệu và cho các công trình
nghiên cứu.
Điển hình là Anh Quốc và mới đây nhất là nước Úc, vì vào ngày 06
tháng 12 năm 2006, Quốc Hội Liên Bang Úc đã bỏ phiếu, với 82
phiếu thuận và 62 phiếu phản đối, cho phép phế bỏ luật cấm trước
đây đối với các khoa học gia vào năm 2002 (xem Herald Sun,
Thứ Năm, 07.12.2006, trang 2), là họ không được phép tạo nên
các phôi bằng phương pháp tạo sinh vô tính, hầu sử dụng cho công
việc nghiên cứu,
nhưng chỉ được
phép sử dụng các phôi thặng dư đã được tạo
thành bởi phương pháp
thụ
tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fetilization - IVF). Điều này đã
gây nên chia rẽ và bất đồng ngay cả trong giới lãnh đạo quốc gia
dù cùng chung một đảng phái.
Riêng
đối với Giáo Hội Công Giáo tại Úc thì đây được xem như là một sự
thua thiệt giữa cán cân nguyên tắc luân lý và sự phát triển của
y khoa. Dường như ngày nay người ta chỉ chú trọng đến các phát
minh mới và sự phát triển nhảy vọt của khoa học, trong đó lãnh
vực y khoa là điều đáng kể, đôi khi để đạt tới mục tiêu của họ,
các khoa học gia đã xem nhẹ các chuẩn mực luân lý khách quan và
sẵn sàng sử dụng các phương tiện bất chính để có thể đạt được
kết qủa như lòng họ mong muốn. Một ví dụ cụ thể là cách đây
không lâu, Dr. Woo Suk Hwang, thuộc Đại học Quốc Gia Seoul tại
Nam Triều đã tuyên bố với các phóng viên báo chí và đài truyền
hình là ông ta đã thành công tạo được mười một phôi người. Điều
này đã làm cho cả thế giới chấn động, thế là báo chí, nhất là
các Tạp Chí Y Khoa không ngớt lời ca tụng Dr Woo Suk Hwang.
Nhưng sau một thời gian điều tra thì người ta mới khám phá ra,
đó chỉ là tin “thổi phồng – đồn nhảm” cố tình gây sự chú ý của
thế giới.
Song
song với những cuộc bàn luận sôi nổi đó đây, các hội nghị chuyên
đề cũng đã được tổ chức và nhóm họp thường xuyên trong thời gian
vừa qua, nhất là tại các quốc gia vùng Âu Châu, và các nước
thuộc Bắc Mỹ.
Như đã
được đề cập trong phần dẫn nhập, là hiện nay đang có những cuộc
bàn thảo và tranh luận rất sôi nổi giữa các giới chuyên gia, đặc
biệt là các khoa học gia nghành y-sinh học và các nhà luân lý
sinh-học. Việc tổng thống Mỹ, George W. Bush bằng lòng thỏa
thuận cho phép sử dụng ngân quỹ liên bang để tài trợ cho việc
nghiên cứu khoảng 64 kiểu tế bào gốc khác nhau đã được thâu
hoạch từ các phôi (embryos), do phương pháp thụ tinh trong ống
nghiệm. Mục đích nguyên thủy của các chuyên gia khi tạo nên các
phôi này, là nhằm để cấy cho các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc vô
sinh muốn có con, nhưng vì con số phôi sản xuất quá nhiều nên đã
trở thành thặng dư, và đã được đông lạnh trong một thời gian lâu
dài, do đó, đã được các chuyên gia nơi phòng thí nghiệm quyết
định sử dụng để lấy các tế bào gốc, thuộc nhiều loại khác nhau.
Việc
làm của tổng thống Bush đã gây nên một sự bất bình trầm trọng
giữa Giáo Hội Công Giáo (GHCG) Hoa Kỳ và vị nguyên thủ quốc gia,
được các cử tri Công Giáo phần đông ủng hộ trước đi đắc cử. Đại
diện cho GHCG Hoa Kỳ, Đức giám mục Joseph Fiorenza, thuộc tổng
địa phận Galveston-Houston, cựu chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa
Kỳ đã phát biểu như sau:
"Lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước Hoa Kỳ,
chính phủ liên bang đồng ý ủng hộ việc nghiên cứu, mà hệ quả của
nó là việc hủy diệt những con người vô phương kháng cự, nhằm
mục đích đem lại lợi ích cho kẻ khác... Quyết
định này cho phép các công ty, các dịch vụ nghiên cứu tư nhân
tại quốc gia của chúng ta, gia tăng phát triển sự bất kính đối
với sự sống con người. Cho nên, chúng tôi cầu nguyện và hy vọng
rằng tổng thống Bush sẽ trở về lại với nguyên tắc chính trực,
nhằm chống lại những cách thức hành-xử coi sự sống con người
không hơn gì những vật thể, có thể được tận dụng cho các mục
đích nghiên cứu và sau đó thì bị hủy diệt."
Tuy
nhiên, trong thời gian vừa qua, Tổng Thống George Bush đã phủ
quyết sự chấp thuận của Quốc Hội Mỹ cho phép các chuyên gia được
quyền nới rộng việc nghiên cứu của họ bằng phương pháp sử dụng
các tế bào gốc lấy từ phôi (embryonic stem cells). Việc làm này
đã được hoan nghênh nhiệt liệt của nhóm phò sự sống và của Hội
Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Ông Richard M. Doerfinger, đại diện cho
giám đốc văn phòng bảo vệ sự sống của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ
đã phát biểu tại tòa Bạch Ốc hôm thứ tư, ngày 19 tháng 07 năm
2006, như sau:
“Chúng tôi tán thành việc Tổng Thống Bush đã phủ quyết pháp luật
do Quốc Hội đã chấp thuận cho phép các khoa học gia dùng tế bào
gốc lấy từ phôi để nghiên cứu. Điều này sẽ khuyến khích việc huỷ
diệt thêm các phôi người để thâu hoạch tế bào gốc.”
Thế
nên, chúng ta cần phần biệt tỏ tường để tránh sự ngộ nhận là,
hiện nay, khi nói đến về việc nghiên cứu về tế bào gốc, chúng ta
cần am hiểu thấu đáo:
1) Tế bào gốc là gì?
2) Tế bào gốc lấy từ đâu ra?
3) Những lợi ích khả thể trong công trình nghiên cứu liên quan
đến tế bào gốc.
4) Lập trường và quan điểm của Giáo Hội Công Giáo trước sự việc
nghiên cứu này.
Cho nên trong bài viết này, tôi cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề
nêu trên, hầu giúp cho chúng ta hiểu biết một cách tường tận
những vấn đề éo le và hóc búa, liên quan đến những gì mà hiện
nay đang được bàn cãi, tranh luận cực kỳ sôi nổi, đặc biệt trong
lãnh vực luân lý. Tỷ dụ như có được phép, xét về mặt luân lý, sử
dụng phôi để thu hoạch tế bào và làm chất liệu để nghiên cứu hay
không?
Vậy trước tiên, tôi xin phép được đề cập đến.
I.
TẾ BÀO GỐC LÀ GÌ?
Tế bào
gốc là tế bào có khả năng phân chia vô hạn định, và có khả năng
sinh sản và tạo nên các tế bào khác có những chức năng chuyên
biệt, một khi nó được cấy vào một môi trường thích hợp. Để cho
chúng ta có một khái niệm cụ thể về các chức năng của tế bào
gốc, điều tốt nhất là chúng ta thử khảo-sát chúng trong các tiến
trình phát triển nơi con người được bắt đầu khi tinh trùng làm
cho trứng (noãn) thụ tinh, và sau đó tạo nên một tế bào duy
nhất, gọi là hợp-tử, tế bào này có khả năng tự tại phát triển
thành một cơ thể (organism). Vì thế, trứng thụ tinh (hợp-tử) còn
được coi như là tế bào toàn-năng. Sau khi trứng đã được thụ
tinh, chỉ vài tiếng đồng hồ sau (khoảng 4-6 tiếng), hợp tử sẽ tự
động phân chia thành nhiều tế bào toàn-năng (totipotent cells),
đồng chất thể về mặt di truyền. Vì lý do đó, mà giả thể ta lấy
một tế bào toàn-năng (đã được phân chia sau khi trứng đã thụ
tinh khoảng 3 ngày) đem cấy vào vách tử cung của người phụ nữ
(nếu thành công) thì tế bào này có khả năng phát triển thành bào
thai. Từ đó, ta có thể giải thích hiện tượng sinh đôi, là một
trứng sau khi đã thụ tinh, tự phân chia làm 2 tế bào toàn-năng
riêng biệt và rồi sau đó sẽ tự phát triển thành 2 cá thể riêng
rẽ (trong thời hạn 14 ngày, kể từ khi thụ tinh). Do đó, xét về
mặt di- truyền thì trẻ em sinh đôi (cùng một trứng) có cùng
chung một gien y hệt như nhau.
Khoảng 4 ngày, sau khi trứng đã thụ tinh, hợp-tử sẽ trải qua
nhiều chu kỳ phân chia tế bào, gọi là hiện tượng nhân đôi: từ 1
tế bào duy nhất thành 2, điều này diễn ra khoảng 30 tiếng đồng
hồ sau khi trứng đã thụ tinh. Sau 40-50 giờ, chúng sẽ tự phân
chia thành 4 tế bào, và sau 60 tiếng đồng hồ thành 8 tế bào. Khi
trứng đã thụ tinh tiến gần đến lối dẫn vào tử cung, nó phát
triển thành 16 tế bào, và người ta gọi nó là phôi dâu (Morula).
Sự kiện này diễn ra vào ngày thứ 4 kể từ khi trứng đã thụ tinh.
Trong giai đoạn này, chưa có sự tiền định của bất cứ một tế bào
nào sẽ trở thành một thực thể (entity) riêng biệt hay là bộ phận
của thực thể. Khoảng chừng ngày thứ 6 hoặc ngày thứ 7, hợp tử
(tên gọi của trứng sau khi đã thụ tinh) sẽ trở thành phôi bào
(Blastocyst) và nó di chuyển đến vách tử cung để bắt đầu tiến
trình làm tổ, nếu thành công, việc thụ thai sẽ diễn ra và phôi
bào sẽ tiếp tục phát triển. Ở vào thời điểm này, ta có thể phân
biệt là phôi bào gồm có hai loại tế bào:
1) Loại tế bào thứ nhất trở thành màng bao
bọc phôi bào (tiếng Anh gọi là Trophectodern);
2) Loại thứ hai là các tế bào nội tại (Inner Cell Mass = ICM)
Các tế bào nội tại này sẽ thiết lập hầu hết các mô (tissues) của
thân thể. Mặc dầu các tế bào nội tại có thể tạo thành, dường
như, tất cả các loại tế bào nơi thân thể con người, nhưng chúng
lại không có khả năng để tạo thành một cơ thể (organism). Các tế
bào nội tại được coi như là các tế bào đa-năng, vì chúng có khả
năng trợ giúp nhiều loại tế bào khác nhau. Các tế bào nội tại có
tính đa-năng, tuy nhiên, chúng không phải là các tế bào
toàn-năng, vì lý do đó chúng không thể tạo nên một cơ thể, như
các tế bào toàn-năng, tỷ dụ như tế bào hợp-tử.
Những tế bào gốc đa-năng (Pluripotent stem cells) tiếp tục trải
qua nhiều sự phân-hóa để trở thành những tế bào gốc với chiều
hướng nhằm yểm trợ các tế bào mà chúng có những chức-năng hoặc
phận-vụ chuyên-biệt. Tỷ dụ như tế bào gốc của máu (Blood stem
cells), thì trợ giúp các hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Các
tế bào gốc của máu hiện diện trong tủy (của xương - bone marrow)
của trẻ em cũng như người lớn, thực vậy, chúng có thể tìm thấy
trong máu hiện đang lưu thông nơi các huyết quản. Tế bào gốc của
máu nắm giữ một vai trò rất quan trọng, trong công việc cung cấp
cho đủ số tế bào máu trong thân thể con người, suốt cả cuộc đời.
Các tế bào máu thì gồm có: hồng huyết cầu và bạch huyết cầu.
Chúng ta không thể sống sót nếu không có các tế bào gốc của máu.
II. TẾ BÀO GỐC LẤY TỪ ĐÂU RA?
Hiện nay ít nhất có 2 phương pháp để có thể lấy được các tế bào
gốc đa-năng.
• Cách thứ nhất được thực hiện do Dr. James Thomson, thuộc đại
học Wisconsin – Hoa Kỳ.
Các tế bào gốc đa năng được tách rời trực tiếp từ các tế bào nội
tại của phôi trong giai đoạn phôi bào (blastocyst). Sau đó đem
cấy chúng vào một môi trường thích
hợp, với những điều kiện
thiết yếu cho việc phát triển, dần dần chúng sẽ sản xuất một
loại tế bào gốc đa-năng.
• Cách thứ hai được thực hiện do Dr. Gearhart.
Ông ta
tách biệt các tế bào gốc đa-năng từ các mô của bào thai đã được
hủy, vì không muốn tiếp tục cưu mang hoặc vì những lý do khác.
Điều này được thực hiện với sự đồng ý của chủ nhân bào thai và
vị bác sĩ có trách nhiệm. Ông ta chọn những tế bào thuộc các
vùng của bào thai mà biết chắc chắn rằng sau này, chúng sẽ phát
triển thành tinh hoàn hoặc buồng trứng.
Mặc dầu có sự khác biệt về hai nguồn cung cấp chất liệu để tạo
nên các tế bào gốc đa-năng. Tuy nhiên, kết quả của việc hình
thành các tế bào gốc này rất giống nhau.
Một loài tế bào gốc nữa, có tên là "Multipotent Stem Cells", có
thể tìm thấy ở một vài loại mô từ người lớn (Adult tissues). Tuy
nhiên gần đây, có nhiều dấu chỉ khả quan cho thấy, các chuyên
gia nghiên cứu có thể tìm thấy thêm nhiều loại tế bào gốc hiện
diện trong các mô trưởng thành. Tỷ dụ trước đây, các chuyên gia
nghiên cứu nghĩ rằng: các tế bào gốc dường như không có ở trong
hệ thống thần kinh não. Nhưng những năm gần đây, họ đã khám phá
ra và họ đã làm các cuộc thí nghiệm và cho thấy là họ có thể
tách rời các tế bào gốc thuộc thần kinh (Neuronal Stem Cells) ra
khỏi hệ thống thần kinh não của các chú chuột. Điều này đã được
thực hiện do các khoa học gia thuộc viện Nghiên Cứu Y Học "The
Walter and Eliza Hall" ở vùng Parkville, thuộc tiểu bang
Victoria, thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi. Họ đã tách biệt được
tế bào gốc từ một khu vực của óc gọi là khu vực
"Periventricular". Từ các tế bào gốc này, không những có thể tạo
thành tế bào thần kinh, mà còn cả tế bào mô và cơ mới. Cho nên,
với những thành công như vậy sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu về tế
bào gốc đi xa thêm một bước nữa và hy vọng nó sẽ góp phần sáng
chế ra những thứ thuốc giúp cho những người bị chấn thương não
sẽ tự phục hồi.
Ngược lại, nơi con người, các tế bào gốc loại này, nếu muốn thâu
hoạch, thì hiện nay chỉ có thể lấy từ các mô của bào thai (fetal
tissues). Hẳn nhiên, việc thử nghiệm này đối với con người thì
còn rất ư là hạn chế. Tuy nhiên, điều ấy cho thấy là có những
dấu chỉ khả thi rằng: không bao lâu nữa thì việc này có thể được
áp dụng đối với con người.
III. NHỮNG LỢI ÍCH KHẢ THỂ TRONG CÔNG
TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TẾ BÀO GỐC.
Qua các
kết quả của các công trình nghiên cứu về việc sử dụng tế bào gốc
trưởng thành nơi con người cho thấy rằng các "Multipotent Stem
Cells" (tên của một loại tế bào gốc đa-năng), có tiềm năng rất
lớn trong công việc nghiên cứu lẫn việc phát triển phương pháp
trị-liệu tế bào (cell therapies). Một bằng chứng cụ thể, là ta
có thể dùng các tế bào gốc trưởng thành trong việc cấy, ghép.
Nếu chúng ta có thể tách biệt những tế bào gốc từ bệnh nhân, rồi
tạo điều kiện thuận tiện để chúng từ từ phân chia và sinh sản ra
các tế bào có những chức năng chuyên-biệt. Sau đó, chúng ta đem
cấy chúng trở lại cho bệnh nhân. Làm như vậy thì sẽ tránh được
tình trạng các tế bào này bị từ chối hay bị phản kháng bởi cơ
thể của bệnh nhân.
Cách thức sử dụng các tế bào gốc trưởng thành cho các phương
pháp trị-liệu, nhằm thay thế các tế bào đã bị thoái hóa hay
không còn khả năng thực hiện các chức năng riêng biệt của chúng
nữa, sẽ giảm thiểu hoặc tránh né được, ngay cả việc sử dụng đến
các tế bào gốc lấy được từ các phôi hoặc các mô từ bào thai
người. Điều này đã và đang gây nhiều sự phản đối, vì những yếu
tố về mặt luân lý.
1. Những lợi ích khả thể.
Những lợi ích khả thể mà các chuyên gia nghiên cứu hiện nay đưa
ra thì có lẽ nhiều vô số kể. Trong bài viết về "The Benefits of
Human Cloning." (http://www.humancloning.org/benefits.htm.), thì
tác giả đưa ra một số danh sách các lợi ích thực tiễn về "Human
Cloning". Nói chung hầu như là bá bệnh đều có thể trị được, nếu
bằng lòng áp dụng và cho phép "Cloning". Vì khuôn khổ của bài
viết, nên tôi mạn phép chỉ đề cập đến những gì có tính cách
hiện-thực mà cộng-đồng thế giới đang mong mỏi nơi các chuyên gia
nghiên cứu, dựa trên những khám phá gần đây nhất.
2. Việc sử dụng các tế bào gốc cho phương pháp trị-liệu.
Phần đông các bệnh tật nơi con người là kết quả do việc các tế
bào trong con người của chúng ta ngưng hoạt động hay không làm
việc theo đúng như chức năng của chúng, hoặc do bởi các mô của
thân thể bị hủy hoại. Hiện nay, để thay thế cho các cơ phận hoặc
ghép các bộ phận, cũng như mô không còn hoạt động bình thường,
các chuyên viên y khoa đã cần phải sử dụng đến các bộ phận, tỷ
dụ như tim, thận, tủy, mắt..v.v.., được hiến tặng. Tuy nhiên,
không may cho chúng ta là số bệnh nhân càng ngày càng gia tăng
và vượt hẳn con số về các bộ phận mà chúng ta có được (do sự
hiến tặng của các ân nhân) để thay thế hay cấy, ghép. Tế bào gốc
có thể cung ứng
đã bị
hỏng, nhằm chữa trị các chứng bệnh nan y, tỷ dụ như: bệnh tim,
bệnh ung thư, bệnh Parkinson, bệnh tiểu đường, bệnh mất trí nhớ,
bệnh chấn thương cột sống, cơn đột trụy (stroke), bệnh đau nhức
thấp khớp kinh niên, bị phỏng nặng..v.v.. Có thể nói hầu như các
căn bệnh thông thường hiện nay, đều có nhiều cơ may điều trị bởi
việc sử dụng các tế bào gốc mà gần đây các chuyên gia nghiên cứu
mới khám phá ra.
Tuy nhiên, trước những dấu hiệu khả quan và những thành công rực
rỡ đã và đang gặt hái được nhiều thành quả vượt bực đáng kể
trong công việc điều trị các căn bệnh đương thời. Y học ngay nay
vẫn còn gặp phải một số vấn đề khó khăn trong công việc áp dụng
và đưa các khám phá mới mẻ ấy vào trong công việc thực hành cụ
thể nơi các sở y tế. Những khó khăn này tuy đáng kể, nhưng không
phải là chúng ta không có khả năng vượt qua.
Nói tóm lại, chúng ta cần chờ đợi với thời gian để xem coi các
phát minh mới ấy sẽ mang lại những lợi ích cụ thể gì cho nhân
loại.
IV. QUAN ĐIỂM VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA GÍAO
HỘI CÔNG GÍAO.
Đứng trước các phát minh mới mẻ trong ngành y-sinh học, được
thực hiện đầu thế kỷ thứ 21 này, cụ thể là việc sử dụng các tế
bào gốc trong các phương pháp trị liệu. Giáo Hội Công Giáo luôn
luôn tán thưởng và khuyến khích các nổ lực và sự thiện chí của
các chuyên gia nghiên cứu. Cách đây vài năm tại Rôma, Thánh đô
của Giáo Hội đã tổ chức một Hội nghị chuyên đề, vào ngày 13-14,
tháng 11, 2001 tại Đại học giáo hoàng Ateneo Pontificio Regina
Apostolorum - Rôma. Hội nghị này đã được bảo trợ của 2 Đại học
và 1 Học viện danh tiếng trên thế giới: Đại học Francisco de
Vitoria (Madrid - Tây Ban Nha), Pontifical Athenaeum Regina
Apostolorum (Rôma) và Guilé Foundation (European Institute for
Social Studies - Thụy Sĩ), nhằm thảo luận về những vấn đề nan
giải và những thiện ích cho con người trong công trình nghiên
cứu tế bào gốc.
Tiến sĩ Esmail D. Zanjani, một trong những chuyên gia đang dẫn
đầu về việc nghiên cứu tế bào gốc, hiện là giảng sư tại Đại học
Nevada, Hoa Kỳ, đã đưa ra những nhận định phù hợp với quan điểm
và chiều hướng lập luận hiện thời của Giáo hội Công Giáo. Ông ta
phát biểu rằng: "Hiện nay, có rất nhiều dữ kiện cho thấy, chúng
ta có thể thành công trong viêc sử dụng các tế bào gốc của người
lớn (Adult Stem Cells) để điều trị các chứng bệnh về tim, và các
mô bị hư hại. Sau nhiều lần thử-nghiệm thì kết quả cho thấy công
việc này đã rất có hiệu nghiệm." (Phỏng theo bài thuyết trình
của Dr. Zanjani tại hội nghị - Thứ tư 14 tháng 11, 2001). Tiến
sĩ Zanjani còn cho biết
thêm,
theo như kết quả của những cuộc thử-nghiệm vừa qua thì nó chứng
minh cho ta thấy, việc dùng các tế bào gốc nơi người lớn, đạt
được những kết quả khả quan như đã tiên đoán. Cho nên, "Tôi (Dr.
Zanjani) thiết nghĩ chúng ta không nhất thiết phải sử dụng đến
các tế bào gốc lấy được từ phôi (Embryonic Stem Cells), vì điều
đó gặp phải nhiều sự chống đối xét về mặt luân lý, mà đồng thời
kết quả thì cũng chưa chắc gì đã trỗi vượt hơn, việc dùng các tế
bào gốc từ người lớn trong các phương pháp trị liệu."
Với một lối suy tư tương tự như thế, bà Monica Lopez Barahona,
giảng sư tại Đại học Francisco de Victoria (Tây Ban Nha), khi
được phóng viên nhà báo phỏng vấn tại Hội nghị đã phát biểu như
sau: "Không thể chấp nhận được sự việc tạo một phôi người, rồi
sau đó chỉ lấy các tế bào gốc rồi thì hủy bỏ nó đi." Bà ta nhấn
mạnh, theo quan điểm của các khoa học gia, thì hiển nhiên đã có
sự hiện diện của một “con người” ngay từ lúc khi trứng được thụ
tinh. Vì lý do đó, không thể chấp nhận được xét về mặt đạo đức,
khi sử dụng sự sống con người này (tức là các phôi bị sử dụng để
lấy tế bào gốc) để cứu một người khác (để cấy ghép hoặc thay thế
các bộ phận bị hư hỏng). Quan điểm này, chúng ta có thể tìm thấy
trong giáo huấn của Giáo Hội:
"Con người phải được đối xử như một nhân vị kể từ khi thụ tinh,
và vì vậy cũng từ lúc đó nhân quyền của nó phải được thừa nhận,
trước hết là quyền sống bất khả xâm phạm của một con người vô
tội."
KẾT LUẬN:
Nói tóm lại, chủ trương và lập trường của GHCG hiện nay là không
cho phép việc sử dụng các phôi người như thể là một vật-liệu để
nghiên cứu, điển hình là việc tạo các phôi bằng phương pháp thụ
tinh trong ống nghiệm. Sau đó, tách các tế bào gốc ra từ các
phôi này rồi hủy chúng đi, làm như vậy theo quan điểm của Giáo
Hội là không thể chấp nhận được, xét về mặt luân lý. Vì Giáo hội
xác tín rằng: ngay từ giây phút thụ tinh, thì đã có xuất hiện sự
sống con người (xem Huấn Thị Donum vitae và Thông điệp
Evangelicum vitae). Điều này không ngừng được ĐTC Gioan Phaolô
II lập đi lập lại, trích từ Huấn thị “Qùa Tặng Sự Sống - Donum
vitae” và “Tuyên Ngôn về Việc Chủ Ý Phá Thai - Declaration on
Procured Abortion”:
"Ngay từ khi trứng được thụ tinh, một sự sống mới
được bắt đầu, mà sự sống ấy không phải là của cha cũng chẳng
phải của mẹ, nhưng đúng hơn đó là sự sống của một con người mới
và nó có thể tự mình phát triển."
Lẽ đó,
ĐTC kêu gọi, các cộng đồng và hiệp hội các khoa học gia trên thế
giới "hãy tôn trọng tuyệt đối sự sống con người từ giây phút mới
bắt đầu cho đến hơi thở cuối cùng."
Tiến Sĩ Trần Mạnh Hùng
L.J. Goody Bioethics Centre in WA
Email:
phtran-ljgbc@iinet.net.au
Trở về Trang Chính
|