|
LỜI
NGÕ:
Bài
viết này nhằm để trả lời thắc mắc cho chị Nguyễn Thị Hương, đọc
gỉa của tờ báo điện tử khoa học@ đời
sống – website
www.khoahoc.net - hiện đang cư
ngụ và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong điện thư gởi
cho tôi gần đây.
Nội
dung của bức thư được ghi như sau:
“Tôi
tên Hương, 37 tuổi, hiện sống và làm việc tại thành phố HCM.
Tình cờ đọc bài viết của anh trên khoa học đời sống về tế bào
gốc và quan điểm của Giáo Hội, tôi cảm thấy rất thú vị, vì có
thêm thông tin bổ ích về vấn đề này (do tìm hiểu đã lâu nhưng
chưa đọc thấy tài liệu nào rõ ràng và cụ thể, đa số người ta
viết chung chung), tuy còn nhiều chỗ chưa hiểu hết, do có nhiều
từ ngữ chuyên môn, nhưng không sao, tôi sẽ đọc lại nhiều lần và
sẽ cố gắng tìm hiểu thêm nữa. Tôi muốn hỏi anh về vấn đề này:
tôi là người Công Giáo, vì bạn trai vô sinh không thể có con con
theo cách tự nhiên được nhưng có thể thụ tinh trong ống nghiệm.
Vậy tôi có được phép thực hiện không? Nếu không được thì xin nói
lý do vì sao? Còn có thể được thì như thế nào?
Cám ơn anh dành thời gian đọc thư này. Chúc anh
nhiều sức khỏe và thành công.”
Mến
chào anh,
Nguyễn
Thị Hương
* * *
DẪN NHẬP
Trong
bài viết này, tôi muốn cùng với qúi bạn đọc bốn phương,
chúng ta cùng nhau tìm hiểu và xem xét đến những kỹ thuật mới
mang tính hiện đại về việc sinh sản. Ở đây chúng ta tập trung
chú ý vào những can thiệp y học và những kỹ thuật tiên tiến nhằm
khắc phục điều kiện vô sinh hoặc gia tăng cơ hội thụ thai. Đó
chính là việc cấy tinh nhân tạo, việc thụ tinh trong
ống nghiệm và vấn đề mang thai hộ. Đây là những vấn
đề tương đối khá phức tạp và gây nhiều tranh cãi trong suốt
những năm, qua thậm chí cho đến ngày nay.
Trước
khi bước vào các suy tư thần học và khía cạnh luân lý về việc sử
dụng các kỹ thuật mới về sinh sản, trước hết, tôi muốn
trình bày với quí vị đọc giả, một trường hợp nan giải diễn ra
cho cặp vợ chồng mắc chứng vô sinh, như một cách giới thiệu
những vấn nạn liên quan đến lãnh vực Đạo Đức Sinh Học, đồng thời
cũng là «tư-liệu để suy nghĩ». Tôi hy vọng trường hợp điển hình
này sẽ được coi là khởi điểm cho việc suy tư cá nhân về những
vấn nạn mà ngày nay chúng ta thường xuyên gặp phải.
TRƯỜNG HỢP ĐẶC TRƯNG: ĐỨA TRẺ ỐNG NGHIỆM
Thắng và Nguyệt kết hôn với nhau vào những năm đầu của độ tuổi
ba mươi. Cuộc hôn nhân của họ quả là hạnh phúc và đã kéo dài
được chín năm. Họ đã có được tất cả những gì họ muốn trong cuộc
sống. Cả hai đều có việc làm ưng ý và đạt ý nguyện. Nguyệt là
giáo sư toán rất nổi tiếng ở trường Trung học phổ thông cấp III,
còn Thắng là một kế toán chuyên nghiệp cần mẫn của xí nghiệp do
chính bố ruột làm chủ ở trên tỉnh. Họ còn có một căn nhà xinh
xắn, có tiền tiết kiệm gửi ngân hàng; họ còn có một nhóm bạn bè
rất tốt và nhiều họ hàng ruột thịt rất thân thương.
Thế
nhưng, điều họ đang mong mỏi là có được đứa con của hai người.
Sau khi đã nỗ lực trì hoãn việc có con suốt sáu năm trời, Thắng
và Nguyệt thấy rằng họ đã đủ vững về tài chính để có thể có con
và để Nguyệt ở nhà nuôi con trong vài năm. Vì thế họ đang cố
gắng để Nguyệt có thể thụ thai. Vì cả hai đều xuất thân từ những
gia đình ‘đông con nhiều cháu’, và vì các chị em của Nguyệt, ai
cũng có đến hai đứa con trong vòng ba năm đầu sau khi cưới, nên
đâu có điều gì đáng ngại đối với Thắng và Nguyệt, vì thế họ đâu
cần phải giữ bí mật toan tính này của họ.
Thế
nhưng năm tháng trôi qua mà Nguyệt chẳng có một dấu hiệu gì là
có thai cả. Lúc đầu Thắng và Nguyệt còn bán tín bán nghi, nhưng
rồi họ bắt đầu lo lắng và phát hoảng. Các chị em của Nguyệt cũng
hết sức ủi an và động viên. Cha mẹ của Nguyệt dù có tỏ ra vững
vàng cũng bắt đầu nhuốm buồn và thất vọng. Mẹ của Thắng hứa sẽ
khấn xin với thánh Giêrađô (DCCT) mà người ta cho là bổn mạng
của những cặp hiếm muộn. Những tranh luận về việc chuyển phòng
khách thành phòng em bé thưa dần rồi ‘tịt hẳn’. Chuyện ái ân vì
tập trung vào việc có thai nên mất đi tính ngẫu hứng và thích
thú. Tháng nào họ cũng hy vọng để rồi thất vọng, khiến cho bầu
khí gia đình ngày càng lúng túng và buồn thảm. Hố ngăn cách giữa
họ với những bạn bè và bà con có con đang lớn dần. Thế giới như
phân chia làm đôi, một bên là những người có con và một bên là
những người hiếm muộn, khó lòng cảm thông nhau.
Rốt
cuộc, họ quyết định nhờ sự trợ giúp của y học, điều này khiến họ
phải trải qua hàng loạt đợt khám bệnh và xét nghiệm lâu dài. Mấy
tháng trước, bác sĩ của trung tâm sinh sản thông báo cho họ biết
họ bị trở ngại trong việc có con vì hai vòi trứng của Nguyệt bị
nghẽn, và bác sĩ khuyên họ nên cứu xét chuyện thụ tinh trong ống
nghiệm. Quy trình này đòi hỏi phải cho thụ tinh một số trứng của
Nguyệt với tinh trùng của Thắng trong phòng thí nghiệm, sau đó
đưa trứng đã thụ tinh vào tử cung của nàng, có như vậy mới mong
họ có con được.
Nhưng giải pháp này có những vấn đề của nó, chí ít là đối với
Thắng và Nguyệt, cả hai là những Kitô hữu sống đạo tích cực.
Nguyệt đã từng trao đổi chuyện này với vị linh mục dạy học ở
trường Thánh Tâm, và nàng được biết rằng Giáo Hội Công Giáo
không chấp nhận việc thụ tinh trong ống nghiệm, vì nó tách rời
việc ái ân với chuyện thụ thai, và vì nó thường dính dáng đến
việc làm tê liệt hoặc giết chết một số trứng đã thụ tinh. Cả
Thắng lẫn Nguyệt không tin lắm vào lập luận đấy, nhưng nàng lo
lắng khi nghĩ đến những trứng đã thụ tinh mà Giáo Hội dạy đấy là
mầm sống của con người.
Nguyệt nói:
« Tôi biết rằng một phôi
gồm hai hay bốn tế bào thì chưa phải là em bé. Nhưng nó hẳn là
một thứ gì đó, có thể đã là một con người rồi, nên chuyện làm tê
liệt hoặc giết đi cái được coi là sự sống ấy hẳn là điều sai
trái. Tôi không thể không tự hỏi là có nên nhận con nuôi hoặc có
nên làm cha mẹ nuôi của các trẻ em vô gia cư không. Có lẽ chúng
tôi chỉ là những người ích kỷ. Tôi biết mặt mũi đứa con nuôi sẽ
chẳng giống chúng tôi, nhưng có biết bao nhiêu đứa bé như thế
cần có cha mẹ; còn chúng tôi đây, là những người khoẻ mạnh, may
mắn, và đang khao khát có con.
Thắng không có ý kiến về những dẫn giải này. Anh ấy cũng bối rối
lắm. Cũng như Nguyệt, anh muốn có một bé trai hay bé gái đúng là
con ruột của hai người, là xương thịt và máu huyết của hai vợ
chồng. Anh muốn cho cha mẹ anh một đứa cháu, và trên hết, anh
muốn xoá bỏ ‘vết nhơ’ trong đầu óc của mọi người cho rằng họ vô
sinh, muốn gột sạch nỗi ám ảnh cứ phải câu nệ vào chuyện làm sao
phải có thai mỗi lần ân ái với vợ.
Nhưng họ phải làm gì đây? Ngay cả chuyện
« thụ tinh trong
ống nghiệm » chưa hẳn đã thành công. Người chị em bà con
của Nguyệt là Hằng đã thử phương pháp này mấy năm nay mà có
thành công đâu, để rồi phí tổn và nỗi căng thẳng càng làm cho
đời sống hôn nhân của họ xáo trộn thêm. Thế nhưng, một trong
những khách hàng của Thắng lại sinh đôi hai cô bé xinh đẹp, khỏe
mạnh ngay lần thử đầu tiên, và hai năm sau lại thêm một trẻ sơ
sinh nữa cũng từ chính ‘mẻ trứng’ ấy. Nếu những người này mà
nhận con nuôi thì có phải là ‘rách việc’ không. Ồ, nếu thế thì
không biết bây giờ họ phải ‘xoay xở’ ra sao?1
Vì thế, trong bài khảo luận này, tôi muốn xem xét về những can
thiệp của kỹ thuật sinh sản, tức việc cấy tinh nhân tạo,
việc thụ tinh trong ống nghiệm và vấn đề
người mẹ mang thai hộ . Những vấn đề này đã từng được
coi như là một sự thách thức lớn nhất trong đạo đức sinh học
suốt ba thập niên vừa qua, do sự ra đời của việc sinh sản nhân
tạo, đặc biệt vào những năm cuối của thập niên 1970, khi hai
khoa học gia, kiêm bác sĩ, Patrick Steptoe và Paul Edwards thành
công, trong việc cho ra đời một đứa trẻ được thụ tinh trong
ống nghiệm và được chuyển vào tử cung của người mẹ sau vài
ngày thụ tinh. Vì thế, với sự ra đời của bé gái Louise Brown,
ngày 25 tháng Bảy 1978 tại Anh Quốc, một phương cách sinh sản
mới đã trở thành sự thật: việc thụ tinh
trong ống nghiệm.
I. NHỮNG CAN THIỆP VÀO SỰ SINH
SẢN CỦA CON NGƯỜI
Chúng
ta bắt đầu với bối cảnh lịch sử.
Trước
thế kỷ XX người ta chưa chú ý nhiều về chuyện không đậu thai.
Thế nhưng, vào thập niên 1920, Kyusako Ogino của Nhật Bản và
Herman Knaus của Áo đã nghiên cứu về những giai đoạn đậu hay
không đậu thai theo chu kỳ kinh của phụ nữ. Cả hai nhà nghiên
cứu khẳng định rằng «sự rụng trứng xảy ra từ các ngày từ mười
sáu tới mười hai trước ngày đầu tiên theo dự đoán của kỳ kinh
sau». Trong vòng một thập niên, hiểu biết này dẫn tới việc triển
khai «phương pháp tiết dục định kỳ» để điều hòa việc sinh đẻ.
Mặc dù nhiều đôi vợ chồng dùng phương pháp này để tránh thai,
tuy nhiên sự hiểu biết về thời gian rụng trứng chính xác chỉ
cung cấp cho nhiều đôi vợ chồng vô sinh, một phương pháp kỹ
thuật-thấp, để gia tăng cơ hội thụ thai.
Với
thời gian, ba cuộc cách mạng tính dục chính đã diễn ra ở Mỹ.
Cuộc cách mạng đầu xảy ra hồi thập niên 1950, giới thiệu viên
thuốc ngừa thai. Thuốc uống ngừa thai này đã tách tình dục khỏi
sự sinh sản; người ta có thể yên tâm vui hưởng thú vui ân ái mà
không sợ mang thai. Cuộc cách mạng thứ hai giới thiệu việc
thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hồi năm 1978, khi ông và bà
Brown ở Anh cho ra đời đứa con đầu tiên bằng phương pháp thụ
tinh trong ống nghiệm. Louise Brown, được thụ tinh bên ngoài cơ
thể. Việc này cũng tách sự sinh sản khỏi tình dục; lúc này người
ta có thể sinh con mà không cần giao cấu. Sự sinh sản của con
người đã bị thay đổi mãi mãi. Cuối cùng, việc người mẹ mang thai
hộ được giới thiệu hồi thập niên 1980. Việc này đánh dấu sự tách
rời tình dục khỏi sự sinh sản, sự sinh sản khỏi tình dục, và cả
tình dục lẫn sự sinh sản khỏi mô hình gia đình truyền thống.
Những can thiệp này chuẩn bị cho cuộc cách mạng trong các cách
thức thụ thai và sinh đẻ. 2 Hiện nay có khá
nhiều phương cách và kỹ thuật về việc sinh sản nhân tạo, phần
lớn chỉ là sự khác biệt nào đó từ những kỹ thuật chính. Vì khuôn
khổ của bài viết có giới hạn, nên tôi chỉ mạn phép trình bày ba
phương pháp chủ yếu đã được sử dụng trong kỹ thuật sinh sản, đó
chính là việc cấy tinh nhân tạo, việc thụ
tinh trong ống nghiệm và vấn đề mang thai hộ.
II. CÁC KỸ THUẬT MỚI VỀ VIỆC SINH SẢN
1. Thụ tinh nhân tạo.
Lần đầu
tiên ứng dụng thành công nơi con người vào cuối thế kỷ XIX, được
giới thiệu rộng rãi hơn hồi thập niên 1930. Theo quy trình này,
tinh trùng của người đàn ông được đưa vào đường sinh sản của
người phụ nữ bằng ống tiêm hay ống thông, và sự thụ tinh xảy ra
khi một trong các tinh trùng kết hợp với tế bào trứng (noãn) của
người phụ nữ. Như thế sự thụ tinh xảy ra trong cơ thể người phụ
nữ. Sự thụ tinh nhân tạo có thể là đồng tính (homologous
artificial insemination) hay dị tính (heterologous
artificial insemination).
Thụ tinh nhân tạo đồng tính
sử dụng tinh trùng và noãn của
đôi vợ chồng thành hôn với nhau, trong khi thụ tinh nhân tạo
dị tính sử dụng các tế bào giao tử (nghĩa là tinh trùng và
noãn) của những cá nhân không là vợ chồng của nhau, thường bởi
người cho hay hiến tặng.
a)
Thụ tinh nhân tạo đồng tính hay thụ tinh nhân tạo bởi
người chồng (AIH) là đưa tinh trùng của người chồng vào cửa
mình của người vợ bằng ống tiêm hay những dụng cụ khác. Thông
thường người ta lấy tinh trùng của người chồng bằng cách cho thủ
dâm hoặc dùng bao cao su có túi chứa ở phần qui đầu để thu hoạch
tinh trùng khi vợ chồng giao hợp với nhau.
Một số
đôi vợ chồng phải nhờ tới phương pháp cấy tinh nhân tạo đồng
tính này để có thai khi mà, vì lý do nào đó người chồng không
thể phóng tinh trong âm đạo. Nó cũng được sử dụng khi người
chồng bị tình trạng ít tinh trùng (oligospermia), khó có
thể thụ tinh qua việc giao hợp bình thường hoặc khi có sự dị ứng
nào đó không thể điều trị bằng nội tiết tố.
Với khả
năng ướp lạnh và dự trữ tinh trùng (bảo quản lạnh tinh trùng),
sự thụ tinh nhân tạo đồng tính còn có thể được dùng để giúp một
góa phụ có con bằng tinh trùng của người chồng sau khi ông ta đã
qua đời.3
b) Thụ tinh nhân tạo dị tính còn được gọi là thụ tinh
nhân tạo bởi người hiến tặng. Theo truyền thống, hình thức
thụ tinh nhân tạo này được sử dụng bởi cặp vợ chồng hiếm muộn để
người vợ có thể mang thai về mặt di truyền đứa con của chị ta,
nếu chồng chị ta không có khả năng sinh sản hay nếu có «sự không
tương hợp di truyền» giữa hai vợ chồng; nghĩa là, khi cặp vợ
chồng là những người mang khiếm khuyết di truyền tính và khả
năng là đứa con được cưu mang sẽ có thể chịu ảnh hưởng bởi sự hư
hại di truyền ấy.
Ngày
nay quy trình này còn thường được sử dụng cho những mục đích nói
trên, nhưng hiện nó còn được sử dụng cho những phụ nữ đơn chiếc
muốn có con và những ai, như Walter Wadlington nói, «không lập
gia đình hoặc không có người phối ngẫu chắc chắn hay người phụ
nữ sống chung với một người phụ nữ khác ».4 Phương
pháp này cũng được dùng trong những thỏa thuận mang thai hộ mà
theo đó người phụ nữ sẽ thụ thai và sinh con, sau đó đứa con sẽ
được chuyển giao cho người cung cấp tinh trùng hay một người
khác sau khi sinh. Cần ghi nhận là hiện nay vì mối nguy có thể
là tinh trùng được cung cấp bởi ‘người bán’ mang vi rút HIV
nên sẽ trở thành mối đe dọa cho người phụ nữ và đứa bé sơ
sinh có thể mang bệnh AIDS, ngày nay phần lớn bác sĩ tham gia
vào cách thức thụ tinh nhân tạo này chỉ dùng tinh trùng đông
lạnh từ ngân hàng tinh trùng thương mại đã được kiểm dịch các
mẫu để tìm HIV. 5
2. Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển cấy
phôi
Thụ
tinh trong ống nghiệm được giới thiệu ở Anh năm 1978 và dẫn tới
kết quả là sự ra đời của Louise Brown - «đứa bé ống nghiệm» đầu
tiên. Từ đó đã có 45.000 đứa trẻ ở Mỹ được cưu mang bằng quy
trình này. 5 Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để
để điều trị những phụ nữ không có vòi trứng hoặc vòi trứng bị
nghẽn.
Thoạt đầu, thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển cấy phôi được
thực hiện bằng cách lấy một trứng từ người phụ nữ qua phép soi ổ
bụng (laparoscopy), một quy trình cần gây mê tổng quát. Khi thực
hiện phép soi ổ bụng, bác sĩ hút lấy trứng của người phụ
nữ qua cây kim rỗng được cài vào bụng và được hướng dẫn bởi dụng
cụ quang học hẹp được gọi là ống soi ổ bụng (laparoscope). Sau
khi lấy được trứng qua phép soi ổ bụng, nó được cho thụ tinh
bằng tinh trùng của người chồng trong đĩa kính (tiếng La tinh
gọi là ống thủy tinh hay ống nghiệm - in vitro). Khoảng
hai ngày sau thì tiến trình thụ tinh được hoàn tất, phôi lúc đó
phát triển tới giai đoạn tế bào bốn-tới-tám, sẵn sàng để chuyển
cấy vào tử cung của người phụ nữ. Và nếu việc cấy này thành
công, phôi sẽ tiếp tục phát triển cho tới lúc sinh. 6
Ngày
nay, quy trình thụ tinh trong ống nghiệm thường bao gồm bốn
bước.
1. Người phụ nữ được cho dùng thuốc 7 để kích thích
và qua đó có thể sản sinh ra nhiều trứng.
2.
Trứng được thu hoạch bằng phẫu thuật hay qua ống đặc biệt đuợc
đưa qua âm đạo và tử cung. 8
3. Sau
đó trứng được thụ tinh trong đĩa kính với tinh trùng của người
chồng hay của người cho/ hiến tặng và để cho phát triển trong
vài ngày.
4. Tiếp theo, một vài trứng đã thụ tinh này được chuyển cấy vào
tử cung của người phụ nữ. Theo như phương pháp thực hành hiện
nay thì bác sĩ thông thường chuyển cấy từ 2 đến 4 tiền-phôi này
vào tử cung để gia tăng khả năng trứng đã thụ tinh có thể làm tổ
ở vách tử cung và như thế việc thụ thai có thể thành công. Số
trứng thụ tinh còn lại sẽ được đem đông lạnh và dự trữ cho việc
sử dụng để cấy sau này, nếu lần cấy đầu không thành công. Những
phôi lạnh «dự trữ» này cũng có thể được «hiến tặng» cho những
mục đích nghiên cứu. Sau cùng, nếu như cặp vợ chồng xét thấy
không có nhu cầu để sử dụng các phôi ấy nữa, thì các phôi đông
lạnh này sẽ được huỷ đi.9 Việc thụ tinh trong ống
nghiệm và chuyển cấy phôi có thể là đồng tính10
hay dị tính.11
Ban đầu, việc thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển cấy phôi
đồng tính được dùng hầu như chỉ dành cho những người vợ có vòi
trứng bị tổn thương hoặc hư hại, để tạo điều kiện và giúp họ có
thể mang thai và sanh con do tinh trùng của người chồng cung
cấp. Nhưng hiện nay quy trình này được mở rộng cho cả tình trạng
vô sinh do người đàn ông (chẳng hạn tình trạng ít tinh trùng).
Nó còn được dùng để giúp đôi vợ chồng tránh thụ thai đứa con có
thể bị ảnh hưởng bệnh di truyền. Thí dụ, vào mùa hè năm 1988,
các nhà khoa học đã thành công trong việc nhận dạng và tách tinh
trùng chịu trách nhiệm trong việc thụ tinh để sanh ra đứa trẻ là
trai hay gái. Chỉ những bé trai mới chịu ảnh hưởng chứng huyết
hữu (chứng máu khó đông) [Hemophilia]. Do đó, đôi vợ chồng có lý
do chính đáng để lo lắng về việc thụ thai đứa con trai sẽ bị ảnh
hưởng chứng bệnh như vậy, thì bây giờ có thể chọn cách thụ tinh
trong ống nghiệm để bảo đảm việc chọn tinh trùng thụ tinh là bé
gái.12
Thụ
tinh trong ống nghiệm và chuyển cấy phôi dị tính giờ có thể được
dùng thay sự thụ tinh nhân tạo trong những trường hợp khi người
chồng hoàn toàn không có khả năng sinh sản hay khi người vợ
không có buồng trứng hoặc khi có sự bất tương hợp về di
truyền giữa hai người (còn được gọi là sự loạn sinh
[dysgenesis]). Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển cấy phôi đồng
tính hoặc dị tính cả hai đều bao gồm việc cấy phôi vào tử cung
của người phụ nữ, ngay cả người phụ nữ ấy đã không cung cấp
trứng, hiện tượng này được coi như là việc mang thai hộ hoặc
mướn. Bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu về vai trò của người
mẹ mang thai hộ hay còn được gọi là người me thay thế.
3. Vai trò của người mẹ thay thế/ mang
thai hộ
·
Các loại mang thai hộ
Trong
mô hình mang thai hộ, cơ bản là người vợ không có khả năng sinh
con. Người chồng hợp đồng với một phụ nữ khác - tạm gọi là người
mẹ thay thế - để thụ tinh nhân tạo cho chị ta. Sau đó chị ta thụ
thai, mang thai cho tới ngày sinh, và rồi trao trả đứa trẻ sơ
sinh cho hai vợ chồng. Đây là mô hình chuẩn mang thai hộ với chi
phí khoảng 10.000 mỹ kim cho người phụ nữ bằng lòng làm công
việc thay thế mang thai. Nhưng cũng có khi, người mang thai hộ
làm việc này hoàn toàn vì lòng vị tha. Chẳng hạn đã từng có
những trường hợp người mẹ hay người chị em, hoặc có khi là bạn
bè của người phụ nữ ấy nhận phôi (từ trứng và tinh trùng của cặp
vợ chồng) và mang thai cho tới ngày sinh. 13
Những vấn đề về việc mang thai hộ
1.
Sự khách quan hóa người phụ nữ
Những người
mang thai hộ thường được chọn dựa vào cơ sở dáng vẻ bề ngoài và
tình trạng sức khỏe tinh thần và thể chất của họ. Hơn nữa, họ
cũng cần chứng minh khả năng sinh sản của họ. Những phương pháp
chọn lựa như thế mở ngõ cho việc đánh giá và xem xét người phụ
nữ như là một đồ vật hoặc như là một phương tiện để đạt tới mục
đích. Lẽ đó, dẫn đến mối nguy cơ là ta có thể xem thường phẩm
giá người phụ nữ.
2.
Bán trẻ
Một
trong những khía cạnh gây tranh cãi đối với việc mang thai hộ là
đó có thể được xem như một tình trạng bán trẻ. Người phụ nữ ký
hợp đồng bằng lòng mang thai mướn và sinh con; sau đó chị ta
nhận tiền để giao con lại cho thân chủ. Có lập luận cho rằng
việc này mang tính chất mua bán. Nhưng cũng có những người cho
rằng đấy là một loại chi phí dịch vụ. Cũng có ý kiến cho rằng
đứa con thường được thụ tinh do tinh trùng của người chồng, đứa
con ấy là của anh ta mà anh ta không cần phải mua.
3.
Những dính líu gia đình
Người
chồng của người phụ nữ mang thai mướn thường hay bị lãng quên,
mặc dầu anh cũng có liên quan vì anh là người giúp ổn định và hỗ
trợ tiền bạc trong thời gian mang thai. Anh ta phải đành lòng
chấp nhận trong thời gian vợ anh ta mang thai đứa con của người
đàn ông khác. Ở đây còn có vấn đề pháp lý. Nếu người chồng đồng
ý để vợ mình thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng của người đàn ông
khác, về mặt pháp lý, đứa con sinh ra được coi là con của người
chồng, không phải con của người cung cấp tinh trùng, đây là một
vấn đề rắc rối về mặt pháp lý chưa giải quyết được về việc mang
thai hộ.
4. Quyền của người phụ nữ
Mặc dù
có những vấn đề này hay vấn đề khác liên quan tới việc mang thai
hộ, nhiều lập luận cho rằng: nếu từ chối không để phụ nữ có cơ
hội này là từ chối không cho phép họ hành động như là một người
trưởng thành đầy đủ về mặt xã hội. Từ chối khả năng này của họ
là đối xử với phụ nữ một cách chuyên quyền bằng lập luận ngầm
cho rằng họ không thể tự quyết định. 14
III. NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ VAI TRÒ LÀM CHA
MẸ
Vì các
khả năng kỹ thuật mới của chúng ta, nhất là khi vai trò người mẹ
mang thai hộ được giới thiệu hồi thập niên 1980, vì thế, giờ đây
cần tái xác định tận căn vai trò làm cha mẹ. Đối với phụ nữ, khả
năng làm mẹ có bảy loại:
1. mẹ theo nghĩa di truyền là người sản sinh trứng;
2. về việc cưu mang, là người mang thai;
3. về nuôi dưỡng, là người nuôi đứa bé lớn;
4. về mang thai-và-di truyền, người sản sinh trứng và mang thai
nhưng không nuôi đứa bé (surrogate mother);
5. về nuôi dưỡng-và-di truyền, người sản sinh trứng và nuôi đứa
bé nhưng không mang thai. Ví dụ trong trường hợp thuê người khác
mang thai hộ;
6. về nuôi dưỡng-và-mang thai, người mang thai và nuôi đứa bé
nhưng không cung cấp trứng;
7. người mẹ theo nghĩa toàn diện là người thực hiện hết các chức
năng trên, người sản sinh trứng, mang thai, và nuôi đứa bé.15
Đối với đàn ông khả năng làm bố chỉ có ba loại:
1. về di truyền, người sản sinh tinh trùng;
2. về nuôi dưỡng, người nuôi đứa bé;
3. người cha đầy đủ, người cung cấp tinh trùng và nuôi đứa bé.16
Về mặt lịch sử, việc nhận con nuôi cũng phát sinh những vấn nạn
tương tự (chẳng hạn như vai trò làm cha mẹ), vì cha mẹ nuôi
không có quan hệ gì với đứa bé mà họ nhận nuôi. Tuy nhiên, những
khả năng mới này dựa trên những can thiệp kỹ thuật rõ ràng làm
cho vấn đề làm cha mẹ trở nên phức tạp hơn, nhất là khi những cá
nhân khác dính dáng đến việc bán 17 trứng, tinh trùng
hay mang thai hộ. Những khả năng này đã làm phát sinh những
tranh luận thật nóng bỏng về bản chất tự nhiên, sự nuôi dưỡng,
hay một sự kết hợp nào đó về cả hai phương diện này có thể được
coi như là cơ sở cho việc xác định vai trò làm cha mẹ, nhất là
về khía cạnh chính sách xã hội.
IV. NHỮNG VẤN ĐỀ XUNG QUANH SỰ THỤ TINH
TRONG ỐNG NGHIỆM
1. Tỉ lệ thành công
Có lẽ
cách dễ nhất để nói về vấn đề chính của việc thụ tinh trong ống
nghiệm là dẫn chứng sự cân nhắc của khoa học hồi năm 1993: «Việc
thụ tinh trong ống nghiệm lại chẳng thành công lắm đâu. Ở Mỹ, tỉ
lệ toàn thể ca sinh đẻ qua sự thụ tinh trong ống nghiệm là 14%
từ 16.405 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm». Điều này có
nghĩa là trong 16.405 trứng được thu thập và cố làm cho thụ
tinh, chỉ 14 phần trăm tồn tại tới ngày sinh và sinh ra vẫn còn
sống.18
2. Chi phí
Tại Hoa
Kỳ một số Tiểu bang có dịch vụ bảo hiểm y tế và sức khỏe bao gồm
dịch vụ bảo hiểm sinh sản, kể cả thụ tinh trong ống nghiệm, dù
đã có đóng bảo hiểm y tế thì các công ty bảo hiểm chỉ bằng lòng
trả các khoản phí tổn cho một số lần thụ tinh trong ống nghiệm
nhất định nào thôi, vì thế phần lớn chi phí là do cá nhân hay
gia đình phải gánh vác.
Theo
Hiệp hội Y học Sinh sản, chi phí trung bình cho một quy trình
này là 7.800 mỹ kim. Tại Bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn, theo tôi
được biết, thì mỗi lần thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm,
cá nhân phải trả là 40 triệu đồng, dù thành công hay không. Vì
khó có phụ nữ nào có thể thụ thai trong lần cấy phôi đầu tiên,
nên do đó phí tổn có thể lên cao. Vì thế, khi phân tích vấn đề
này, chúng ta cần tính cả những yếu tố nói trên.
Trước
hết, người nghèo làm sao có thể kham nổi các kỹ thuật sinh sản
này. Ba lần thực hiện trả hết cả 20.000 mỹ kim, nhưng thường đâu
có được bảo hiểm y tế chi trả hết, mà chỉ những người giàu mới
chi phí được số tiền lớn như vậy.
Thứ đến, một số phụ nữ đã bày tỏ sự quan tâm cho rằng những tiến
bộ về kỹ thuật sinh sản đã đặt thêm áp lực lên phụ nữ để họ
(phải) thụ thai và sinh con, bất kể lý do gì. Kết quả là nhiều
phụ nữ phải chịu những quy trình gian khổ, nản lòng, và xa xỉ để
được ‘bằng chị bằng em’ theo khuôn mẫu văn hóa và thành kiến
giới tính.
Thứ
nữa, cần phải hỏi rằng những can thiệp này có cho chúng ta cảm
nhận để nhìn đứa con của mình là quà tặng của Thượng đế và mang
tính thánh thiêng cần được trân trọng và chăm sóc, hoặc như một
sản phẩm mà mọi người đều có quyền. Liệu có nguy hại gì khi cho
rằng những kỹ thuật này làm mờ nhạt nỗi sợ và sự trân trọng mà
chúng ta dành cho con cái, dẫn chúng ta tới chỗ xem chúng như
những vật phẩm được sản xuất và được tậu theo sở thích của chúng
ta? 19
3. Các nguy cơ của quy trình thụ tinh
trong ống nghiệm
Nguy cơ
đặc trưng của sự thụ tinh trong ống nghiệm cần được đề cập, đó
chính là khả năng đa thai. Vì tính chất cần chuyển cấy đến ba
hay bốn phôi-có khi còn phải chuyển cấy nhiều hơn-nên khả năng
đa thai là khả thể. Mà tình trạng đa thai rõ ràng gây ra vấn đề
cho bà mẹ vì nó ảnh hưởng hệ sinh sản của chị ta, sức khỏe chung
của chị ta, gây khó chịu khi mang thai và khó khăn lúc sinh. Còn
có ảnh hưởng lên các bào thai vì tình trạng thiếu chỗ sẽ gây ra
tình trạng đẻ non, mà như thế sẽ đưa đến một số vấn đề về sức
khỏe của chúng. Thêm nữa, các chi phí xã hội sẽ tăng do phải
tăng cường việc Chăm sóc Đặc biệt.
Vì điều này, người ta thường đưa ra giải pháp được gọi là sự
khử thai có chọn lọc (selective reduction of the
pregnancies) cho vấn đề đa thai do sự thụ tinh trong ống nghiệm,
nghĩa là phá bớt một số bào thai. Đây lại là một ‘nỗi đau’ đối
với bà mẹ, nhất là đối với những ai nặng lòng về mặt đạo lý.
Ngay cả cho dù việc này được chấp nhận về mặt đạo đức, những
người này sẽ vẫn chịu sự dằn vặt.20
V. NHỮNG PHẢN ẢNH THẦN HỌC VÀ LUÂN LÝ
VỀ CÁC KỸ THUẬT SINH SẢN MỚI
Những
người ủng hộ ba kỹ thuật sinh sản này, đó là việc cấy tinh nhân
tạo, việc thụ tinh trong ống nghiệm và việc mang thai hộ (và
những kỹ thuật sinh sản khác), thường xem sự cấy tinh nhân tạo,
thụ tinh trong ống nghiệm, và việc người mẹ mang thai hộ là
những cách chữa trị được hoan nghênh để chữa chứng vô sinh, làm
cho những người vô sinh hay những cặp vợ chồng không thể thụ
thai hoặc sinh con có thể trở thành cha mẹ. Người ta tán tụng
hết lời những kỹ thuật này là đã giúp các bà và các ông khắc
phục những trở ngại sinh học để trở thành cha mẹ, như tình trạng
ít tinh trùng (ở đàn ông) hoặc không có hay vòi trứng bị nghẽn
(ở phụ nữ) và cả những cặp đồng tính luyến ái (homosexual) hoặc
đồng dục nữ (lesbian) muốn có con của riêng họ.
Đồng
thời, những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế không coi những can
thiệp này như một công kích đối với tính tự nhiên của sự quan hệ
tình dục, nhưng là những công cụ hợp pháp và hợp đạo lý trình ra
cho các cha mẹ tương lai thêm phần tự do và tự chủ khi cần chọn
lựa về sự sinh sản.
Còn nữa, có một số quan tâm nổi lên về những kỹ thuật này. Một
số lập luận cho rằng những can thiệp này đã vượt qua ranh giới
giữa sự trợ giúp quy trình sinh sản tự nhiên và «Thượng đế xoay
vần». Theo quan điểm này, con người cấu thành (hay phôi) trong
phòng thí nghiệm không là thao tác chính thống về sự tự chủ của
con người, nhưng là một công kích lên tính thánh thiêng của nhân
vị và sự xúc phạm Quyền năng của Thượng đế sự sống. Những nhà
phê bình khác lo lắng về tính đạo lý trong việc tập hợp tinh
trùng qua sự thủ dâm, hoặc qua việc làm lạnh, làm tan và loại bỏ
những trứng đã thụ tinh. Còn những người khác phản đối rằng việc
giới thiệu các thủ thuật thụ tinh nhân tạo, cũng như việc sử
dụng tinh trùng được cung cấp bởi người hiến tặng và việc mang
thai hộ tách rời mối quan hệ ràng buộc nối kết tình yêu đôi lứa
và vai trò làm cha mẹ, và làm suy yếu chính ý nghĩa của tư cách
làm cha mẹ. 21 Giờ đây chúng ta thử tìm hiểu xem Kinh
Thánh nói gì về vấn đề này.
1. KINH THÁNH
Trong
khi các tác giả kinh thánh không đề cập vấn nạn về những can
thiệp kỹ thuật tiên tiến và hiện đại về việc sinh sản của con
người, chúng ta có thể tìm thấy một số chủ đề và sự kết án trong
Kinh thánh có liên quan tới vấn đề này. Trong cả Kinh thánh Do
Thái (Hebrew scripture) và Tân ước, hôn nhân được coi là bối
cảnh thích đáng và hợp đạo lý đối với quan hệ tình dục. Đặc biệt
trong Kinh thánh Do Thái, sự sinh sản được coi là cốt lõi của
hôn nhân. Thật thế, các tác giả kinh thánh xác định và tái khẳng
định con cái là phúc lành của Thiên chúa. Hơn nữa, Kinh thánh
còn khẳng định rằng: Thiên chúa quan tâm đến việc sáng tạo sự
sống của con người. Và cuối cùng, các tác giả kinh thánh hiểu
rằng lời mời gọi «sinh sản đông con nhiều cháu» phải được coi là
trách vụ trong việc cộng tác vào sự tạo dựng.
Trong
Kinh thánh Do Thái, chí ít, ta còn thấy mối dây ràng buộc thắm
thiết giữa hôn nhân và sự sinh sản. Thật thế, như chúng ta thấy
được ở đó đây Kinh thánh Do Thái mô tả sự sinh sản như yếu tố
thiết yếu của hôn nhân. Vì người nam và người nữ được coi như
«trở thành một xương một thịt» (Sáng thế ký 2:24) làm một để
nhận mệnh lệnh sinh sản cho «đầy mặt đất» (Sáng thế ký 1:28). Vì
thế Margaret Farley trình thuật rằng «tại cốt lõi truyền thống
luân lý về tình dục của Do Thái giáo là mệnh lệnh của hôn nhân…
[và tại] trung tâm của mệnh lệnh này là mệnh lệnh sinh sản
22 Hơn nữa, mệnh lệnh sinh sản này được trình ra cho cả
người nam và người nữ như nhau. Trong Sáng thế ký 1:27-28, người
nam và người nữ cùng là hình ảnh của Thiên chúa và cùng được tạo
thành những đồng-sáng tạo với Thiên chúa để sản sinh ra sự sống
con người mới. 23
Quả
thực, bổn phận sinh sản đuợc coi là quan trọng đến độ các quy
phạm kinh thánh cho phép đàn ông xử trí vấn đề không con bằng
phương sách đa thê, quan hệ tình dục với những các nàng hầu hay
nô lệ, hoặc ly dị người vợ không sinh đẻ và tái hôn. Khi Sarah
tin rằng mình không thể có con, nàng đã triệu Abraham giao cấu
với cô gái hầu của mình là Hagar (Sáng thế ký 16: 1-4), và sau
này Rachel cũng làm thế với chồng nàng là Jacob (Sáng thế ký 30:
1-5). Và, như chúng ta để ý, tục lệ của kinh thánh về «hôn nhân
Lêvi» là người anh em của người chết phải ngủ với người chị/em
dâu góa bụa để có kế tự cho người anh/em quá vãng.
Còn
nữa, việc sinh sản theo Kinh thánh Do Thái không chỉ là bổn
phận. Nó còn là một niềm hạnh phúc. Lời hứa của Thiên chúa chúc
phúc cho Abraham và Sarah có con (Sáng thế ký 18:10), và khi
Sarah được đặc ân này để có đứa con trai (Sáng thế ký 21:6) nàng
đã hân hoan tán tụng, «Chúa đã mang lại cho tôi tiếng cười; ai
nghe chuyện của tôi cũng sẽ vui mừng với tôi! Cũng thế, tác giả
sách Đệ Nhị Luật 7:14 đưa ra những lời chúc phúc của Thiên chúa
của người Do Thái với bảo chứng rằng «giữa các ngươi sẽ không
còn chuyện vô sinh nữa,» và trong sách Khôn ngoan 3: 13-19 chúng
ta đọc thấy rằng con cái là nguồn phúc, còn không con là nỗi khổ
đau.
Trong
khi Tân ước tiếp tục khẳng định về tính thiện của hôn nhân và
coi hôn nhân là bối cảnh đạo lý thích đáng đối với quan hệ tình
dục, nó không nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sinh sản theo
cách của Kinh thánh Do Thái, và các tác giả của nó không mô tả
tình trạng không con là một bi kịch. Như Noonan lưu ý, «hiển
nhiên sự sinh sản là mục đích hàng đầu của hôn nhân không được
nhấn mạnh trong những văn bản này ».24
Trong
việc khẳng định cho rằng con cái là phúc lành của Thiên chúa
Thánh kinh cũng nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên chúa là tác giả và
là Đấng tạo dựng sự sống của chúng ta và rằng sự thánh thiêng
của mỗi sự sống con người đến từ sự thể cho rằng chúng ta được
Thiên chúa tạo thành. Trong cả những trình thuật về sáng tạo ở
chương đầu của sách Sáng thế, Thiên chúa được mô tả là người
sáng tạo sự sống con người; và tác giả Thánh thi 139:13 ca khen
Thiên chúa, «Tâm thận tôi, chính tay Chúa dựng; Dệt tôi từ trong
bụng mẹ». Còn nữa, trong Sáng thế ký 1:28, con người trở thành
những đồng-sáng tạo với Thiên chúa, và vai trò là cha mẹ của
chúng ta không đặt chúng ta vào thế cạnh tranh với người đã tạo
dựng chúng ta, nhưng mời gọi chúng ta thực hành quyền hợp pháp
của chúng ta là những người được mời gọi để «sinh sôi đầy mặt
đất» và là những quản gia tốt.
Một lần nữa, như Lisa Cahill lưu ý, tác giả Kinh thánh xem bổn
phận sinh sản có liên quan không chỉ với lợi ích của cá nhân hay
đôi vợ chồng, nhưng còn với lợi ích chung lớn hơn của cộng đồng
con người trên toàn cầu. Vì thế, những quyết định về các kỹ
thuật sinh sản còn cần phải lưu tâm đến những quan tâm xã hội
rộng hơn về sự công bằng xã hội và kinh tế.
2. TRUYỀN THỐNG
Giáo
huấn Công giáo về tính luân lý của các kỹ thuật sinh sản thường
tập trung vào ba vấn đề: (1) Tình trạng luân lý của phôi là gì?
(What is the moral status of human embryo?) (2) Chúng ta phán
đoán sự thụ tinh nhân tạo đồng tính thế nào? (3) Chúng ta phán
đoán sự thụ tinh nhân tạo dị tính ra sao? 25 Trong
những phần kế tiếp, chúng ta sẽ xem xét những trả lời chính thức
của Giáo hội Công giáo trước những thắc mắc này và đề cập một số
quan tâm và phê phán nổi lên từ một số nhà luân lý Công giáo và
Kitô giáo.
2.1.
PHÔI NGƯỜI
Vì thụ tinh trong ống nghiệm thường dính líu đến việc sản sinh,
làm lạnh, và hủy một số phôi người «thừa,» chúng ta cần biết
tình trạng luân lý của những phôi này là gì và bổn phận của
chúng ta đối với các phôi ấy. Giáo huấn Công giáo khẳng định
rằng, «từ lúc noãn (trứng) được thụ tinh, một sự sống mới được
bắt đầu là… sự sống của một con người mới» và rằng «con người ấy
phải được tôn trọng, như một nhân vị, từ chính lúc hiện hữu ban
đầu đó.26 Vì thế, giáo hội nhấn mạnh rằng từ lúc thụ
tinh,27 kết quả của sự phát sinh này «đòi hỏi được
tôn trọng vô điều kiện,» và «phải được đối xử là một nhân vị… và
được chăm sóc… như bất kỳ một con người nào khác. Hơn nữa, giáo
huấn Công giáo khẳng định rằng «bất kỳ sự đối xử phân biệt nào
[chống lại phôi] dựa trên các giai đoạn khác nhau của sự sống
cũng không thể biện minh một cách hợp lý hơn bất kỳ sự phân biệt
đối xử nào. 28
Hơn
nữa, giáo huấn Công giáo đánh giá tính đạo đức của những kỹ
thuật sinh sản, chí ít về mặt xem coi chúng có tôn trọng và
bảo vệ sự sống đang phát triển của phôi. Bất kỳ sự chẩn đoán
tiền sinh hay phương pháp trị liệu nào “tôn trọng tính toàn vẹn
của phôi» và «an toàn che chở hay chữa trị cho phôi» mà không
dẫn tới những nguy cơ bất tương xứng thì có thể chấp nhận.
29Nhưng việc sản xuất hay việc thử nghiệm trên phôi «vì
duy mục đích nghiên cứu» mang lợi cho những người khác để coi sự
sống con người chỉ là phương tiện và bỏ mặc chúng cho những nguy
cơ «tệ hại và bất xứng,» có khi còn tệ hơn nữa, chẳng hạn như
làm lạnh và hủy những phôi «thừa,» thì đều bị coi là xúc phạm
phẩm giá và tác hại đến sự an sinh phát triển của phôi. Theo
Huấn thị (Donum Vitae - Tặng phẩm sự sống ) của Thánh Bộ
Giáo Lý và Đức Tin ban hành năm 1987 nhận định về các kỹ thuật
sinh sản như sau: «đúng là trái đạo lý để sản xuất phôi người
với ý đồ khai thác như ‘nguyên liệu sinh học’ dùng một lần (rồi
bỏ),» và «việc làm lạnh phôi… tất cả đều được xem như là tội ác
nhằm chống lại sự tôn trọng phải có đối với con người ».30
Tuy
nhiên, một số nhà luân lý Kitô giáo đặt vấn đề là liệu phôi,
nhất là vào những tuần phát triển đầu tiên của nó, xét về mặt
luân lý có nên đối xử và xem như là một nhân vị hay con người
không? Chẳng hạn, thần học gia Công giáo Thomas Shannon lập luận
rằng: tính cá thể là phần cốt yếu để trở thành một nhân vị / con
người (mỗi một người là một nhân vị cá biệt); và rằng, trong
những giai đoạn phát triển ban đầu của phôi - phôi còn có khả
năng là song thai - thì chưa là mộ hữu thể cá biệt. Shannon
không tranh luận rằng phôi không có tình trạng hoặc những đòi
hỏi luân lý, mà chỉ lập luận rằng những đòi hỏi về mặt luân lý
của phôi thì khác biệt đối với một con người trưởng thành.
31
2.2. LUÂN LÝ VỀ SỰ THỤ TINH NHÂN TẠO ĐỒNG TÍNH
Giáo
huấn Công Giáo thừa nhận rằng các phương pháp thụ tinh nhân tạo
đồng tính là những quy trình diễn ra trong phạm vi bối cảnh hôn
nhân và chỉ sử dụng tinh trùng của người chồng và trứng và tử
cung của người vợ) thì «không bị coi là hoàn toàn xấu về mặt đạo
đức so với sự sinh sản ngoài hôn nhân 32 Vì đứa con
tương lai là kết quả tình yêu riêng biệt của mối quan hệ giữa
hai vợ chồng hay trong đời sống hôn nhân. Sự thụ tinh nhân tạo
đồng tính không đặt ra cùng những đe dọa như những quy trình sử
dụng người cho là thành phần thứ ba. Hơn nữa, giáo hội thừa nhận
rằng khát vọng có con của đôi vợ chồng có cưới hỏi là chính
đáng, và nỗi khổ của các đôi vợ chồng vô sinh thật cần được cảm
thông.
Tuy nhiên, giáo huấn chính thức của Giáo hội Công giáo vẫn không
chấp nhận sự thụ tinh nhân tạo đồng tính, vì những những thủ
thuật này chia cắt quy trình sinh sản khỏi hành vi ân ái và vì
thế chống lại những gì mà giáo hội coi là mối quan hệ bất khả
phân ly giữa việc sinh sản và ý nghĩa hợp nhất hai vợ chồng lại
với nhau trong hành vi ái ân. 33 Như Tòa Thánh
Vaticanô đã công bố trong tuyên ngôn Donum Vitae (Tặng
phẩm sự sống) năm 1987.
«… Sự
sinh sản con người phải là hoa trái và kết quả tình yêu hôn
nhân… [và] sự thụ tinh đạt được bên ngoài cơ thể» là cướp đi ý
nghĩa hợp nhất của sinh hoạt tình dục nên về khách quan như thế
là sai. Hơn nữa, tài liệu ấy cũng nói lên những quan tâm cho
rằng các quy trình thụ tinh nhân tạo đồng tính thì nguy hiểm vì
chúng thiết lập «sự thống trị về kỹ thuật lên nguồn gốc và phẩm
giá của nhân vị con người, và cảnh báo về việc thủ dâm để lấy
tinh. 34
Dù sao,
một số nhà thần học luân lý Công giáo và Kitô giáo không nghĩ
rằng những can thiệp về thụ tinh nhân tạo đồng tính là sai.
Chẳng hạn như Richard McCormick, Lisa Cahill và Sidney Callahan,
35 nhất trí rằng sự sinh sản phải diễn ra trong phạm
vi bối cảnh hôn nhân. Tuy nhiên, họ không thừa nhận sự sinh sản
chỉ diễn ra trong phạm vi hạn hẹp là việc giao hợp. Họ lập luận
rằng lập trường này là một loại “Vật ngữ thuyết = Physicalism”
36đánh đồng trật tự luân lý với trật tự tự nhiên.
Có lẽ,
cần diễn giải ý mà chúng ta muốn nói về Vật ngữ thuyết
(đôi khi còn được biết như là Chủ nghĩa Tự nhiên ). Chủ
thuyết này là khuynh hướng đồng nhất hành vi đạo đức của con
người giống hệt như cấu trúc thể lý của hành vi và khuynh hướng
đặt toàn bộ việc lượng giá hay thẩm định luân lý chỉ duy vào sự
phân tích chính hành vi, chứ không chú ý gì đến ý định
đằng sau hành động hay hoàn cảnh mà trong đó hành vi được thực
hiện. Thí dụ, lý truyền thống thần học luân thừa nhận rằng:
không phải mọi hành vi giết người đều là tội sát nhân, giết
người để tự vệ, hay để bảo vệ một người vô tội, hoặc vì cuộc
chiến chính nghĩa thì được phép; nó cũng thừa nhận sự thể là đâu
phải mọi sự nói dối đều là dối trá, nghĩa là sự thật cần được
giữ kín đối với người không có quyền được biết. Sau cùng truyền
thống thần học luân lý công nhận rằng, lấy thực phẩm của người
khác - tỷ dụ trong nguy cơ phải chết vì nạn đói - thì không bị
coi như là ăn trộm. Nói tóm lại, là không phải mọi việc giết
người đều mang ác tâm của tội giết người, cũng như đâu phải mọi
lời nói dối đều mang sự ác ý của sự dối trá. Mỗi hành vi này,
hiển nhiên, mang yếu tố sự xấu thể lý hoặc xấu tiền luân lý,
37 nhưng theo truyền thống thì cho rằng trong những
điều kiện đặc biệt nào đó, hoặc trong những hoàn cảnh đặc trưng
nào đó (như được ngụ ý trong các thí dụ nêu trên), nếu có những
lý do đầy đủ hoặc tương xứng 38 thì có thể thực hiện
những việc được xem như là xấu tiền-luân lý (tỷ dụ việc nói dối
để cứu một mạng người vô tội). Bắt được ý tưởng này, Richard
McCormick cho rằng sự khác biệt giữa sự xấu luân lý (moral evil)
và sự xấu tiền-luân lý (premoral evil) từ lâu được thừa nhận
trong truyền thống thần học luân lý Công giáo, và điều đó quan
trọng có liên quan đến những quyết định của chúng ta, về việc
thụ tinh nhân tạo hay thụ tinh trong ống nghiệm: Truyền thống
luân lý Công Giáo luôn nói rằng, không phải mọi hành vi giết
người đều là tội sát nhân, đâu phải mọi sự nói dối đều là dối
trá,và đâu phải tất cả mọi hành vi lấy của người khác là trộm
cắp,… Nó khẳng định rằng: trước khi một hành động có thể bị quy
cho là sự xấu luân lý hoặc vô luân, ta cần phải xem xét đến
những yếu tố ngoại cảnh nữa. Cái nhìn kỹ này sẽ cho thấy rằng,
tận căn, truyền thống luân lý của chúng ta đã nói rằng, các sự
ác liên quan với hành động của con người, đúng là những sự xấu
luân lý, chừng nào chúng thiếu sự biện hộ tương xứng. Nếu đôi
khi có được lý do tương xứng hay chính đáng để lấy đi chính mạng
sống của con người, tỷ dụ như trong trường hợp án tử hình, thì
sao lại không thể có lý do để tách rời sự nối kết giữa sự sinh
sản và hôn nhân và giữa ý nghĩa của sự sinh sản và sự hợp nhất
trong sinh hoạt tình dục của con người, ngõ hầu đôi vợ chồng vô
sinh có thể cho ra đời một đứa con? Vấn đề hiện được nêu lên là
tại sao cách suy nghĩ này lại không thể áp dụng được đề giải
quyết những vấn đề về sự Thụ tinh Nhân tạo đồng tính. 39
2.3.
LUÂN LÝ TÍNH VỀ SỰ THỤ TINH NHÂN TẠO DỊ TÍNH
Giáo
huấn Công giáo chống lại sự thụ tinh nhân tạo dị tính (các quy
trình dùng trứng, tinh trùng hay tử cung của thành phần thứ ba)
vì nó được coi là mối đe dọa những ràng buộc thánh thiêng nối
kết cặp vợ chồng với nhau và con cái với cha mẹ. Theo Giáo hội
Công giáo, «… sự trân trọng tính hợp nhất của hôn nhân và lòng
trung tín trong hôn nhân đòi hỏi con cái phải được thụ thai
trong đời sống hôn nhân,» nên việc giới thiệu ngươi thứ ba
(người hiến tặng) «là sự xúc phạm sự dâng hiến cho nhau của cặp
vợ chồng 40Hơn nữa, «con cái có quyền được thụ thai,
được cưu mang trong lòng mẹ, được cho ra đời và được nuôi dạy,
giáo dục trong mái ấm gia đình,» ngược lai, việc thụ tinh nhân
tạo dị tính (AID) vi phạm các quyền ấy và cướp đi sự nối kết nền
tảng của con cái với cha mẹ. 41
Nhìn chung, các thần học gia Công giáo và nhiều thần học gia của
các giáo hội Kitô khác nhất trí rằng: sự giới thiệu nhân vật thứ
ba đặt ra sự đe dọa không tương xứng cho mối quan hệ hôn nhân,
và như thế là ủng hộ sự chống đối của giáo hội Công giáo về các
quy trình thụ tinh nhân tạo dị tính42 Cũng có các nhà
luân lý Công giáo và Kitô giáo khác từng lập luận rằng: trong
khi những mối dây ràng buộc tự nhiên và di truyền giữa cặp vợ
chồng có cưới hỏi và con cái của họ là rất quan trọng, chúng
không là điều tối thiết yếu. Có thể các tác giả này lưu tâm đến
việc là cha mẹ tốt cả khi những ràng buộc như thế không thể hiện
đầy đủ. Vì thế, các cặp vợ chồng bị vô sinh có thể được bào chữa
để sử dụng trứng, tinh trùng của người cho, hay cả việc mang
thai hộ để họ có được một đứa con, dù chẳng lấy gì làm lý tưởng
nhưng điều ấy không hẳn là hoàn toàn là trái với luân thường đạo
lý. 43
KẾT LUẬN
Dưới
ánh sáng toàn bộ của những điều mà chúng ta đã nghiêm túc tìm
hiểu và xem xét, vậy với tư cách là những Kitô hữu, chúng ta cần
đánh gía như thế nào về những can thiệp y học trong việc sinh
sản của con người ?
Một
số chứng cứ nền tảng.
Chúng
ta bắt đầu với sự khẳng định được tìm thấy trong cả Kinh Thánh
và Truyền thống Kitô giáo, cho rằng mỗi con người đều thánh
thiêng và cần được đối xử một cách tôn kính và trân trọng. Mỗi
người được Thiên chúa tạo dựng và được tác thành theo hình ảnh
Thiên Chúa, vì thế sự khởi đầu của sự sống con người phải được
coi và đối xử như là nơi thánh ngự. Đồng thời, chúng ta còn tin
rằng lời mời gọi của Thiên chúa «sinh sôi đầy mặt đất» vừa là
lời chúc phúc vừa là trách nhiệm. Tư cách
làm cha mẹ là một món qùa tặng và là một ơn gọi, và con cái mà
chúng ta đón nhận từ Thiên chúa cũng là món quà tặng được giao
cho chúng ta chăm sóc, không phải là quyền hay hàng hóa mà chúng
ta có quyền đòi hỏi. Do đó, trong mọi chọn lựa về sự sinh sản
của chúng ta, chúng ta phải chắc chắn để chăm sóc con cái của
chúng ta và trông lo lợi ích của chúng. Điều này không có nghĩa
là phủ nhận nguồn thống khổ tinh thần sâu sắc đối với bản thân
của một số cặp vợ chồng, cũng không có nghĩa là các đôi vợ chồng
ấy, không được tìm giải pháp để giải quyết vấn đề của họ, và
cũng không có nghĩa là những nỗ lực của ngành y khoa trong lĩnh
vực này là không được hoan nghênh. Nhưng nó mang ý nghĩa là có
những giới hạn luân lý, so với việc mà chúng ta muốn thực hiện
để làm vơi đi nỗi khổ đau của người vợ hoặc chồng, do việc không
thể thụ thai và rằng, như những lĩnh vực khác, chúng ta có bổn
phận là những cha mẹ «có trách nhiệm».
Trong
những thập niên gần đây, nhờ vào sự tiến bộ của y khoa, chúng ta
đã hiểu nhiều hơn các chi tiết về sự phát triển sự sống của con
người. Và dù không có sự đồng tâm nhất trí trong việc cho rằng,
nhân vị con người hiện diện trong những giai đoạn sớm nhất của
sự phát triển phôi, tuy nhiên đã có sự thỏa thuận chung là sự
sống của con người hiện diện từ lúc trứng thụ tinh. Chí ít
thì điều này có nghĩa là toàn bộ sự sống của con người, trước
khi chào đời, tạo ra một số xác quyết luân lý đích thực trên
chúng ta, và rằng sự mất mát sự sống này vào bất kỳ giai đoạn
phát triển nào đều phải tránh khi có thể. Nó cũng có nghĩa là
những can thiệp dẫn tới sự mất mát sự sống tiền sinh buộc phải
có những lý do nghiêm túc hơn để biện minh.
Chúng ta cần đắn đo và suy xét cẩn thận, về những
khía cạnh luân lý, khi sử dụng những kỹ thuật sinh sản mới,
chúng ta phải đặt trọng tâm vào quyền lợi
của đứa bé trên tất cả mọi sự, ngay cả việc đi đến quyết định có
nên sử dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm hay chấp nhận
vấn đề vô sinh. Việc thừa nhận rằng đứa con không phải là hàng
hóa, rằng sự chuyển giao sự sống con người không phải để bán
buôn, và rằng đứa con có quyền biết về nguồn gốc di truyền của
nó, khi được sinh ra từ tinh trùng và trứng của người cho, và
việc tạo phương tiện để thực hiện các khả năng này, tất cả đều
là những bước quan trọng để chúng ta cứu xét trước khi đi đến
quyết định.
Hoàn
cảnh khó nhất diễn ra do việc đặt đứa trẻ ở trung tâm các quyết
định liên quan tới kỹ thuật sinh sản là quyết định ai cần tiếp
cận với kỹ thuật này - hay, chính xác hơn, liệu sự tiếp cận này
có nên từ chối đối với một nhóm người nào đó, vì những quan tâm
luân lý liên quan tới đứa trẻ. Nói cụ thể là, chúng ta có những
trách nhiệm đạo đức đối với đứa bé sẽ chào đời trong tương lai,
để khước từ đối tượng sử dụng kỹ thuật này, trừ phi đứa trẻ được
sinh ra trong hoàn cảnh mà cả người nam và người nữ thực hiện
chức năng là cha mẹ? Thường vấn đề này được trình bày là, «Có
nên từ chối thực hiện kỹ thuật này cho một người nào đó, chẳng
hạn, người độc thân hay những ai sống trong mối quan hệ không
truyền thống, thường là người đồng tính luyến ái hay đồng dục
nữ?44
Cuối cùng, những mối dây ràng buộc tự nhiên và di truyền giữa
cặp vợ chồng và con cái là quan trọng, nên bất kỳ kỹ thuật sinh
sản nào phá vỡ những kết nối giữa tư cách làm cha mẹ theo di
truyền, tư cách làm cha mẹ trong việc cưu mang, và trách nhiệm
nuôi dậy con cái, đều cần những lý do nghiêm túc để biện minh.
Lm. TS. Trần Mạnh Hùng, C.Ss.R
L.J. Goody Bioethics Centre
phtran-ljgbc@iinet.net.au
___________________________________
GHI CHÚ:
37. Vật ngữ thuyết (Physicalism): thuyết về
qui luật tự nhiên, về đặc điểm tự nhiên của thế giới vật chất.
Thuật ngữ "sự xấu tiền luân lý" (premoral evil) đôi khi được các
tác giả diễn tả khác nhau. Ví dụ, "sự xấu thể lý / physical
evil" (Knauer), "sự xấu tiền luân lý / premoral evil" (Fuchs),
"sự xấu tồn hữu" / ontic evil" tức "sự khuyết phạp tiền luân lý"
/ premoral disvalue (Janssens), "sự xấu phi luân lý" / non-moral
evil" (McCormick). Sự xấu tiền luân lý là điều mà ta thấy rằng
đáng tiếc, gây phương hại, cản trở sự phát triển của con người.
Cũng có thể đó là những điều như đau khổ, chấn thương, bệnh tật,
thiếu hiểu biết, bạo lực, cái chết, v.v. Tuy nhiên, chúng không
phải là sự xấu luân lý. Sự xấu luân lý (moral evil) là gây ra
hay để cho xảy ra sự xấu tiền luân lý mà không có lý do tương
xứng. Đồng quan điểm với Knauer, Schuller, Fuchs và Janssens,
McCormick nói rằng "lý do tương xứng" có tính cách quyết định để
đánh giá các hành vi luân lý là đúng hay là sai. Ông chủ trương
rằng hành vi gây ra sự xấu tiền luân lý là hành vi chấp nhận
được chỉ khi nào có lý do quả thật tương xứng để biện minh mà
thôi. Ví dụ, giết chết người là sai trái nếu không có lý do
tương xứng để làm việc ấy. Xem Richard M. Gula, What Are They
Saying about Moral Norms? (Ramsey: Pualist Press, 1982), tr.
72-74.
38. “Lý do tương xứng” là thế nào? Đồng quan điểm với các thần
học gia luân lý theo khuynh hướng xét lại, McCormick không chủ
trương cho rằng tất cả mọi lý do đều là tương xứng. Nói đúng ra,
ông không những nhìn nhận rằng việc thẩm định sự tương xứng có
tính cách quyết định mà còn thấy rằng việc thẩm định là rất khó.
Ông đưa ra ba phạm trù làm nền tảng cho lý do tương xứng. Lý do
tương xứng là lý do thoả ba điều này: (1) Có nguy cơ mất đi một
giá trị ít ra là tương đương với giá trị bị hy sinh; (2) Không
có cách nào ít phương hại hơn để bảo vệ giá trị ấy lúc này và
tại đây; (3) Cách bảo vệ giá trị ấy lúc này và tại đây sẽ không
làm cho nó suy giảm về sau này [(1) a value at least equal to
that sacrificed is at stake; (2) there is no less harmful way of
protecting the value here and now; (3) the manner of its
protection here and now will not undermine it in the long run].
Tuy nhiên, mới đây, vì nỗ lực đầu tiên của mình bị phê bình nên
ông đã xét lại phạm trù thứ ba. Trong tác phẩm mới đây, Doing
Evil to Achieve Good [Làm Sự Xấu Để Được Sự Tốt], cùng biên tập
với Paul Ramsey, McCormick xét lại phạm trù thứ ba và bỏ đi điều
kiện "về sau này" (in the long run). R. McCormick & P. Ramsey,
chủ biên, Doing Evil to Achieve Good. (Chicago: Loyola
University Press, 1978); xem thêm Richard M. Gula, What Are
They Saying about Moral Norms? (Ramsey: Paulist Press,
1982), tr. 74-75.
39. Về luân lý, thuyết tương xứng (proportionalism) chủ trương
rằng không bao giờ có thể thiết cấu một công thức cấm chế tuyệt
đối cho từng loại hành vi riêng biệt, mà trong mọi hoàn cảnh và
trong mọi nền văn hoá sẽ mâu thuẫn với các giá trị được chỉ định
bởi lý trí và Mạc Khải. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận định
rằng khi phân biệt "sự xấu tiền luân lý" với "sự xấu luân lý",
những người ủng hộ thuyết này khẳng định rằng "luân lý tính của
một hành vi được thẩm định bằng hai cách: "điều tốt" (goodness)
của nó được thẩm định dựa vào ý định của tác nhân trong tương
quan với những sự tốt luân lý, và "điều đúng" (rightness) được
thẩm định dựa vào sự xem xét những hiệu quả hay hậu quả có thể
nhìn thấy trước và sự tương xứng của chúng." [the morality of an
act would be judged in two different ways: its moral "goodness"
would be judged on the basis of the subject's intention in
reference to moral goods, and its "rightness" on the basis of a
consideration of its foreseeable effects or consequences and of
their proportion] (Veritatis Splendor, số 75). Theo lời
Đức Gioan Phaolô II, một hậu quả của thuyết này là người ta đi
đến chỗ phủ nhận sự có mặt của "các hành vi xấu tự bản chất [nội
tại]." (VS, số 79). Vì thế, Đức Thánh Cha đã bác bỏ một số diễn
giải về thần học luân lý của thuyết tương xứng (VS, số 71). Tuy
nhiên, như giáo sư Brian Johnstone đã ghi nhận một cách chí lý,
"trong khi nhiều thần học gia Công Giáo ủng hộ thuyết tương xứng
thì một số khác phê phán nó một cách mạnh mẽ." Xem Brian V.
Johnstone C.Ss.R., "The Encyclical Veritatis Splendor" The
Ecumenical Review 48 (Tháng 4/1996): 164-172, ở 171.
40. Xem Vincent J. Genovesi, In Pursuit of Love.
(Wilmington, Delaware: Michael Glazier, 1990), các trang
167-168.
41. CDF, Donum Viate - Tặng phẩm Sự sống - “Giới
thiệu về sự Tôn trọng Sự sống Con người theo Nguồn gốc của nó và
Chân giá trị của sự Sinh sản: Trả lời những Vấn nạn Hiện nay.”
Origins 16/40 (19 tháng Ba 1987): 705.
42. Như trên, trang 704-705.
43. Richard A. McCormik, “Therapy or Tampering: The Ethics of
Reproductive Technology and the Development of Doctrine,” The
Critical Calling: Reflections on Moral Dilemmas Since Vatican
II. (Washington, DC: Georgetown University Press, 1989), p. 341.
44. Maura A. Ryan, “The Argument for Unlimited Procreative
Liberty: A Feminist Critique,” in Readings in Moral Theology No.
9. (New York: Paulist Press, 1996), các trang 383-401. - Lý lẽ
ủng hộ quyền tự do sinh sản không giới hạn: Bài phê bình bênh
vực quyền của phụ nữ,” trong Các Bài đọc về Thần học Luân lý No.
9.
45. Margaret A. Somerville, The Ethical Canary: Science,
Society and the Human Spirit. (Ringwwod, Victoria: Penguin
Putman Inc., 2000), trang 47-48
Trở về Trang Chính
|