|
Một
trong những vấn đề quan trọng và thiết yếu đối với ngành Đạo Đức
Sinh Học hiện nay là định nghĩa về cái chết của con người và thế
nào được coi là chết thực sự. Đâu là những tiêu chuẩn mà dựa vào
đó, các chuyên gia và bác sĩ có thể tuyên bố là bệnh nhân đã qua
đời. Tính chất quan trọng của sự việc nêu trên có nhiều nguyên
do. Một trong những lý do thực tiễn là các bệnh viện ngày nay
đang rất cần các cơ phận như tim, gan, phổi và thận để có thể
thực hiện các cuộc phẫu thuật hầu ghép tim, gan, phổi hoặc thận
cho các bệnh nhân mà các cơ phận này của họ không còn làm việc
hay hoạt động được nữa, nhờ đó sẽ cứu và duy trì sự sống của họ
thêm một thời gian nữa. Lẽ đó, các cơ phận của người vừa mới qua
đời rất quan trọng, tuy nhiên, việc ghép các cơ phận, tỷ dụ như
tim hoặc thận, từ một xác chết cần phải được thực hiện một cách
hết sức nhanh chóng, sau khi người đó được xác nhận là đã chết
thực sự. Nếu như các cơ phận của người chết không được mau chóng
thâu hoạch và bảo vệ ngay lập tức, thì chúng sẽ bị thoái hoá và
trở nên vô dụng, không thể dùng để cứu giúp các bệnh nhân khác.
Việc cứu người là một hành động rất đáng ca ngợi và cần khuyến
khích. Nó là công việc chính yếu của ngành y, tuy nhiên, việc sử
dụng các cơ phận của người vừa mới chết để ghép cho các bệnh
nhân khác, ta cần phải thận trọng và cố tránh được những cám dỗ,
thúc đẩy ta lơi là trong công việc chăm sóc cho các bệnh nhân
đang hấp hối, sắp sửa qua đời, chỉ vì họ có khả năng cống hiến
các cơ phận của mình cho các bệnh nhân khác. Chính vì lý do này
mà vào năm 1968 tại Thành Phố Sydney, Úc Đại Lợi, hội nghị y
khoa quốc tế đã chấp nhận nguyên tắc, trong đó xác định sự tách
biệt về quyền hạn và chức năng giữa các bác sĩ chăm sóc cho bệnh
nhân đang trong thời kỳ hấp hối và các bác sĩ có nhiệm vụ trông
coi các bệnh nhân đang chờ đợi các cuộc phẫu thuật để được cấy
ghép. Do đó, chỉ có bác sĩ chăm sóc cho các người hiến tặng các
cơ phận mới có thẩm quyền quyết định và tuyên bố thời điểm mà
ngưới ấy đã ra đi, hoặc vị bác sĩ cấp giấy chứng tử. Các vị bác
sĩ này sẽ không tham gia vào tiến trình thâu hoạch các cơ phận
hoặc ghép tim, gan, phổi hoặc thận cho các bệnh nhân. Làm như
thế, vì muốn ngăn ngừa sự lạm dụng của các bác sĩ.
Cũng
chính vì những lý do như thế mà trong khoảng gần một thập niên
vừa qua, đã xảy ra rất nhiều cuộc tranh luận về cái chết của bộ
não. Một vài tranh luận xoay quanh sự kiện về việc sử dụng các
phương tiện kỹ thuật ngành y, nhằm duy trì sự hô hấp hoặc lưu
thông của máu trong huyết quản, mặc dù não bộ của bệnh nhân đã
bị tiêu hủy; các cuộc tranh luận khác tập trung vào vấn đề định
nghĩa sự chết của bộ não, hầu có thể thâu hoạch các cơ phận của
người vừa mới qua đời, để bác sĩ có thể thực hiện các cuộc phẫu
thuật cấy ghép kịp thời. Lẽ đó mục đích của bài viết này, trước
tiên, nhằm phổ biến một số thông tin trong ngành y, liên quan
đến các tiêu chuẩn được sử dụng như là quy-chuẩn cho cái chết
của bộ não; đồng thời cho thấy khái niệm về sự chết của bộ não
phù hợp với quan niệm triết học hiện đại và của của Giáo Hội
Công Giáo về cái chết.
Trong y khoa, từ “brain death” được sử dụng nhằm mô tả tình
trạng mà bộ não đã hoàn toàn bị tiêu huỷ, dẫn đến sự ngừng hoạt
động của các cơ phận khác nơi cơ thể trong khoảng khắc mau chóng
và không thể tránh khỏi. Khái niệm về sự chết của bộ não rất
quan trọng đối với các chuyên gia ngành y, vì ngày nay với những
phương tiện và kỹ thuật tân tiến của y học, các bác sĩ có thể
kéo dài giai đoạn hấp hối hoặc đời sống thực vật của một con
người nào đó, bằng các máy hô hấp nhân tạo, mặc dù, não bộ của
họ đã bị phá huỷ và ngừng hoạt động. Trong quá khứ, sự ngừng đập
của nhịp tim và sự hô hấp tự nhiên, ắt nhiên, dẫn đến cái chết
của bộ não, và tương tự như thế, khi bộ não đã chết hoặc bị tàn
phá, đương nhiên dẫn đến tim sẽ ngừng đập và máu sẽ không còn
lưu thông trong cơ thể. Trong bối cảnh như vậy, rất chí lý để có
thể nói rằng: sự ngừng đập của trái tim và ngưng điều hòa hô hấp
được xem như là tiêu chuẩn chính đáng để tuyên bố là người này
đã chết. Tuy nhiên, gần đây nhờ vào những phát minh mới và các
kỹ thuật tiên tiến của ngành y, các bác sĩ có thể giúp cho não
bộ hoạt động, trong khi tim và hệ thống hô hấp không còn làm
việc nữa, vì lý do đó muốn tuyên bố rằng người này đã chết, ta
không thể chỉ dựa vào yếu tố là tim ngừng đập và phổi ngừng hô
hấp. Thêm vào đó, hiện nay cho dù bộ não đã bị hủy diệt, các bác
sĩ vẫn có thể tiếp tục duy trì nhịp đập của trái tim và sự hô
hấp bằng các máy móc nhân tạo.
SỰ CHẾT CỦA BỘ NÃO ĐỒNG NGHĨA VỚI
CÁI CHẾT CON NGƯỜI
Một số các chuyên gia và thần học gia luân lý đã biện luận, mang
sức thuyết phục, rằng: “Khi đã hội đủ các chứng cớ cho thấy bộ
não không còn hoạt động và tất cả các chức năng của nó không thể
phục hồi, thì đây được coi như là tiêu chuẩn y khoa chính xác về
sự chết con người.” (1) Theo nhận xét của các chuyên gia ngành y
thì vỏ não (cerebral cortex) là trung tâm của ý thức và hành
động tự nguyện, vì thế khi mà bộ não bị huỷ diệt thì coi như
cuộc sống nơi dương thế của người đó cũng đã chấm dứt. Hay nói
một cách khác, con người hiện hữu và có được khả năng suy tư nhờ
có bộ não, một khi mà nó bị biến mất thì con người coi như cũng
không còn hiện hữu nữa. Điều này đã được triết gia Pascal diễn
tả thật chí lý như sau, khi định nghĩa về nhân vị: “Con người là
một cây sậy biết suy tư”. Lẽ đó, một người mà bộ não của họ đã
bị tiêu huỷ thì như thế chắc chắn là họ đã chết. Quan điểm này
được đa số giới y khoa trên toàn thế giới và phần đông dân
chúng, thuộc nhiều thành phần trong xã hội, ủng hộ (2). Do đó,
việc thẩm định và tuyên bố cái chết của con người, dựa trên nền
tảng cơ sở là não bộ ngừng hoạt động và bất khả phục hồi đã trở
thành phổ biến. Cho nên bài viết này nhằm chứng minh rằng, việc
bộ não hoàn toàn bị huỷ diệt là lý chứng tiên quyết cho việc
thẩm định cái chết, và điều này phù hợp với quan điểm triết học
hiện đại, cũng như truyền thống luân lý của Giáo Hội Công Giáo.
(3)
NHỮNG TIÊU CHUẨN HỮU HIỆU NHẰM
XÁC ĐỊNH SỰ HUỶ DIỆT CỦA BỘ NÃO
Xác định thời điểm chính xác khi sự chết xảy đến là mối bận tâm
lớn của các chuyên gia ngành y, vì nó là công việc cam go kèm
theo nhiều hệ qủa. Nhất là những thập niên gần đây, khi mà các
kỹ thuật tân tiến của y khoa cho phép bác sĩ có thể làm cho bệnh
nhân được tỉnh lại và phục hồi nhịp đập của trái tim, cho nên
quan niệm truyền thống về sự chết xảy ra khi tim ngừng đập,
không còn đem ra áp dụng được nữa. Hiện nay, các bác sĩ có thể
dùng phẩu thuật thay tim cho các bệnh nhân. Họ lấy tim của những
người vừa mới qua đời – đã đồng ý hiến tặng - để thay cho các
bệnh nhân bị chứng đau tim, và rất có thể trong tương lai, các
khoa học gia sẽ chế tạo các trái tim bằng plastic để thay thế
quả tim thật. Sự kiện này làm cho công chúng giác ngộ rằng, thời
điểm của cái chết không thể khẳng định bởi việc ngưng hoạt động
của trái tim, cho nên họ đã thay đổi quan niệm về cái chết, dựa
trên cơ sở sinh học. Hiện nay, người ta đang đặt lại vấn đề, đâu
là các tiêu chuẩn y khoa chính xác nhằm dựa vào đó, để xác quyết
là một người thực sự đã chết. Vào năm 1968, uỷ ban đặc nhiệm của
Đại học y khoa Harvard đã đưa một số hướng dẫn cụ thể, được coi
là những tiêu chuẩn khả quan, nhằm thẩm định trường hợp não bộ
đã chết, không còn hoạt động nữa, cụ thể là trường hợp của các
bệnh nhân bị hôn mê vĩnh viễn, không có khả năng phục hồi. Các
tiêu chuẩn này đòi hỏi, hệ thống thần kinh phải được thử nghiệm,
hầu cho thấy nó không còn khả năng tiếp nhận, hay có sự phản xạ
khi được kích thích, hoàn toàn không có một phản ứng gì khi bị
gây đau. Cơ thể không còn có những cử động tự nhiên, hơi thở đã
biến mất, con ngươi của mắt bất động, không di chuyển và không
có phản ứng gì với ánh sáng. Nếu hội đủ các chứng cớ như thế,
thì bác sĩ có thể quyết đoán là não bộ đã hoàn toàn bị huỷ diệt
hoặc đã chết.
Đồng ý
rằng hiện nay, một mặt chúng ta đã có được các khả năng chuyên
môn, hầu có thể chuẩn đoán cách chính xác là bộ não của bệnh
nhân đã hoàn toàn bị huỷ hoại hoặc bất khả phục hồi. Nhưng đàng
khác, không hẳn vì thế mà có thể đưa ra một chính sách chung,
dựa vào khả năng không thể hồi phục của bộ não, hoặc não bộ đã
hoàn toàn bị tàn phá làm cơ sở nền tảng cho việc quyết đoán là
người này hoặc người kia thực sự đã chết. Tuy nhiên, xã hội ngày
nay đã có được những lý chứng rất có sức thuyết phục, vừa đặt
trên nền tảng triết học với những suy tư đúng đắn, vừa dựa vào
các truyền thống tôn giáo lớn của phương Tây, nhằm đưa ra luận
điểm rằng: ngày nay người ta có thể chấp nhận cái chết của bộ
não là dấu chỉ một người đã chết thực sự (4).
Một số
người tỏ vẻ quan-ngại đối với đề nghị này, vì họ cho rằng, nếu
chúng ta đặt trọng tâm việc xét nghiệm cái chết của một người
nào đó bằng tiêu chuẩn dựa vào bộ não của họ, còn hoạt động hay
đã bị phá huỷ hoàn toàn và không thể phục hồi, như thế con người
ấy được coi như đã chết thực sự. Điều này (theo ý kiến của một
số người), sẽ dẫn đến hệ quả là các bác sĩ có thể lạm dụng, vì
nhu cầu cần có các cơ phận của người hiến tặng để ghép cho các
bệnh nhân khác, hoặc vì các nhu cầu cần thiết khác trong ngành
y. Thêm vào đó, điều này sẽ thay đổi não trạng của xã hội về ý
niệm sự chết.
HỆ QỦA LUÂN LÝ VẾ CÁI
CHẾT CỦA BỘ NÃO
Bàn
luận về vấn đề này, cha Bernard Häring, thần học gia luân lý
Dòng Chúa Cứu Thế đã đưa ra một vài nhận xét như sau:
Nhằm có
thể thành công trong việc ghép tim hoặc thận. Các cơ phận được
thâu hoạch từ người vừa mới qua đời, phải được thực hiện một
cách hết sức nhanh chóng và phải được bảo đảm là chúng vẫn còn
có thể sử dụng được, nghĩa là chúng chưa có bị thoái hoá. Cũng
chính vì lý do này, mà các bác sĩ muốn thay đổi về phương diện
pháp lý, hầu có thể được các nhà lập pháp công nhận, là chúng ta
có thể sử dụng qui-chuẩn về cái chết của bộ não để tuyên bố
rằng: con người ấy thực sự đã chết và như thế các bác sĩ có thể
thực hiện phẫu thuật ngay lập tức, hầu thâu hoạch các cơ phận
của người vừa mới qua đời để có thể thay ghép cho các bệnh nhân
khác. Đây là một vấn đề hiện còn đang tranh luận và cần có những
phán đoán sáng suốt, hầu có thể đưa ra những giải quyết hợp luân
lý và hợp pháp.
Như đã được đề cập ở trên là một số người hoài nghi cho rằng -
mặc dầu đây chỉ là sự nghi ngờ trên giả thuyết – không biết
người ta có thực sự chết chưa, khi bộ óc của họ đã bị tiêu huỷ
và không còn khả năng phục hồi, mặc dầu những người này và hầu
hết chúng ta đều đồng ý là không gì có thể thay đổi tình trạng
hấp hối của bệnh nhân. Cho nên, những người này đã đưa ra phán
quyết như sau: sự thâu hoạch các cơ phận của người mà bộ não đã
chết vẫn mang tính chất là tội giết người hoặc là nguyên nhân
dẫn đến cái chết thực sự. Tuy nhiên, theo cha Häring, ngay cả
trong giả thuyết như thế, thì lối chú thích cổ điển của lệnh
truyền: “Không được giết nguời,” vẫn có thể cho phép chúng ta dự
đoán cái khoảng khắc của sự chết, mà trong đó không gì có thể
thay đổi tiến trình “cận tử nhất sinh” của người đang hấp hối,
bởi vì trong trường hợp như thế, không có một nguyên nhân nào
khác được giới thiệu để dẫn đến cái chết, mà chẳng qua, tiến
trình của sự chết, tự nó, được mau chóng hoàn tất. Điều ấy có
nghĩa là, chúng ta thực sự không phải là nguyên nhân gây nên cái
chết của người mà bộ não của họ đã hoàn toàn bị huỷ diệt. Đối
với những người như thế thì kể như họ đã chết, chỉ còn đợi cho
thân xác của họ khi nào bị rữa nát mà thôi (5). Cho nên bất luận
thế nào đi chăng nữa, thì sự sống của họ không bị chúng ta tước
đoạt và chúng ta cũng không có thu ngắn sự hiện hữu của họ trên
trần gian này. Chính vì những lý lẽ như thế, cha Häring đã đồng
ý với lý luận cho rằng: sự chết của bộ não được coi như là cái
chết thực sự của một con người (6). Lập trường này cũng được
Thần học gia luân lý Công Giáo, Charles J. McFadden ủng hộ, ông
ta nhận xét như sau: “Một khi mà chúng ta đã có đầy đủ lý chứng
cho thấy bộ não đã thực sự bị tiêu huỷ, thì điều đó được xem như
người ấy đã chết, mặc dù tim vẫn còn đập và hệ thống hô hấp của
họ, cả hai, được duy trì bởi các máy móc nhân tạo (7). Những
luận điểm này phù hợp với lời phát biểu của Giáo Hoàng Piô XII,
trong tài liệu bàn thảo về tình trạng của những bệnh nhân bất
tỉnh vô phục hồi, vô phương chữa trị. Đức Thánh Cha nói như sau:
“Việc đưa ra một định nghĩa rõ rệt và chính xác về cái chết và
cái giây phút mà sự chết diễn ra đối với các bệnh nhân hôn mê
bất khả phục hồi, điều này thuộc phạm vi chuyên môn của các bác
sĩ… Trong những trường hợp như thế, chúng ta có thể nại đến khái
niệm linh hồn lìa khỏi xác; nhưng trên phương diện thực tế, việc
tuyên bố cái chết của một con người nào đó trong những trường
hợp cá biệt, thì câu trả lời không thể suy ra từ những chuẩn mực
luân lý hoặc qui luật tôn giáo, vì điều này không thuộc thẩm
quyền của Giáo Hội.” (8).
Tiến Sĩ Trần Mạnh Hùng
C.Ss.R
L.J. Goody Bioethics Centre
39 Jugan Street,
Glendalough, WA. 6016
Email:
phtran-ljgbc@iinet.net.au
_____________________________________________________
Chú thích
(1) William E. May, Catholic Bioethics and the Gift of Human
Life (Huntington, Indiana: Our Sunday Visitor Inc., 2000),
p. 290.
(2) Bernard Haring, Medical Ethics (England: St. Paul
Publications, 1972), pp. 132-133; Paul Ramsey, The Patient as
Person: Explorations in Medical Ethics (New Haven, Conn,
Yale University Press, 1970), pp. 101-112.
(3) Thomas A. Shannon, ed., Bioethics, 3rd Edition
(Mahwah, New Jersey: Paulist Press, 1987), pp. 171-173.
(4) Neil Messer, ed., Theological Issues in Bioethics: An
Introduction with Readings (London: Darton, Longman & Todd,
2002), pp. 129-130
(5) Theo lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm luân lý, các bác
sĩ phải ngưng tất cả các phương pháp trợ sinh hoặc máy hô hấp
nhân tạo, một khi mà não của người bệnh đã bị chết.
(6) Bernard Haring, Medical Ethics (England: St. Paul
Publications, 1972), pp. 131-136.
(7) Charle J. McFadden, The Dignity of Life: Moral Values in
a Changing Society (Huntington, Indiana: Our Sunday Visitor
Inc., 1976), p. 202.
(8) Pius XII, Acta Apostolicae Sedis, 45 (November,
1957), 1027-1033. Cf. Bernard Haring, Medical Ethics
(England: St. Paul Publications, 1972), p. 132.
Trở về Trang Chính
|