|
A.
Mục đích:
Ngôn
ngữ có nhiều bậc, tuỳ trình độ của người học. Bậc thứ nhất là
những từ-ngữ và mẫu câu thông dụng với nghĩa chân phương của
chúng. Bậc thứ hai là thành ngữ, nghĩa là những từ-ngữ trong
thành ngữ thoát khỏi ý nghĩa chân phương của nó. Bậc thứ ba là
tục ngữ, với những dụng ý mang nặng tính chất phong tục và tập
quán của dân tộc nói thứ tiếng ấy. Và còn nhiều bậc khác nữa.
Trong phạm vi của phần trình bày này, chúng tôi xin nói đến
thành ngữ. Trong phạm vi rộng hơn, thành ngữ sánh vai với khoảng
15 hình thức khác của mỹ từ pháp tiếng Việt.
Phần
trình bày hôm nay nhằm hai mục đích: Trước hết, chúng tôi xin
giới thiệu quyển thành ngữ do chúng tôi sưu tầm và biên soạn.
Đây là quyển sách lần đầu tiên ra mắt quý vị độc giả gồm có
thành ngữ đi kèm với nghĩa đen dịch từ tiếng Việt sang và nghĩa
bóng dịch theo ý hay thành ngữ tương dương của tiếng Anh. Thứ
đến là đề cập vài phương cách dịch thuật áp dụng vào việc dịch
thành ngữ Việt ra Anh.
B.
Định nghĩa:
Thành
ngữ là cách diễn đạt ý tưởng mang tính cách đặc trưng của ngôn
ngữ. Về cấu trúc phần lớn thành ngữ không thành câu với những
từ-ngữ mặc dầu có thể phân tích nhưng không thể tách rời. Về
nghĩa thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi
bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thuỷ. Chẳng hạn, thay
vì nói khóc giả dối thì dùng thành ngữ nước mắt cá sấu. Nói cách
khác, thành ngữ là cách nói „bóng bẩy“ về một cái gì đó bình
thường. Thành ngữ là bậc thang đầu tiên đi vào chiều sâu của một
ngôn ngữ mà người nói sử dụng tuỳ theo trình độ ngôn ngữ kiến
thức về nền văn hoá xứ đó. Nói theo kiểu phương Tây thì thành
ngữ phản ảnh cách cắt chiếc bánh ngôn ngữ của người bản ngữ.
Thật
vậy, thành ngữ là cửa ngõ đầu tiên để đi vào cái tinh hoa của
kho tàng ngôn ngữ một dân tộc. Hãy xét đến các thành ngữ nước
mắt cá sấu 'khóc giả, khóc làm bộ', nước đổ đi rồi không hốt lại
được để chỉ về `bất cứ sự việc đáng tiếc gì đã lỡ xảy ra rồi thì
không thể trở lại như trước kia’hoặc râu ông nọ cằm bà kia 'dùng
người hay vật sai cách, chắp vá hay vụng về' không thể thay thế
cá sấu bằng thứ cá khác; nước bằng rượu hay bia; râu bằng tóc
được, và cũng không thể thay cằm bằng trán hay má được. Thành
ngữ phản ảnh cách suy nghĩ của người bản ngữ chứ nhưng không có
ý răn đời.
Thành
ngữ có ý nghĩa độc lập với từng nghĩa riêng rẽ mà mỗi từ ngữ
trong thành ngữ và chúng hợp thành một khối đồng nhất về nghĩa.
C.
Hình thức của thành ngữ
Đa số
thành ngữ là một nhóm những từ ngữ không trọn nghĩa của một câu
nên không thể đứng một mình. Thông thường thành ngữ tiếng Việt
được dùng rất nhiều trong ca dao, tục ngữ, thi ca hay các tác
phẩm văn chương. Do đó thành ngữ chỉ nhằm góp một ý trong toàn
câu. Chẳng hạn như nói công dã tràng. Ít nhất nó phải trong câu:
„Đúng là công dã tràng.“
Nhiều
người cho rằng thành ngữ tiếng Việt chỉ thuần tuý là „đơn vị
ngôn ngữ“. Theo đó, một ý nghĩa nào đó thay vì nói cách này thì
được theo cách khách bay bướm hơn hay lạ tai hơn. Thí dụ: Thay
vì nói: Anh ấy đi làm thì có khi có việc, có khi không có việc,
rất bất thường thấy mà chán thì nói Anh ấy đi làm bữa đực bữa
cái, thấy mà chán.
Tuy
nhiên thành ngữ mang nhiều ý nghĩa điển tích (hay điển cố) mà
nếu nghiên cứu kỹ cũng giúp người dùng hiểu rộng thêm về ngôn
ngữ và văn hoá Việt. Chẳng hạn như thành ngữ châu về Hiệp phố.
Nó mang theo một câu chuyện để sau đó kết luận là „cái đã mất
nay tìm lại được“.
Thành
ngữ không có ngữ điệu. Thành ngữ chỉ là một phần của câu tục
ngữ, hay ca dao, hoặc câu thơ, câu văn nên không có vần có điệu
như tục ngữ. Chẳng hạn như: Thay vì nói „Cái mặt còn non choẹt
như vậy mà biết gì đến yêu mà nói!“ thì thường người ta sẽ nói
„Cái mặt búng ra sữa mà .....“
Thành
ngữ cũng có các hình thức mô tả, so sánh và ẩn dụ như phú, tỉ và
hứng trong ca dao. Phú là mô tả, kể lại sư việc gì đó. Đa số
thành ngữ dựa trên điển tích đều thuộc hình thức phú: châu về
Hiệp phố, kết cỏ ngậm vàng, ông tơ bà nguyệt, vv.. Ngoài ra
những thành ngữ như ăn cơm nhà vác ngà voi, bàn tay có ngón ngắn
ngón dài, cha nào con nấy, vv. đều thuộc thể phú.
Thứ
đến là hình thức tỉ. Tỉ là ví hay so sánh.
Dùng một vật này so với vật kia rồi hàm ý sánh hơn sánh thiệt,
khen hay chê, cho thấy tốt hay xấu. Chẳng hạn như ác như quỷ, cá
chậu chim lồng, đen như cột nhà cháy, khổ như chó, cực như trâu,
vv. đều thuộc tỉ.
Sau cùng là hứng. Hứng là hình thức ẩn dụ.
Các thành ngữ như cá gặp nước, như rồng gặp mây, của tiên dâng
(đem) cho người phàm, cưỡi hạt chầu trời, chuyện ong bướm, vv…
Cả ba hình thức này hỗ trợ cho nhau và liên
kết với nhau làm cho ý nghĩa của thành ngữ vừa sâu vừa rộng.
Thật vậy, khi nói bàn tay có ngón ngắn ngón dài, người nói nhắm
đến ba điều: a) bàn tay thật sự có ngón ngắn ngón dài, và xem
việc ngón ngắn ngón dài là đương nhiên. Đó là hình thức phú.
b) Khi đem ví hình ảnh các ngón không đều của
bàn tay với một hoàn cảnh mà trong đó có kẻ tốt người xấu là tỉ.
Đây là sự kết hợp của phú và tỉ.
Tương tự, khi nói của tiên dâng (đem) cho
người phàm người nói đưa ra
a) hai hình ảnh: của tiên (vật có giá trị)
và người phàm (người thô vụng, quê mùa, trần tục) và b) sự ẩn
dụ: hai hình ảnh trong (a) không phù hợp để kết luận
c) việc ấy không nên làm hay không nên phí
phạm. Đây là mô tả vừa ẩn dụ.
Tuy thành ngữ không có ý nghĩa gì đặc biệt
ngoài cách diễn tả một ý tưởng thông thường bằng một lối mà chỉ
người bản ngữ hay người ngoại quốc có trình độ uyên bác về ngôn
ngữ đang học mới thông hiểu một cách thấu đáo, dùng đúng thành
ngữ có thể giúp người dùng nắm vững được vài khía cạnh về văn
hoá. Thí dụ như chữ ăn trong tiếng Việt (74) ngoài nghĩa chính
và nghĩa mở rộng liên quan đến ăn uống ra, ăn trong tiếng Việt
bao hàm nhiều sinh hoạt khác trong xã hội. Do đó sử dụng đúng
thành ngữ thì rất hay, nhưng dùng không đúng cách thì câu nói
hoá thành ngô nghê, buồn cười.
Thứ đến, thành ngữ chỉ mang ý nghĩa về sự mở
rộng của từ-ngữ nên nó được xem là “từ đồng nghĩa”. Tức là một ý
nhưng có nhiều cách nói, và thành ngữ là một trong các cách đó.
Vì thế thành ngữ được xem là một hình thức định danh.
D. Nội dung của thành ngữ
Nhìn chung, thành ngữ Việt Nam nói riêng,
cũng như ngôn ngữ Việt Nam nói chung, dựa trên văn minh nông
nghiệp, kinh nghiệm sống nghèo khổ cộng với sự đấu tranh để sinh
tồn vì giặc giã và thiên tai, và ảnh hưởng của nền nho học do
hậu quả của một ngàn năm bị ách nô lệ của người Hán, và một trăm
năm đô hộ của Pháp.
Do đó đa số thành ngữ tiếng Việt của chúng ta
phản ảnh rất rõ sinh hoạt nông nghiệp. chẳng hạn như anh em gạo,
đạo nghĩa tiền. Gạo là nguồn lương thực chính của người mình từ
bao đời nay. Anh hùng rơm, bát mồ hôi đổi lấy bát cơm, một nắng
hai sương, con sâu làm rầu nồi canh, củi quế gạo châu, dễ như
húp cháo, vv. là những sinh hoạt mang nặng tính chất nông
nghiệp. Vì sống bám vào nông nghiệp nên cuộc sống tuỳ thuộc hầu
như hoàn toàn vào thời tiết, mùa màng. Nạn đói và cái nghèo cứ
đeo đẳng mãi với người dân quê. Do đó những có rất nhiều thành
ngữ nói về cái ăn và cái nghèo, làm ăn vất vả, cuộc sống khó
khăn. bán thân nuôi miệng, đầu đường xó chợ, đầu tắt mặt tối,
tay làm hàm nhai, vuốt mũi bỏ miệng, khố rách áo ôm, một nắng
hai sương, vv.
Từ đó kinh nghiệm cuộc sống của người Việt
chú trọng đến tâm tình nhiều hơn lý trí vì bản chất người Việt
thuộc loại “duy tình”. Các thành ngữ như anh em hạt máu chẻ đôi,
bỏ thì thương, vương thì tội, chết mẹ bú dì, chết trong hơn sống
đục, vv.
Điểm sau cùng thành ngữ phản ảnh quan niệm
sống trong xã hội nhưng không thuộc giai tầng xã hội nào nên mọi
giới và mọi lứa tuổi đều có thể dùng thành ngữ để diễn tả ý
tưởng của mình. Nghiên cứu kỹ tất cả thành ngữ mà chúng tôi đã
thu thập được, chúng tôi nhận thấy người Việt Nam không có khái
niệm gì về đấu tranh giai cấp.
E. Nguồn gốc và sự thành hình của thành ngữ
Ngôn ngữ được ví như một con người sinh ra,
lớn lên và trưởng thành. Trong tiến trình thành hình của ngôn
ngữ, sự diễn đạt tư tưởng mỗi ngày một đa dạng. Do đó thành ngữ
được phát triển để đáp ứng nhu cầu diễn đạt đó. Hơn nữa trong
lối nói hàng ngày việc nói trực tiếp về một ý tưởng nào đó cho
người nghe không tiện bằng dùng một thành ngữ để thay thế. Chẳng
hạn như khi người con gái muốn cự tuyệt với người yêu cũ khi
người này tìm đến để quyến dụ nàng bỏ chồng theo mình, cô ta là
một phụ nữ đoan trang, bèn dùng thành ngữ “Thôi anh về đi. Đời
em bây giờ như ván đã đóng thuyền rồi, mong anh đừng tới nữa mà
hãy đi tìm duyên mới đi.”
Thành ngữ là lối nói cô đọng do sự vận dụng
những chuyện xưa tích cũ đã xảy ra khá lâu đời, nay chuyện tương
tự như vậy lại xảy ra. Khi dùng đến thành ngữ loại này người
nghe hiểu ngay và hiểu chính xác câu chuyện người nói muốn diễn
tả. Thí dụ như nói về công dã tràng người nghe hiểu rất rõ ý
nghĩa “nỗ lực rất lớn mà không mang lại kết quả gì.”
Dùng thành ngữ trong khi tiếp xúc với hàng
ngày khiến câu chuyện thú vị và đậm đà hơn.
Thống kê cho thấy tỉ lệ thành ngữ gốc Hán
chiếm một phần đáng kể trong tổng số thành ngữ tiếng Việt chúng
ta. Điểm thú vị là có nhiều thành ngữ này lại được diễn tả theo
lối rất bình dân vì đã được Việt hoá hoàn toàn. Chẳng hạn như:
anh em như thể tay chân (huynh đệ thủ túc), ăn như mèo (nam thực
như hổ, nữ thực như miêu), vv.
Phần lớn thành ngữ tiếng Việt dùng tiếng Nôm,
nhưng chịu nhiều ảnh hưởng Nho học, cả hình thức lẫn nội dung.
Ảnh hưởng về hình thức là việc sử dụng luôn danh từ gốc Hán
trong thành ngữ. Các thành ngữ như an bần lạc đạo, bán tín bán
nghi, bần cùng sanh đạo tặc, có thực mới vực được đạo, duyên tao
ngộ, đa đa ích thiện, vv. lấy từ sách của Tàu ra.
Trong thực tế cũng có trường hợp chúng ta
dùng thành ngữ Hán bằng thành ngữ Hán. Chẳng hạn yết miêu trợ
trưởng > dục tốt bất đạt (theo tích nóng lòng muốn cho mau có
thóc ăn nên một nông gia nhớm gốc mạ lên tưởng sẽ làm cho cây
lúa mau lớn, không dè lúa chết hết. Hoặc, kinh tâm động phách >
kinh hồn tán đởm rồi sau thành 'thất kinh hồn viá' hoặc mất hồn
mất viá.' Cũng như thấy từ thành ngữ kiềm lư kỹ cùng 'chỉ có
miếng quèn' > vô kế khả thi 'hết đường xoay xở'
Một hình thức nữa là dịch nguyên văn từ thành
ngữ Hán. Chẳng hạn như đường tí đương xa > 'bọ ngựa chống xe';
thương hải tang điền > biển cả thành nương dâu'; thuỷ trích
thạch xuyên > 'nước chảy đá mòn' (đúng ra là 'nước giọt xuống
làm thủng đá'); vv
Ngoài ra tiếng Việt vay mượn của tiếng Hán
khá nhiều thành ngữ, nhưng không giữ nguyên lời mà chỉ mượn ý.
Chẳng hạn như thủ chu đãi thố 'ôm gốc cây chờ thỏ' thì chúng ta
noí lại là 'há miệng chờ sung'. Cả hai đều có cùng nghĩa là
không chịu ra sức làm việc mà ngồi chờ may hoặc của người khác
đem đến cho. Hoặc phả phủ trầm chu 'đập nồi làm đắm thuyền' >
một mất một còn. Đả thảo kinh xà 'đập vào cỏ làm sợ rắn' > bứt
dây động rừng đều thuộc loại này.
Xa hơn nữa thay vì nói đường lang bổ thiền
'bọ ngựa bắt ve sầu' thì người Việt mình nói nôm na là 'kiến ăn
cá cá ăn kiến' để chỉ các loại hại nhau rôài về sau áp dụng luôn
cho người.
Tóm lại, do hậu quả của hơn mười thế kỷ bị đô
hộ, người Việt dùng dùng khá nhiều thành ngữ tiếng Hán làm thành
ngữ của mình.
Những thành ngữ xuất hiện dưới thời Pháp
thuộc như ấm ớ hội tề, ba cọc ba đồng, dân ngu khu đen, vv.
G. Thành ngữ trong đối thoại hàng ngày
Thử quan sát xem mỗi người trong chúng ta
dùng bao nhiêu thành ngữ khi nói chuyện với nhau trong một ngày.
Thông thường cứ mỗi hai câu nói thì câu thứ hai có chưa thành
ngữ.
Thử xem mẩu đối thoại dưới đây giữa hai người
bạn
Tạo: Nam, làm gì mà chạy đôn chạy đáo vậy?
Nam: Chạy cơm chạy gạo chứ làm gì.
Tạo: Thiệt không vậy ông?
Nam: Thiệt chớ! Thiệt chớ, mấy hôm nay chạy
vắt giò lên cổ để mượn tiền mà chưa được đây nè. Có tiền không
cho mượn một ít.
Tạo: Làm gì có mày, có cái mạng cùi đây muốn
mượn thì mượn.
Nam: ...
Theo quan sát của chúng tôi thì thói quen
dùng thành ngữ tìm ở dân tộc nào cùng có. Riêng người Việt chúng
ta dùng thành ngữ là điều tự nhiên và rất bình thường. Từ những
mẩu chuyện giữa những người trong gia đình cho đến các cuộc tiếp
xúc với nhau ngoài xã hội, đâu đâu và lúc nào cũng nghe người ta
dùng thành ngữ nói với nhau.
Xã hội càng phát triển việc dùng thành ngữ
càng phong phú. Những thành ngữ sau này (từ 1975 trở về sau
chúng tôi chưa thêm vào) như ăn qua loa, hàng kèm, vv. Ở Mỹ thì
có ăn cắp như Mễ, trễ như Việt Nam
H. Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Cần phân biệt rõ thành ngữ và tục ngữ. Trước
hết về hình thức đa số tục ngữ là một câu trọn vẹn, có vần điệu
riêng và là một trong nhiều thể loại của văn chương bình dân.
Tuy nhiên có một số trường hợp rất dễ lẫn lộn. Chẳng hạn như đa
mưu túc trí (thành ngữ gốc Hán) không thể cùng loại với thực túc
binh cường (một câu gốc Hán).
Hoặc hai đoản ngữ ăn quả nhớ kẻ trồng cây và
ăn cháo đái bát. Đoản ngữ đầu có thể đứng độc lập như thế này:
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Con phải biết nhớ ơn người đã giúp
mình thì phải đạo làm người.” Trong khi đó, “Cái thứ ăn cháo đái
bát đó thì có ngày trời đánh cho.”
Về ý nghĩa, tục ngữ mang tính cách phán đoán
và diễn đạt tâm lý, tục ngữ mang màu sắc xã hội có giai tầng và
khái niệm về chân lý cuộc sống. Tục ngữ thuộc dân gian nên có
gửi gấm tâm tình của đại chúng, kinh nghiệm nghề nghiệp, tập
quán địa phương.
Ngược lại, thành ngữ không có những tính chất
nầy.
PHẦN HAI
Vài Nét Về Ngôn Ngữ Việt Nam qua Thành Ngữ
Qua thành ngữ, chúng ta tìm thấy gì đặc biệt
trong ngôn ngữ Việt? Như đã đề cập trên đây, ngôn ngữ Việt Nam
phản ảnh nền văn hoá nông nghiệp nên đa số các từ-ngữ trong
thành ngữ Việt có rất nhiều những chữ như cá, cơm, bùn, hoa
trái, vv.
Đặc biệt nhất là tiếng Việt qua thành ngữ cho
thấy rõ nét tính chất lưỡng vần (di-syllabic) tổng hợp mà đa số
là hai chữ hay hai vần hoặc tứ vần (quaternary-syllabic). Sự
tổng hợp này có hai hình thức: bao quát với chi tiết và cụ thể
với trừu tượng.
1) Hình thức bao hàm + chi tiết: chữ đứng
trước bao hàm chữ đi sau, chữ đi trước quan trọng hơn chữ đi
sau. Đa số các chữ ghép đóng vai danh từ hay động từ có hình
thức này. Thí dụ: ăn uống, nhà cửa, bụng dạ, chợ búa, ngành
ngọn, người ta, vợ chồng, vv.
2) Hình thức cụ thể với trừu tượng. Hình thức
này tìm thấy phần lớn ở tính từ tiếng Việt. Chẳng hạn khi nói
đau khổ, cực khổ, hạnh phúc, vv. người ta hàm ý hai yếu tố: đau
chỉ về thể chất và khổ chỉ về tinh thần. Và đau chính là nguyên
nhân tạo ra khổ.
Vấn đề Dịch Thuật Thành Ngữ
Dịch thuật là một nghề và là một nghệ thuật.
Do đó, dịch thuật trong bất cứ thời nào cũng cần. Theo kinh
nghiệm bản thân, dịch thuật thành ngữ thường trải qua hai giai
đoạn - phân tích và chuyển hoán.
Giai đoạn phân tích (analysis) (hay giải
thích nguồn gốc, xuất xứ) buộc người dịch phải so sánh cấu trúc
hiện của hai ngôn ngữ (Việt Anh chẳng hạn) để xem câu tiếng Việt
có hàm ý quá khứ, hiện tai hay tương lai. Thí dụ: cơm bưng nước
rót) (source language) --> 'carry rice and serve water' (text)
dịch theo nghĩa đen để người mới học tiếng Việt hiểu cách nói
của người Việt mình như vậy. Kế đến xem xét thành phần cấu tạo
của thành ngữ (tức là từ loại của nó - động từ, danh từ, tính từ
hay trạng từ), xong mới so sánh ý nghĩa của hai thành ngữ. Đồng
thời bắt đầu lưu ý đến các nghĩa rộng của nó. Với cơm bưng nước
rót, người nói có ngụ ý gì? khách quan hay chủ quan khi dùng nó,
mỉa mai hay trách móc, phát biểu hay thông báo, vv. Nói tóm lại
nếu xét theo góc độ thực dụng (pragmatics), có vô số cách suy
diễn về nghĩa rộng của thành ngữ này.
Tiếp theo là giai đoạn chuyển hoán
(transfer). Theo chúng tôi giai đoạn này ít phức tạp vì đa số
ngôn ngữ khác nhau ở cấu trúc hiện nhưng phần lớn cấu trúc ẩn
rất giống nhau (Nida gọi là yếu tố tương đồng của các ngôn ngữ.
Ý kiến này của chúng tôi cũng phù hợp với Nida (the kernel
structures of different languages are surprisingly similar, so
that transfer may be affected with the least skewing of the
content (Nida: 86).
B. Phương cách thực dụng
Chúng tôi xin thêm vào khía cạnh văn hoá
trong giai đoạn này, tức là phải xét đến yếu tố tương đồng chung
cho cả hai ngôn ngữ, theo công thức:
|
ngôn ngữ gốc
(surface structure)
|
ngôn ngữ dịch
(surface structure)
|

Tuy Nida không phân định rõ kernel structure
nay thuộc về thực dụng (pragmatic), cú pháp (syntactic) hay ngữ
nghĩa (semantic), nhưng theo chúng tôi đây phải là cấu trúc ngữ
nghĩa -- semantic structure). Vì có cấu trúc này mới bước sang
giai đoạn ba - tức là phục chế (restructuring) được. Vậy thành
nghĩa cơm bưng nước rót mang ý nghĩa gì? Không ai phủ nhận được
cấu trúc ngữ nghĩa của nó là “hết mình phục vụ cho một người nào
qua hình ảnh một người hầu đi theo chủ để làm mọi việc chủ sai
khiến”.
Giai đoạn ba - restructuring - là chọn một ý
nghĩa tương đương nhất mà cấu trúc ngữ nghĩa bao phủ được trọn
vẹn được hết để có thể mang lại hình ảnh “hết mình phục vụ cho
một người nào như hình ảnh một người hầu đi theo chủ để làm mọi
việc chủ sai khiến” như vừa nêu trên đây. Rất may trong tiếng
Anh cũng có hình ảnh đó. Vậy chúng ta có thể dịch là to wait on
someone foot and hand (receptor language).
Nói một cách khác, chúng ta không dịch từng
chữ một trong thành ngữ mà phải nhìn nó như một đơn vị ý nghĩa
tương tự như những bó lúa được cột thật chặt để người nông dân
hân hoan gánh về nhà vậy.
Trong việc dịch thuật các thành ngữ tiếng
Việt sang tiếng Anh là chỉ có gần nửa thành ngữ tiếng Việt có
thành ngữ tương đương bên tiếng Anh. Phần còn lại là phải theo
lối “dịch” thật sự. Khi dịch như vậy chúng tôi gặp ba trở ngại.
a) Như trên đã đề cập, tiếng Việt phản ảnh
cuộc sống nông nghiệp trong khi tiếng Anh thì thiên về kỹ nghệ
nhiều hơn tuy rằng Anh quốc cũng từng trải qua thời kỳ phát
triển nông nghiệp.
Thí dụ:
an cư lạc nghiệp a good shelter flourishes one's
career
ba bò chín trâu a
farmer's richness
chín đụn mười
trâu the wealth of a farmer
một nắng hai sương
toil in the fields
b) Điểm nữa là thành ngữ tiếng Anh có tính
cách phân tích, trong khi thành ngữ tiếng Việt manh tính cách
tổng quát hơn.
Thí dụ: ăn đàng sóng nói đàng
gió have a forked tongue
ba đời bảy
kiếp forever, an extended family
cá nước chim
trời free like a bird
c) Điểm thứ ba là sự khác biệt về nhân sinh
quan của hai dân tộc: người Việt mình duy tình, còn người Anh
thuộc loại duy lý.
Thí dụ:
anh em
như thể tay chân love your siblings as you love
yourself
chị ngã
em nâng sisters and brothers in unity and
love
chết mẹ
còn dì a close relative can replace a
parent
con
mình con tiên, ... every mother thinks her
gosling a swan
Tổng kết
Thành ngữ tiếng Việt là một phần trong toàn
bộ cơ cấu ngôn ngữ của tiếng Việt. Nói về tính cách thông dụng
của nó trong sinh hoạt hằng ngày, thành ngữ chiếm một tỉ lệ khá
cao so với tục ngữ hay ca dao. Nó chỉ đứng sau những cách nói
đơn giản thông thường.
Thành ngữ tiếng Việt trong chừng mực nào đó
có thể giải thích vì nó phản ảnh lối suy nghĩ và nếp sinh hoạt
của người Việt, nhất là giới bình dân.
Mỹ từ pháp
A. Định nghĩa:
Mỹ từ pháp là một phương cách sử dụng từ-ngữ bóng bẩy, văn hoa
để làm cho lời nói hay câu văn thêm sinh động, nhẹ nhàng, tế nhị
hơn so với lời nói hay câu văn quá lộ liễu hay bình dân, không
che đậy.
B. Hình thức:
Các hình thức mỹ pháp được thấy dùng là:
1. Ẩn dụ (analogy): diễn tả bằng cách ví sự
việc hay sự vật với một sự việc hay sự vật khác.
nói líu lo, oanh vàng thỏ thẻ, mắt phượng
mày ngài, tôm tép, gió trăng
2. Biếm ngữ (satire): Ngôn ngữ châm biếm một
cách nhẹ nhàng:
Bao
giờ chạch đẻ ngọn đa,
Sáo
đẻ dưới nước thì ta lấy mình
(Ca
dao)
3. Điển tích (hay điển cố -- literary
allusion): Sự tích ngày xưa được sử dụng để nói được nhiều ý mà
không phải nhiều lời. Xem phần phụ lục để có thêm khái niệm về
các điển tích này.
Châu về Hiệp phố, cầu hoàng, Tần phi, chiếc
dao vàng, một đi không trở lại (tích Kinh Kha qua sông Dịch),
kết cỏ ngậm vành, kín cống cao tường
4. Điệp ngữ (duplicative): Sự nhắc đi nhắc
lại một chữ, một tiếng để tạo sự sinh động của sự việc, nhấn
mạnh đến hành động nhằm tạo sự chú ý của người đọc.
Ai
biết tình ai có đậm đà?
(Hàn
Mặc Tử, Ai Về thôn Vĩ Dạ)
Còn
non, còn nước, còn dài,
Còn
về, còn nhớ đến người hôm nay.
(Nguyễn
Du, Kim Vân Kiều câu 556, 557)
5. Điệp thanh (derivative): Một tiếng được
lặp lại hoặc hai tiếng gần tương đương đi với nhau thành cặp để
làm tăng thêm hay giảm bớt mức độ mà do các tiếng đó diễn tả nếu
chỉ đứng một mình.
Xanh xanh, đỏ đỏ, đo đỏ, se sẽ, chầm chậm,
thoang thoảng, thơm thơm
cay cay, chát chát, chua chua,
ngòn ngọt, lợ lợ (= lờ lợ),
6. Đảo ngữ (inversion): Việt ngữ là loại ngôn
ngữ thứ tự. Nghĩa là vị trí của từ-ngữ trong câu có thể làm cho
nghĩa của từ-ngữ đó hay câu đó thay đổi. Nay dùng hình thức thay
đổi thứ tự này để phần diễn tả trong bài thêm sống động. Trong
văn thường đàm, không nên lạm dụng hình thức đảo ngữ này.
Tấc
gang đồng tỏa nguyên phong,
Tịt
mù nào thấy bóng hồng nào ra.
(Nguyễn
Du, Kim Vân Kiều, câu 284, 285)
Hoặc:
Gác
mái ngư ông về viễn phố,
Gõ
sừng mục tử lại cô thôn.
(Bà
Huyện Thanh Quan, Trời Hôm Nhớ Nhà)
7. Hoán dụ (metonymy): Dùng hai danh từ có
liên hệ nhân quả, liên hệ nội dung với hình thức:
Thôi rồi một đóa trà mi, (Đóa trà mi chỉ một
thiếu nữ đẹp)
Con ong đã tỏ đường đi lối về. (Con ong để
chỉ người con trai; đã tỏ đường đi lối về chỉ sự việc chàng trai
đã chinh phục được người thiếu nữ kia)
8. Hội ý (implicature): Lối nói khiến người
nghe phải lấy ý mà hiểu.
Một
người dễ có mấy thân,
Hoa
xuân đương nhuỵ, ngày xuân còn dài
(Nguyễn
Du, Kim Vân Kiều câu 1038, 1039)
Ý muốn nói sính mạng con người rất quý giá.
Hơn nữa tuổi nàng con gaí còn đang xuân sắc, tương lai còn dài.)
9. Ngụ ngữ (allegory): Dùng một sự việc hay
sự vật để ám chỉ đến một ý khác nữa:
Con nhà lính tính nhà quan. (Ý nói nhà nghèo
mà ham cuộc sống xa hoa.)
Con ếch mà muốn làm con bò. (Ý nói sức vóc
yếu đuối, nhỏ thó mà muốn ngang hàng với người to lớn và khoẻ
mạnh.)
10. Nhân cách hóa (personification): Xem các
đồ vật, con vật như con người, biết diễn tả cảm tình, ý nghĩ:
Nhớ
nước đau lòng con quốc quốc.
Nước
còn cau mặt với tang thương.
(Bà
Huyện Thanh Quan)
11. Khiêm ngôn (euphemistic diminutive) Lối
nói mang tính cách khiêm nhường nhưng đầy lòng tự
cao
Anh
về chẻ lạt bó tro.
Vắt
sành ra mỡ em cho làm chồng.
Ca dao
12. Thậm ngôn (exaggeration) Cách nói quá
dáng về một sự việc không bao giờ xảy ra trong thực tế
Chìm
đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng
lơ trời nhạn ngẩn ngơ sa. (Có sách chép lửng da trời)
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây
Thi mất viá, Hằng Nga giật mình.
Cung
Oán Ngâm Khúc
13. Thành ngữ (idiomatic expression): Diễn tả
ý nghĩa bằng một lối riêng biệt:
tan theo mây khói.
(tan tành, không còn gì nữa, thất bại hoàn toàn.)
râu ông nọ cắm cằm bà
kia (sử dụng người, việc, vật không đúng chỗ.)
14. Tượng hình (pictographic): Diễn tả bằng
từ-ngữ tả hình dáng, màu sắc:
cheo leo; đen điu;
lốm đốm; lô nhô, khúc khuỷu; lẽo đẽo
15. Tượng thanh (onomatopoeia): Bắt chước
theo tiếng chim, thú, sự vật, hiện tượng mà diễn tả:
ầm ầm; chíp chíp; eng-éc; gâu
gâu; lộp độp; ò-ó-o-o-o-ò, meo meo, tích tắc, rào rào, rầm rầm,
...;
16. Ví von (simile): Lối so sánh việc này với
việc khác để làm tăng thêm ý nghĩa câu nói mà không phải trực
tiếp nói đến người nào hay việc gì. thương người như thể thương
thân; anh em như thể tay chân, như nước với lửa, như mặt trời
với mặt trăng, như chó với mèo, như người dưng nước lã, như
thùng không đáy, như nón không quai, như mèo vờn chuột, như
thúng lủng khu, như người chết rồi, như gái môt con, ...
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |