Tìm Hiểu Tiếng Việt

(tiếp theo kỳ trước)

Chữ với Nghĩa
 



Trần Ngọc Dụng

Giảng Viên Việt ngữ/UCR/CCC/SAC

E-Mail: tranngocdung@khoahoc.net

13 tháng 1 năm 2005

 

Dường như rất nhiều người cùng muốn nói một ý: „... Từ đó góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt...“ thế nhưng trong thực tế cũng có rất nhiều người khác, không hiểu vô tình hay cố ý, đang tìm cách đi ngược lại với ý tưởng tốt đẹp đó.

            Để giúp góp thêm tiếng nói vào với những vị muốn „giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt“ chúng tôi xin lần lượt đóng góp một số bài. Bài này nối tiếp với bài trước, Tìm Hiểu Tiếng Việt.

            Hôm nay chúng ta khảo sát về từ pháp, nghĩa là các chữ đơn, chữ ghép trong tiếng Việt và cách dùng của từ-ngữ này.

 

Cấu trúc từ-ngữ tiếng Việt

            Về cấu trúc của từ-ngữ tiếng Việt nói chung gồm có ba loại chính:

 

            1. Loại thứ nhất là từ đơn. Loại này thường chỉ những gì cụ thể hoặc cảm nhận dễ dàng: bàn, ghế, giường, tủ, nhà, cửa, ruộng, vường, ăn, uống, nghỉ, cười, nói, ma, chồng, vợ, người, sợ, đi, đứng, nằm, ngồi, khôn, dại, buồn, vui, thương, ghét, đẹp, xấu, dài, ngắn, nhanh, chậm, vv.

Bởi tính chất đơn âm này nên thường có thể đếm được:

Chúng tôi cần hai bàn cho hai mươi người.                               (danh từ đơn)

            Nhà ông ấy mới, cao, đẹp và rộng lắm.                                   (tính từ đơn)

            Đang tuổi lớn nên lúc nào nó cũng thích ăn.                  (động từ đơn)

Nhanh! Nhanh! Hết giờ rồi. Đi thôi!                                         (trạng từ đơn)

 

            2) Loại thứ hai là từ đôi (hai chữ đi với nhau thành cặp) như nằm ngồi, đi đứng, ăn ở, phải trái, gà qué, trâu bò, vườn tược, sung sướng, vv. 

            Loại này thường chỉ những gì vừa cụ thể vừa trừu tượng nhưng thườøng không dùng để đếm vì chúng mang tính chất tập hợp, tổng quát hoá:

            Con gái thì cách đi đứng, nằm ngồi phải ý tứ nghe không?

            Đi đứng, nằm ngồi là các từ-ngữ âm đôi nói lên hành vi sao cho thích hợp. Hoặc:

            Nhà cửa là vấn đề rất khó giải quyết hiện nay.

            Nhà cửa ở đây mang tính chất tổng quát, không thể đếm được .

            Những nhận định của anh ấy về tình hình hiện nay rất sâu sắc.

            Sâu sắc chỉ mức độ khó có người đạt đến, mang tính chất trừu tượng. Nếu muốn nói cụ thể thì nên dùng một chữ sâu.

            Nhìn xuống cái hố sâu, chị ấy quá sợ liền thấy chóng mặt.

            Trong nhiều trường hợp, từ-ngữ dùng cho những gì cụ thể có thể thay thế cho từ-ngữ chỉ tính chất trừu tượng, nên sâu có thể thay cho sâu sắc nhưng ngược lại sâu sắc không thể thay cho sâu:

            hít một hơi thật sâu, đào cái giếng thật sâu, nghiên cứu thật sâu, cái hang sâu

            Chứ không ai nói: hít một hơi thật sâu sắc. Nói như vậy là không đúng tiếng Việt. Tương tự như hai chữ deep 'sâu' và profound 'sâu sắc, sâu xa' của tiếng Anh vậy. Cách ứng dụng cũng như nhau.         

 

            3) Loại thứ ba là từ ghép bốn như ăn không ngồi rồi, đủng đa đủng đỉnh, con cà con kê, năm điều ba chuyện, con ông cháu cha, ăn nên làm ra, vv. mà chúng ta thường thấy trong đa số thành ngữ tiếng Việt. Đa số là tiếng điệp âm. Loại này có nhiều cách dùng:

 

            a- Cách dùng thứ nhất là diễn tả cảm tính của người nói, mang tính cách cường điệu:

                        Đồ đạc trong phòng nó vất tùm-lum-tà-la như cái thùng rác.

                        Ông ta say rượu thì bắt đầu nói tầm-bậy-tầm-bạ.

            Cũng có khi rất cách tượng thanh:

                        Nó làm gì trong đó mà nghe lục-cà-lục-cục cả giờ đồng hồ.

                        Hai đứa nó đánh nhau chí-choé-chí-choét suốt ngày.

            Hoặc tượng hình:

                        Bị vợ bỏ, nó chẳng thèm làm gì hết; suốt ngày chỉ vất-va-vất-vưởng ngoài đường.

Mới ngủ dậy, ông ta bước xuống giường chập-chà-chập-chững bước ngay

chỗ góc bàn tìm gói thuốc.

            Thậm chí còn diễn tả được nỗi giận dữ hay ghét bỏ:

                        Bà đó mà chị tôi cái gì.  Chị-bà-lị-xị chứ chị gì.

                        Ông đó mà thầy tôi hả? Thầy-bà-lây-xầy thì có.

 

            b) Cách dùng thứ nhì theo nghĩa bóng, qua các thành ngữ. Dường như loai này chịu ảnh hưởng của tiếng Hán khá nhiều. Hãy so sánh các thành ngữ tiếng Hán và Việt, chúng ta có thể hình dung ra mức độ ảnh hưởng của nó đến đâu:

 

Thành ngữ Việt                     Thành ngữ Hán                     nghĩa

 

ăn ốc nói mò                            hướng bích hư cấu                   nói dựng đứng, đặt điều nói dối

bá chủ một phương                  nhất phương chi chủ                 làm vua một cõi

cáo mượn oai hùm                   hổ giả hồ uy                             mượn uy kẻ khác mà doạ người

đục nước béo cò                      duật bạng tương tranh              lợi dụng thời cơ để thủ lợi

ếch ngồi đáy giếng                    tỉnh để chi oa                           kiến thức nông cạn, ít ỏi

há miệng chờ sung                    thủ chu đãi thố                         ngồi không mà muốn có ăn

một lòng một dạ                       nhất tâm nhất đức                    hết lòng chung thuỷ với ai

một phen sống (trống) mái        nhất quyết thư hùng                  quyết một mất một còn

nằm gai nếm mật                      ngoại tân thưởng đảm               chịu đựng mọi gian khổ           

nhập gia tuỳ tục                        nhập cảnh vấn cấm                  ở đâu theo phong tục đó

sáng nắng chiều mưa                triệu tam mộ tứ                        thay đổi thất thường

 

            Với cấu trúc từ-ngữ như vậy, việc sử dụng tiếng Việt khá khó đối với trẻ em Việt Nam hiện nay nếu không được các bậc phụ huynh khuyến khích và hỗ trợ.

 

Đặc tính từ-ngữ tiếng Việt

            Do hậu quả gần một ngàn hai trăm năm bị đô hộ tiếng Việt hiện nay có lượng từ-ngữ chịu ảnh hưởng tiếng Hán rất nặng nề. Một cách tổng quát tiếng Việt có bốn hình thức: Việt-Việt, Việt-Hán, Hán-Việt và Hán-Hán.

-         Loại Việt-Việt:  Tức là hai hoặc ba tiếng đi với nhau đều là tiếng Việt hết. Trong mục này chúng tôi chua thêm tiếng Hán trong ngoặc để tiện so sánh.

-          

Thí dụ:

anh em (huynh đệ)                    áo quần (y phục)                      bàn ghế  (trát kỷ)        

bánh trái (bính quả)                  buôn bán (thương mại) cha con (phụ tử)                     

chân tay (thủ túc)                     chợ búa (thị tứ)                        đất nước (t(h)ổ quốc)             

đồng bằng (bình nguyên)          gió bụi (phong trần)                  hôi thúi (xú uế)

ngàn dặm (thiên lý)                   mức lời (lãi suất)                      mày râu (tu mi)            

miệng lưỡi (khẩu thiệt)  mọi người (thiên hạ)                 nhà cửa (môn hộ)                   

non nước (sơn thuỷ)                 sông núi (giang sơn/san)           đầy đủ (sung túc)                    

trai gái (nam nữ)                       trẻ con (nhi đồng)                    vợ chồng (phu thê)      

           

            Các từ-ngữ Việt-Việt thông thường rất thân mật, bao hàm tính chất trừu tượng hay tập hợp hoá. Những đặc tính của từ-ngữ Việt-Việt:

            a) Tiếng đứng trước luôn luôn giữ vai trò chính và tiếng đứng sau hỗ trợ cho tiếng đứng trước để làm cho từ-ngữ được trọn nghĩa. Đa số danh từ tiếng Việt theo hình thức này.

            Thí dụ: nhà cửa, bàn ghế, vợ chồng, núi sông, chợ búa, vườn tược, anh em, dấu vết, hồn vía, đồng ruộng, cát bụi, họ tên, non ngàn, hồ ao,  vv...

            Trong các từ-ngữ trên đây cho thấy nhà bao hàm cả cửa. Với cấu trúc như vậy chúng ta mới có thể giải thích tại sao người Việt nói vợ chồng, chứ không nói chồng vợ. Đối với truyền thống người Việt Nam thì người vợ có quyền hơn người chồng. Nên nhớ người Âu châu lớn tiếng nói bênh vực phụ nữ nhưng họ nói husband and wife nhé. Và khi ngư ời đàn bà Âu châu lấy chồng thì chỉ còn cái tên thôi. Họ mới sẽ là họ bên chồng. Phụ nữ Việt được toàn quyền giữ nguyên tên họ sau khi lấy chồng. 

            Tuy nhiên nếu đứng riêng rẽ thì nhà hay cửa đều có thể là danh từ đếm được: một nhà, hai nhà; một cửa, hai cửa. Nhưng khi được ghép lại với nhau thì hai tiếng này biến thành từ tập hợp không dùng để đếm. So với tiêng Anh thì house và door > housing. House và door đếm được, nhưng housing không đếm được. Table và chair > furniture. Table và chair đếm được, nhưng furniture không đếm được.

            Vì tính chất trừu tượng như vậy nên phần lớn các từ-ngữ thuộc loại nêu trên không dùng để đếm. Vậy mà có nhiều người không ngần ngại nói rằng: Giá cả cái TV này rất nhẹ nhàng. Nên nói: Giá cả các loại hàng điện tử rất nhẹ nhàng có lẽ đúng hơn. Vì giá cả nói chung dùng với các loại hàng điện tử cũng nói chung, thì rất thích hợp.  

            Trong lịch sử cũng như trong văn học Việt Nam, vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh từng là nơi cống hiến cho đất nước những nhân tài và từ-ngữ địa phương của họ gắn liền với từ-ngữ dân gian. Những chữ thường thấy như chợ búa, heo cúi (heo quéo), gà qué, … rừng rú xuất hiện trong cách nói hàng ngày cũng như trong những tác phẩm. Chợ là nơi tụ tập buôn bán có quy củ; búa là nơi tụ họp kiểu “chồm hổm, chợ nhỏ” trên một bãi đất trống, chừng nửa buổi là tan. Không nên hiểu chữ búa là cái búa. Quý vị cũng tìm thấy rất nhiều chữ cụ Nguyễn Du dùng trong truyện Kiều mang mặng địa phương tính nhưng mọi người Việt đều biết hết.

Chẳng hạn chúng ta nghe nói đến rừng rú. Rừng là vùng đất có diện tích rộng lớn với nhiều cây cối, thú hoang, khoáng sản, gỗ quý, vv; rú là cái rừng nhỏ gần làng mạc, nơi dân chúng thường vào đó để kiếm củi, hái măng, … Rất mong quí vị nào ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh biết rành về những từ-ngữ này xin lên tiếng để chứng minh điều chúng tôi nói không sai. Hoặc có những điều sai sót nào, mong quí tự nhiên “sửa sai” cho chúng tôi nhờ. Xin đa tạ trước.

            Trở lại tính chất của từ-ngữ Việt-Việt, dấu vết (dấu ấn, dấu bưu điện, vết máu, vết chân thiếu nghĩa): Dấu có thể bao hàm cả vết nhưng vết không thể thay thế cho dấu. Dấu máu = vết máu; dấu bưu điện chứ không ai nói vết bưu điện. Sẽ nói thêm điểm này trong bài sự dung dị (collocation) của từ đồng nghĩa.

            Ngoại trừ với một số nhỏ động từ, tiếng quan trọng đứng sau, nhất là các từ-ngữ đi với chữ ăn: ăn chịu, ăn mặc, ăn ở, ăn nằm, ăn năn, ăn xài, ăn tiêu, vv.

            b) Hai tiếng có cùng nghĩa: chợ búa, dấu vết, mạnh mẽ, dơ bẩn, thương yêu, sách vở, bút viết, vv...  Trong mục này, chúng ta cần nhận ra một số từ-ngữ nói lên sự kết hợp rất hài hoà giữa hai miền, thể hiện tinh thần Nam-Bắc một nhà, chẳng hạn như:

 

            Nam    Bắc                  kết hợp            nghĩa áp dụng

            áo        xống (váy)        áo xống            đi đâu mà áo xống xênh xang vậy        

            bông    hoa                  bông hoa          trong vườn có nhiều bông hoa xinh đẹp

            chén     bát                   chén bát           một thau chén bát chưa rửa

            dơ        bẩn                  dơ bẩn             ăn ở dơ bẩn không ai chịu nổi (hoặc ăn dơ ở bẩn)

            đau      ốm                   đau ốm            ông ấy đau ốm hoài

            đường  phố                  đường phố       đường phố tấp nập người mua sắm

            ghe       thuyền              ghe thuyền        ghe thuyền ra vào bến tấp nập

            hoài      mãi                   hoài mãi           anh ấy cứ theo đuổi em hoài mãi

            kêu      gọi                   kêu gọi              kêu gọi sự cứu trợ nạn nhân sóng thần

            lau        chùi                  lau chùi ngày nào cũng phải lau chùi kẻo bụi bám

            lẹ         nhanh               nhanh lẹ           làm việc gì cũng nhanh lẹ

            lều        láng                  lều láng (hoặc láng lều) lều láng khang trang

            mương rãnh                 mương rãnh      hệ thống mương rãnh sụp lở khá nhiều

            tập       vở                    tập vở              tập vở học sinh quá đắt

            thương yêu                   thương yêu      anh em phải biết thương yêu nhau

            tiêu       xài                    tiêu xài            tiêu xài không phải cách

            tìm       kiếm                 tìm kiếm           tìm kiếm nạn nhân mất tích

            tôi        tớ                     tôi tớ                bây giờ mà vẫn có người làm tôi tớ cho kẻ khác

            viết       bút                   bút viết             học trò đi học mà bút viết chẳng có

 

            Xin quý vị độc giả tiếp tay với chúng tôi nối dài danh sách này dài mãi để nói lên tình tương thân Nam-Bắc lúc nào cũng lâu bền và thân thiết.

            c)  Hai tiếng trái nghĩa nhau: đen trắng, sống chết, lớn nhỏ, đó đây, xa gần, to nhỏ, hợp tan, tốt xấu, phải trái, mạnh yếu, hay dở, già trẻ, vv...

            Từ loại này rất khó dùng đối với trẻ em Việt Nam sinh tại hải ngoại vì chúng phải “read between the lines” nghĩa là hiểu nghĩa bóng của nó. Rất may là trong tiếng Anh cũng có một số trường hợp tương tự. Hãy áp dụng lối so sánh với tiếng Anh rồi sau đó mở rộng thêm ra. Hy vọng trẻ em sẽ nắm vững được.

            Tiếng Anh                  tiếng Việt       nghĩa Anh-Việt

            black-and-white           đen trắng          absolute/rõ ràng

            life-and-death               sống chết         crucially important/vô cùng quan trọng

            big-and-small               lớn nhỏ all sizes/đủ cỡ, đủ hạng

            here and here               đó đây             at various times/places/ chỗ này chỗ nọ

            come and go                hợp tan changes through time/vô thường

            good-and-bad              tốt xấu              aware of what is what/biết phân biệt 

 

Loại Việt-Hán

            Tức là tiếng đứng trước là Việt và được bổ nghĩa bởi tiếng đứng sau là Hán. Loại này được dùng làm danh từ ghép, động từ hoặc tính từ.

            Thí dụ: thờ phụng, dối trá, cửa hậu, nhà thương, chuột xạ, cửa khẩu, quê hương, rèn luyện, ngôi vị, kiện tụng, thơm phức, nghề nghiệp, khen thưởng, thấp cao, đánh bại, rung người kinh, động, chia ly, mùi vị, điên cuồng, trời hành, đất diệt, vv.

            Hình thức này bao gồm các từ ghép vừa đếm được, vừa không đếm được. Trong kho tàng từ-vựng của tiếng Việt có rất nhiều loại kết hợp này. Xét về từ-pháp, có ba tiểu loại:

            a) cùng từ loại:

            - danh từ + danh từ: cửa khẩu, quê hương, nghề nghiệp, mùi vị, gạo châu, củi quế, vv.

            - động từ + động từ: thờ phượng (phụng), đánh bại, rung động, chia ly, dối trá, kiện tụng,                                           rèn luyện,say mê, sợ hãi, vv.

            - tính từ + tính từ: thơm phức, thấp cao, điên cuồng, xấu xí, xanh biếc, béo phì, muôn vạn,                                          nghèo khổ, khô khan, vv.

            b) loại từ + danh từ: chuột xạ, cửa hậu, nhà thương, tàu hoả, đường thuỷ,  vv.

            c) khác từ loại:

                        - danh từ + động từ: trời hành, đất diệt, người khinh, kẻ trọng, thầy học, thầy giáo, vv.

                        - động từ + danh từ: nấu sử, sôi kinh, đánh trận, dẹp loạn, đá cầu, nổi danh, có tình, có lý, vv.

                        - danh từ + tính từ: lòng thành, trời cao, mắt biếc, lòng tham, vv.  

 

Loại Hán-Việt: Tức là tiếng Hán đứng trước và được tiếng Việt theo sau bổ nghĩa. Cũng như loại trên đây, từ-ngữ gồm chữ gốc Hán đi với chữ thuần Việt hoặc đã Việt hoá từ xưa thường có hai nghĩa hầu như giống nhau để làm tăng ý nghĩa và thích ứng với cấu trúc tiếng Việt.

Thí dụ: chi nhánh, chủ tớ, dân đen, giảm bớt, hoả lò, kỳ lạ, hung dữ, hiền lành, hùng mạnh, khi dễ, kính nể, linh thiêng, phân chia, phế bỏ, thoái khỏi, tội lỗi, băng giá, phòng ngừa, toàn vẹn, trợ giúp, học hỏi, thúc đẩy, tranh giành, tù đày, thấu suốt, kiểm soát, phân bua, trầm bỗng, đầu đuôi, xâm lấn, hiếu thảo, nghi ngờ, thâm sâu, vv..

            Về kết cấu loại này cũng có hai hình thức chính (Việt-Hán).

            a) cùng từ loại:

                        - danh từ + danh từ: chi nhánh, chủ tớ, hoả lò, tội lỗi, băng giá, đầu đuôi, dạ thú, lý lẽ, vụ mùa, thì giờ, vv.

                        - động từ + động từ: di dời, giảm bớt, khi dễ, phân chia, phế bỏ, thoái khỏi, phòng ngừa, trợ giúp, học hỏi, thúc đẩy, tranh giành, thấu suốt, kiểm soát, phân bua, xâm lấn, nghi ngờ, sinh sống, vv.

                        - tính từ + tính từ: hung dữ, hiền lành, hùng mạnh, linh thiêng, thâm sâu, nghiêm ngặt, kỳ lạ, khốn khó, kinh khiếp, dư thừa,

            b) khác từ loại:

                        - danh từ + động từ: tù đày, khách trú, vv.   

                        - động từ + danh từ: động lòng, nhả ngọc, phun châu, thề non, hẹn biển, vv.   

                        - danh từ + tính từ: xuân xanh, ơn sâu, nghĩa nặng, vv. 

           

Loại Hán-Hán: Tức là cả hai đều từ gốc Hán cả. Để làm rõ nghĩa, chúng tôi có phần chú thích bên cạnh mỗi từ-ngữ để độc giả tiện so sánh. Nên nhớ những chú thích này là nghĩa nguyên thuỷ chứ không phải nghĩa hiện đang dùng cho nên có một số từ-ngữ nghe hơi lạ tai. Thí dụ:

ái dục (thương muốn)   bạo lực (sức hung dữ)  bôn tẩu (phóng chạy)  chiến đấu (đánh nhau) gia đình (chung một nhà)            bình minh (sáng ở chân trời) cường điệu (nhấn mạnh) chuyên nghiệp (nghề riêng) dư luận (nhiều người bàn) đạo đức (nết tốt dẫn đường) giáo dục (nuôi dạy)           hạnh phúc (nhận lại quả lành) hủ hoá (sa ngã) nam phụ lão ấu (đàn ông/bà/già/trẻ) ngoại giao (tiếp ngoài) ngoại ngữ (tiếng nước ngoài)  phú quý (giàu sang)          quốc gia (nước nhà) tầm thường (thấp kém) tác giả (người tạo ra) thủ đoạn (xảo trá)      thiện ác (hiền dữ) thấu triệt (xuống tới đáy) tiêu diệt (làm tan biến) ưu tư (lo nghĩ)     văn chương (sáng và đẹp) yêu sách (điều đòi hỏi)

y giá phạn nan (giá áo túi cơm) mại quốc cầu vinh (bán nước cầu sướng thân) mễ châu tân quế (gạo ngọc củi quế) thệ hải minh sơn (thề non hẹn biển) thổ ngọc phún châu (nhả ngọc phun châu) cẩm y dạ hành (áo gấm đi đêm)

            Đặc biệt loại Hán-Hán này có những từ ngữ người mình tự đặt ra nên chỉ có người Việt mới có: thông cảm; kiêu hãnh, 

 

Từ gốc Hán và từ thuần Việt trong sinh hoạt hàng ngày

Qua các yếu tố nêu trên, dùng từ-ngữ gốc Hán có thể tạo nên hai hình thức diễn đạt: trang trọng với bình dân, bình dân với khinh miệt, và cụ thể hay trừu tượng.

            a) Trang trọng hay thân mật?

            Muốn diễn đạt theo lối trang trọng, người Việt dùng từ-ngữ gốc Hán. Chẳng hạn như: Trân trọng kính mời chư vị an toạ thay cho câu bình dân và thân mật hơn: Xin mời các cô các bác ngồi. Hoặc trong các ngày Tết chúng ta có thể chúc nhau:

            Trịnh trọng: Kính chúc chư vị năm mới an khang thịnh vượng.

Thân mật: Xin chúc các cô các bác năm mới được an vui, sức khoẻ dồi dào, làm ăn phát đạt. 

            Tuỳ theo trường hợp mà sử dụng cách nói này.

            Thêm nữa, nếu nói một vật vô giá thì có lẽ không tiền bạc nào mua được, nhưng đổi thành "không có giá trị" hay "không có giá" thì hoàn toàn không đúng với nghĩa trên.

Trong khi một công trình có thể vĩ đại hay to lớn được nhưng một con người vĩ đại khác hẳn với một con người to lớn. Cũng như khả năng là có thể, nhưng người Việt dùng hai từ-ngữ này với hai nghĩa khác nhau.

            Nói một cách tổng quát thì tiếng Việt mình thường dùng pha lẫn từ thuần Việt với từ gốc Hán để diễn đạt khái niệm trừu tượng lẫn cụ thể. Không nhất thiết loại từ-ngữ nào đóng vai trò nào. Nhưng nhìn chung thì tiếng thuần Việt thường bao quát hơn tiếng gốc Hán. Thêm một thí dụ chứng minh điều này: phân biệt múa và vũ. Múa bao hàm những động tác có qui tắc, bài bản lẫn những động tác bán ý thức: điệu múa dân gian (có ý thức); múa tay múa chân (bán ý thức). Có thể thay điệu múa bằng điệu vũ (hoặc vũ điệu) được, nhưng không thể nói vũ tay vũ chân. Thế nhưng không thể thay vũ nữ bằng múa nữ được. Vũ nữ bây giờ là danh từ chỉ về cái nghề không thể nói khác.

            Trong tiếng Anh cũng có hình thức này. Nếu muốn cho vẻ trang trọng, người ta dùng chữ chuyên môn, thân mật thì dùng chữ khác. Thay vì nói heart doctor, người ta dùng cardiologist. Nói theo cách thân mật thì bác sĩ mắt 'eye doctor' chứ trang trọng thì phải nói bác sĩ nhãn khoa 'ophthalmologist'. Bác sĩ mắt kính 'glass doctor' thì phải nói là bác sĩ mục khoa 'optometrist'. Nói tổng quát thì ai học luật, ra trường cũng được gọi là luật sư 'lawyer' cả chứ nói cho rõ ràng thì phải phân biệt attorney at law 'luật sự thụ uỷ tại toà', attorney-in-fact 'luật sư uỷ quyền đặc biệt và công chính' attorney general 'chưởng lý', attorney of record 'luật sư nhiệm cách' và district attorney 'biện lý (có quyền tài phán liên bang).

            b) Thân mật hay khinh miệt?

Ngược lại với cách áp dụng trên, lối nói dùng tiếng gốc Hán cũng để sự khinh miệt. Chẳng hạn, ai cũng biết tống là đưa, như tống cựu nghinh tân 'đưa năm cũ đi để đón năm mới đến'. Thế nhưng nếu nói: Tôi sẽ đưa anh ra cửa sẽ hoàn toàn khác với Tôi sẽ tống anh ra cửa.

Cửa sau là tiếng dịch từ hai chữ hậu môn nhưng nếu nói: “Nó đi vào bằng cửa sau hoặc cửa hậu” thì nghe không có gì đặc biệt, nhưng nếu nói “Nó đi vào bằng hậu môn” thì quả rất buồn cười (vì không ai dùng như vậy) mà còn nói lên sự khinh miệt rất nặng nề.

Chính chữ khinh với coi thường cũng phân biệt rõ ràng:

Nó khinh anh mà anh không biết à? Khác với câu:

Nó coi thường anh mà anh không biết à?

Lại không thể thay: Nó đang tìm chỗ đi tiểu bằng Nó đang tìm chỗ đi nhỏ.

Trong hai câu trên khinh nặng coi thường rất nhiều. Và nhỏ không thể thay cho tiểu được.

Trường hợp chữ chữ idiot tiếng Anh thì ngược lại. Bản thân nó từ mấy ngàn năm trước không mang ý xúc phạm như bây giờ. Lúc ấy idiot gốc tiếng Hy lạp, danh từ viết là idiotes (chữ o và e có gạch ngang trên đầu) 'his own man, a private person'và tính từ là idiotos (không có gạch ngang trên đầu) nghĩa là 'private' (riêng tư). Thế nhưng khi được chuyển qua tiếng La-tinh thì  nghĩa của nó trở thành “người có nghĩa là kiến thức tầm thường” và viết là idiota, tiếng Pháp viết là idioté. Sang thế kỷ 13, người Anh mượn chữ này, viết thành idiot với nghĩa là “người dốt nát, khờ khạo”. Nghĩa “riêng tư” mất hẳn. Ngày nay private và idiot không liên quan gì nhau, như chữ nhỏ và chữ tiểu trên đây.

          c) Cụ thể hay trừu tượng?

Người mình dùng tiếp xúc để nói lên sự liên lạc, giao thiệp, giao du, giao tình; tuỳ theo mức độ mới quen hay thân thiết. Trong việc kinh doanh, việc tiếp xúc với khách hàng là điều tối cần. Tuy nhiên tiếp xúc vẫn là một ý niệm trừu tượng về mối liên hệ giữa con người với nhau. Khác hẳn với cọ xát, một từ-ngữ hoàn toàn mang tính chất cụ thể, do hai vật thể sờ mó được va chạm vào nhau. Không ai nói: “Tôi cần cọ xát với anh đó để bàn việc này” trừ phi hai người muốn có con với nhau. Thậm chí có ý như vậy vẫn không ai nói cách đó. Vậy mà có người nói cọ xát với thực tế! Như vậy chẳng khác nào lấy cái thước mét mà đo không khí và nói “Cái không khí này dài ba mét!” Bởi thực tế là một khái niệm không sờ mó được. Quý vị nào có thể gom được một ít thực tế (hoặc thực tiễn) bỏ vào thùng gửi cho chúng tôi bằng bưu điện, chúng tôi xin vô cùng đa tạ.

Hai chữ máu và huyết.  Ai cũng biết ra máu là xuất huyết nhưng không ai nói sốt ra máu, mà nói sốt xuất huyết. Nếu chúng tôi không lầm thì nếu sốt cao quá thì có thể chảy máu cam. Còn sốt xuất huyết là một loại bệnh do muỗi đốt mà bị nhiễm, thường gây tử vong cho nhiều trẻ em. Trong giới giang hồ, khi có sự va chạm quyền lợi giữa các băng nhóm, họ thường xin tí huyết của nhau, chứ họ không xin nhau tí máu bao giờ. Vì xin tí huyết đồng nghĩa với lấy mạng.

            Hoặc: Đó là cái nghiệp của nó. Câu nói này hoàn toàn trái ngược với: Đó là cái nghề của nó. Mặc dầu chúng ta vẫn thường hai chữ nghề nghiệp đi với nhau. Các bà mẹ thường than thở khi thấy con gái mình khổ với chồng  rằng: “Thôi thì đó là cái nghiệp của nó phải chịu.” Chẳng ai nói “... đó là cái nghề của nó ...” bao giờ.

 

            Nhân tiện đây chúng tôi cũng nêu thêm việc chúng ta chúc nhau nhân ba ngày Tết. Người Tàu thường chúc nhau ngũ phúc lâm môn (năm điều phước đến nhà). Đó là phú, quý, thọ, khang, ninh (giàu, sang, sống lâu, sống khoẻ và sống an ổn).

            Họ rất có lý khi chúc như vậy. Trước hết là phải giàu. Một khi giàu có thì phải cho sang. Sang nghĩa là ngồi ghế xa-lông không nên „thượng“ cả hai chân lên theo kiểu bó gối khi nước lụt. Giàu rồi, sang rồi thì cần sống lâu mà tận hưởng. Sống lâu nhưng phải sống khoẻ mạnh mới hưởng hết của đời chứ đừng nằm dài trên giường bệnh ở nhà thương để nhờ máy thở giùm, tim máy chuyển máu giúp, vv. Sống khoẻ mạnh chưa đủ, cần phải sống an ổn; sao cho mỗi lúc đi chơi khỏi phải mang hết vàng bạc châu báu theo bên mình. Vẫn cất ở nhà mà trong lòng an vui, thơ thới vui chơi. 

            Thấy người mà nghĩ đến ta, người Việt mình cũng „Hán rộng“ nên chúc nhau bằng câu an, khang, thịnh vượng. Quý vị đọc câu chúc này rồi so với câu của người Tàu có thấy tủi thân không? Rất nên nghĩ ngợi. Bởi chúng ta bị giặc giã, cướp bóc, lũ lụt, ngoại xâm. Ôi thôi vô số chuyện bất trắc lúc nào cũng chực vồ lấy mạng sống, sự yên lành của bản thân, gia đình và làng xóm nên điều chúc ta chúc nhau đầu tiên là AN.

            Người Tàu dùng chữ NINH. Người mình dùng chữ AN. Thật ra ninh nghĩa là tĩnh. An ninh của người Tàu là yên tĩnh, tức không bị quấy phá. Còn chữ an của mình dùng là từ chữ an định có nghĩa ổn định. Ngày Tết chúng ta vẫn phải chúc nhau an trước. Kế đến là chúc khoẻ mạnh, tức khang. Lo chạy loạn, chạy giặc, tránh mưa tránh bão nên thường mệt bở hơi tai, bị đủ chứng bệnh bủa vây, đói ăn, ốm o gầy mòn, thì khang quả quá cần thiết. Thế nhưng, xin quý vị tha tội, chúng tôi thường thích bới lông tìm vết nên, chính chữ khang nguyên nghĩa của nó là “trấu” (như trong tào khang 'cám và trấu'): Hãy xem câu này của Mặc Tử viết: Khôi, khang, tỳ, bôi, mã thi, giai cẩn thu tàng chi. (tức là: tro bếp, trấu, lúa lép, phân bò phân ngựa đều phải gom lại cẩn thận mà cất.)

            Ngày nay khang nghĩa là còn sống và khoẻ mạnh (alive and healthy).

            Khi có được hai thứ căn bản an, khang rồi mới nghĩ đến thịnh vượng. Chẳng trách nước Việt Nam ngàn năm nay vẫn nghèo. Thật tội nghiệp!

            Nhân dịp đang năm mới 2005 và Tết sắp đến chúng ta cầu mong sao dân mình được sống trong yên vui hạnh phúc và chúc nhau: tươi vui, hạnh phúc, thịnh vượng.

            Bài sau chúng tôi xin nói rõ về sự dung dị (collocation) của từ đồng nghĩa.

 

Tran ngoc dung

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : E-Mail: tranngocdung@khoahoc.net

 

Trở về Trang Chính

 

 



 

© Copyright 2003 khoa học@đời sống
All rights reserved.