|
Dường
như rất nhiều người cùng muốn nói một ý: „... Từ đó góp phần giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt...“ thế nhưng trong thực tế
cũng có rất nhiều người khác, không hiểu vô tình hay cố ý, đang
tìm cách đi ngược lại với ý tưởng tốt đẹp đó.
Để giúp góp thêm tiếng nói vào với những vị muốn „giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt“ chúng tôi xin lần lượt đóng
góp một số bài. Bài này nối tiếp với bài trước, Tìm Hiểu Tiếng
Việt.
Hôm nay chúng ta khảo sát về từ pháp, nghĩa là các
chữ đơn, chữ ghép trong tiếng Việt và cách dùng của từ-ngữ này.
Cấu trúc từ-ngữ tiếng Việt
Về cấu trúc của từ-ngữ tiếng Việt nói chung gồm có
ba loại chính:
1. Loại thứ nhất là từ đơn. Loại này thường
chỉ những gì cụ thể hoặc cảm nhận dễ dàng: bàn, ghế, giường, tủ,
nhà, cửa, ruộng, vường, ăn, uống, nghỉ, cười, nói, ma, chồng, vợ,
người, sợ, đi, đứng, nằm, ngồi, khôn, dại, buồn, vui, thương,
ghét, đẹp, xấu, dài, ngắn, nhanh, chậm, vv.
Bởi
tính chất đơn âm này nên thường có thể đếm được:
Chúng tôi cần hai bàn cho
hai mươi người. (danh từ đơn)
Nhà ông ấy mới, cao, đẹp và rộng lắm.
(tính từ đơn)
Đang tuổi lớn nên lúc nào nó cũng thích ăn.
(động từ đơn)
Nhanh! Nhanh! Hết giờ rồi.
Đi thôi! (trạng từ đơn)
2) Loại thứ hai là từ đôi (hai chữ đi với
nhau thành cặp) như nằm ngồi, đi đứng, ăn ở, phải trái, gà qué,
trâu bò, vườn tược, sung sướng, vv.
Loại này thường chỉ những gì vừa cụ thể vừa trừu
tượng nhưng thườøng không dùng để đếm vì chúng mang tính chất
tập hợp, tổng quát hoá:
Con gái thì cách đi đứng, nằm ngồi phải ý tứ nghe
không?
Đi đứng, nằm ngồi là các từ-ngữ âm đôi nói lên hành
vi sao cho thích hợp. Hoặc:
Nhà cửa là vấn đề rất khó giải quyết hiện nay.
Nhà cửa ở đây mang tính chất tổng quát, không thể
đếm được .
Những nhận định của anh ấy về tình hình hiện nay rất
sâu sắc.
Sâu sắc chỉ mức độ khó có người đạt đến, mang tính
chất trừu tượng. Nếu muốn nói cụ thể thì nên dùng một chữ sâu.
Nhìn xuống cái hố sâu, chị ấy quá sợ liền thấy chóng
mặt.
Trong nhiều trường hợp, từ-ngữ dùng cho những gì cụ
thể có thể thay thế cho từ-ngữ chỉ tính chất trừu tượng, nên sâu
có thể thay cho sâu sắc nhưng ngược lại sâu sắc không thể thay
cho sâu:
hít một hơi thật sâu, đào cái giếng thật sâu, nghiên
cứu thật sâu, cái hang sâu
Chứ không ai nói: hít một hơi thật sâu sắc. Nói như
vậy là không đúng tiếng Việt. Tương tự như hai chữ deep 'sâu' và
profound 'sâu sắc, sâu xa' của tiếng Anh vậy. Cách ứng dụng cũng
như nhau.
3) Loại thứ ba là từ ghép bốn như ăn không
ngồi rồi, đủng đa đủng đỉnh, con cà con kê, năm điều ba chuyện,
con ông cháu cha, ăn nên làm ra, vv. mà chúng ta thường thấy
trong đa số thành ngữ tiếng Việt. Đa số là tiếng điệp âm. Loại
này có nhiều cách dùng:
a- Cách dùng thứ nhất là diễn tả cảm tính của
người nói, mang tính cách cường điệu:
Đồ đạc trong phòng nó vất tùm-lum-tà-la
như cái thùng rác.
Ông ta say rượu thì bắt đầu nói
tầm-bậy-tầm-bạ.
Cũng có khi rất cách tượng thanh:
Nó làm gì trong đó mà nghe
lục-cà-lục-cục cả giờ đồng hồ.
Hai đứa nó đánh nhau chí-choé-chí-choét
suốt ngày.
Hoặc tượng hình:
Bị vợ bỏ, nó chẳng thèm làm gì hết; suốt
ngày chỉ vất-va-vất-vưởng ngoài đường.
Mới ngủ dậy, ông ta bước
xuống giường chập-chà-chập-chững bước ngay
chỗ góc bàn tìm gói thuốc.
Thậm chí còn diễn tả được nỗi giận dữ hay ghét bỏ:
Bà đó mà chị tôi cái gì. Chị-bà-lị-xị
chứ chị gì.
Ông đó mà thầy tôi hả? Thầy-bà-lây-xầy
thì có.
b) Cách dùng thứ nhì theo nghĩa bóng, qua các
thành ngữ. Dường như loai này chịu ảnh hưởng của tiếng Hán
khá nhiều. Hãy so sánh các thành ngữ tiếng Hán và Việt, chúng ta
có thể hình dung ra mức độ ảnh hưởng của nó đến đâu:
Thành ngữ Việt Thành ngữ Hán
nghĩa
ăn ốc
nói mò hướng bích hư cấu
nói dựng đứng, đặt điều nói dối
bá
chủ một phương nhất phương chi chủ
làm vua một cõi
cáo
mượn oai hùm hổ giả hồ uy
mượn uy kẻ khác mà doạ người
đục
nước béo cò duật bạng tương tranh
lợi dụng thời cơ để thủ lợi
ếch
ngồi đáy giếng tỉnh để chi oa
kiến thức nông cạn, ít ỏi
há
miệng chờ sung thủ chu đãi thố
ngồi không mà muốn có ăn
một
lòng một dạ nhất tâm nhất đức
hết lòng chung thuỷ với ai
một
phen sống (trống) mái nhất quyết thư hùng
quyết một mất một còn
nằm
gai nếm mật ngoại tân thưởng đảm
chịu đựng mọi gian khổ
nhập
gia tuỳ tục nhập cảnh vấn cấm
ở đâu theo phong tục đó
sáng
nắng chiều mưa triệu tam mộ tứ
thay đổi thất thường
Với cấu trúc từ-ngữ như vậy, việc sử dụng tiếng Việt
khá khó đối với trẻ em Việt Nam hiện nay nếu không được các bậc
phụ huynh khuyến khích và hỗ trợ.
Đặc tính từ-ngữ tiếng Việt
Do hậu quả gần một ngàn hai trăm năm bị đô hộ tiếng
Việt hiện nay có lượng từ-ngữ chịu ảnh hưởng tiếng Hán rất nặng
nề. Một cách tổng quát tiếng Việt có bốn hình thức: Việt-Việt,
Việt-Hán, Hán-Việt và Hán-Hán.
-
Loại
Việt-Việt: Tức là hai hoặc ba tiếng đi với nhau đều là
tiếng Việt hết. Trong mục này chúng tôi chua thêm tiếng Hán
trong ngoặc để tiện so sánh.
-
Thí
dụ:
anh
em (huynh đệ) áo quần (y phục)
bàn ghế (trát kỷ)
bánh
trái (bính quả) buôn bán (thương mại) cha con (phụ
tử)
chân
tay (thủ túc) chợ búa (thị tứ)
đất nước (t(h)ổ quốc)
đồng
bằng (bình nguyên) gió bụi (phong trần)
hôi thúi (xú uế)
ngàn
dặm (thiên lý) mức lời (lãi suất)
mày râu (tu mi)
miệng
lưỡi (khẩu thiệt) mọi người (thiên hạ) nhà cửa
(môn hộ)
non
nước (sơn thuỷ) sông núi (giang sơn/san)
đầy đủ (sung túc)
trai
gái (nam nữ) trẻ con (nhi đồng)
vợ chồng (phu thê)
Các từ-ngữ Việt-Việt thông thường rất thân mật, bao
hàm tính chất trừu tượng hay tập hợp hoá. Những đặc tính của
từ-ngữ Việt-Việt:
a) Tiếng đứng trước luôn luôn giữ vai trò chính
và tiếng đứng sau hỗ trợ cho tiếng đứng trước để làm cho
từ-ngữ được trọn nghĩa. Đa số danh từ tiếng Việt theo hình thức
này.
Thí dụ: nhà cửa, bàn ghế, vợ chồng, núi sông, chợ
búa, vườn tược, anh em, dấu vết, hồn vía, đồng ruộng, cát bụi,
họ tên, non ngàn, hồ ao, vv...
Trong các từ-ngữ trên đây cho thấy nhà bao hàm cả
cửa. Với cấu trúc như vậy chúng ta mới có thể giải thích tại sao
người Việt nói vợ chồng, chứ không nói chồng vợ. Đối với truyền
thống người Việt Nam thì người vợ có quyền hơn người chồng. Nên
nhớ người Âu châu lớn tiếng nói bênh vực phụ nữ nhưng họ nói
husband and wife nhé. Và khi ngư ời đàn bà Âu châu lấy chồng thì
chỉ còn cái tên thôi. Họ mới sẽ là họ bên chồng. Phụ nữ Việt
được toàn quyền giữ nguyên tên họ sau khi lấy chồng.
Tuy nhiên nếu đứng riêng rẽ thì nhà hay cửa đều có
thể là danh từ đếm được: một nhà, hai nhà; một cửa, hai cửa.
Nhưng khi được ghép lại với nhau thì hai tiếng này biến thành từ
tập hợp không dùng để đếm. So với tiêng Anh thì house và door >
housing. House và door đếm được, nhưng housing không đếm được.
Table và chair > furniture. Table và chair
đếm được, nhưng furniture không đếm được.
Vì tính chất trừu tượng như vậy
nên phần lớn các từ-ngữ thuộc loại nêu trên không dùng để đếm.
Vậy mà có nhiều người không ngần ngại nói rằng: Giá cả cái TV
này rất nhẹ nhàng. Nên nói: Giá cả các loại hàng điện tử rất nhẹ
nhàng có lẽ đúng hơn. Vì giá cả nói chung dùng với các loại hàng
điện tử cũng nói chung, thì rất thích hợp.
Trong lịch sử cũng như trong văn
học Việt Nam, vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh từng là nơi cống hiến cho
đất nước những nhân tài và từ-ngữ địa phương của họ gắn liền với
từ-ngữ dân gian. Những chữ thường thấy như chợ búa, heo cúi (heo
quéo), gà qué, … rừng rú xuất hiện trong cách nói hàng ngày cũng
như trong những tác phẩm. Chợ là nơi tụ tập buôn bán có quy củ;
búa là nơi tụ họp kiểu “chồm hổm, chợ nhỏ” trên một bãi đất
trống, chừng nửa buổi là tan. Không nên hiểu chữ búa là cái búa.
Quý vị cũng tìm thấy rất nhiều chữ cụ Nguyễn Du dùng trong
truyện Kiều mang mặng địa phương tính nhưng mọi người Việt đều
biết hết.
Chẳng hạn chúng ta nghe nói đến rừng rú. Rừng
là vùng đất có diện tích rộng lớn với nhiều cây cối, thú hoang,
khoáng sản, gỗ quý, vv; rú là cái rừng nhỏ gần làng mạc, nơi dân
chúng thường vào đó để kiếm củi, hái măng, … Rất mong quí vị nào
ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh biết rành về những từ-ngữ này xin lên
tiếng để chứng minh điều chúng tôi nói không sai. Hoặc có những
điều sai sót nào, mong quí tự nhiên “sửa sai” cho chúng tôi nhờ.
Xin đa tạ trước.
Trở lại tính chất của từ-ngữ
Việt-Việt, dấu vết (dấu ấn, dấu bưu điện, vết máu, vết chân
thiếu nghĩa): Dấu có thể bao hàm cả vết nhưng vết không thể thay
thế cho dấu. Dấu máu = vết máu; dấu bưu điện chứ không ai nói
vết bưu điện. Sẽ nói thêm điểm này trong bài sự dung dị
(collocation) của từ đồng nghĩa.
Ngoại trừ với một số nhỏ động từ,
tiếng quan trọng đứng sau, nhất là các từ-ngữ đi với chữ ăn: ăn
chịu, ăn mặc, ăn ở, ăn nằm, ăn năn, ăn xài, ăn tiêu, vv.
b) Hai tiếng có cùng nghĩa:
chợ búa, dấu vết, mạnh mẽ, dơ bẩn, thương yêu, sách vở, bút
viết, vv... Trong mục này, chúng ta cần nhận ra một số từ-ngữ
nói lên sự kết hợp rất hài hoà giữa hai miền, thể hiện tinh thần
Nam-Bắc một nhà, chẳng hạn như:
Nam Bắc
kết hợp nghĩa áp dụng
áo xống (váy) áo
xống đi đâu mà áo xống xênh xang vậy
bông hoa bông
hoa trong vườn có nhiều bông hoa xinh đẹp
chén bát
chén bát một thau chén bát chưa rửa
dơ bẩn dơ
bẩn ăn ở dơ bẩn không ai chịu nổi (hoặc ăn dơ ở bẩn)
đau ốm đau
ốm
ông ấy đau ốm hoài
đường phố đường
phố đường phố tấp nập người mua sắm
ghe thuyền ghe
thuyền ghe thuyền ra vào bến tấp nập
hoài mãi
hoài mãi anh ấy cứ theo đuổi em hoài mãi
kêu gọi
kêu gọi
kêu gọi sự cứu trợ nạn nhân sóng thần
lau chùi
lau chùi ngày nào cũng phải lau chùi kẻo bụi bám
lẹ nhanh
nhanh lẹ làm việc gì cũng nhanh lẹ
lều láng
lều láng (hoặc láng lều) lều láng khang trang
mương rãnh mương
rãnh hệ thống mương rãnh sụp lở khá nhiều
tập vở
tập vở tập vở học sinh quá đắt
thương yêu
thương yêu anh em phải biết thương yêu nhau
tiêu xài
tiêu xài
tiêu xài không phải cách
tìm kiếm
tìm kiếm tìm kiếm nạn nhân mất tích
tôi tớ
tôi tớ bây giờ mà vẫn có người làm tôi tớ cho kẻ
khác
viết bút
bút viết học trò đi học mà bút viết chẳng có
Xin quý vị độc giả tiếp tay với
chúng tôi nối dài danh sách này dài mãi để nói lên tình tương
thân Nam-Bắc lúc nào cũng lâu bền và thân thiết.
c) Hai tiếng trái nghĩa nhau:
đen trắng, sống chết, lớn nhỏ, đó đây, xa gần, to nhỏ, hợp
tan, tốt xấu, phải trái, mạnh yếu, hay dở, già trẻ, vv...
Từ loại này rất khó dùng đối với
trẻ em Việt Nam sinh tại hải ngoại vì chúng phải “read between
the lines” nghĩa là hiểu nghĩa bóng của nó. Rất may là trong
tiếng Anh cũng có một số trường hợp tương tự. Hãy áp dụng lối so
sánh với tiếng Anh rồi sau đó mở rộng thêm ra. Hy vọng trẻ em sẽ
nắm vững được.
Tiếng Anh tiếng
Việt nghĩa Anh-Việt
black-and-white đen
trắng absolute/rõ ràng
life-and-death sống
chết crucially important/vô cùng quan trọng
big-and-small lớn
nhỏ all sizes/đủ cỡ, đủ hạng
here and here đó
đây at various times/places/ chỗ này chỗ nọ
come and go hợp
tan changes through time/vô thường
good-and-bad tốt xấu
aware of what is what/biết phân biệt
Loại Việt-Hán
Tức là tiếng đứng trước là Việt
và được bổ nghĩa bởi tiếng đứng sau là Hán. Loại này được dùng
làm danh từ ghép, động từ hoặc tính từ.
Thí dụ: thờ phụng, dối trá, cửa
hậu, nhà thương, chuột xạ, cửa khẩu, quê hương, rèn luyện, ngôi
vị, kiện tụng, thơm phức, nghề nghiệp, khen thưởng, thấp cao,
đánh bại, rung người kinh, động, chia ly, mùi vị, điên cuồng,
trời hành, đất diệt, vv.
Hình thức này bao gồm các từ ghép
vừa đếm được, vừa không đếm được. Trong kho tàng từ-vựng của
tiếng Việt có rất nhiều loại kết hợp này. Xét về từ-pháp, có ba
tiểu loại:
a) cùng từ loại:
- danh từ + danh từ: cửa khẩu,
quê hương, nghề nghiệp, mùi vị, gạo châu, củi quế, vv.
- động từ + động từ: thờ phượng (phụng),
đánh bại, rung động, chia ly, dối trá, kiện tụng,
rèn luyện,say mê, sợ
hãi, vv.
- tính từ + tính từ: thơm phức,
thấp cao, điên cuồng, xấu xí, xanh biếc, béo phì, muôn vạn,
nghèo khổ, khô khan, vv.
b) loại từ + danh từ:
chuột xạ, cửa hậu, nhà thương, tàu hoả, đường thuỷ, vv.
c) khác từ loại:
- danh từ + động từ:
trời hành, đất diệt, người khinh, kẻ trọng, thầy học, thầy giáo,
vv.
- động từ + danh từ:
nấu sử, sôi kinh, đánh trận, dẹp loạn, đá cầu, nổi danh, có tình,
có lý, vv.
- danh từ + tính từ:
lòng thành, trời cao, mắt biếc, lòng tham, vv.
Loại Hán-Việt: Tức là tiếng Hán đứng
trước và được tiếng Việt theo sau bổ nghĩa. Cũng như loại trên
đây, từ-ngữ gồm chữ gốc Hán đi với chữ thuần Việt hoặc đã Việt
hoá từ xưa thường có hai nghĩa hầu như giống nhau để làm tăng ý
nghĩa và thích ứng với cấu trúc tiếng Việt.
Thí dụ: chi nhánh, chủ tớ, dân đen, giảm bớt,
hoả lò, kỳ lạ, hung dữ, hiền lành, hùng mạnh, khi dễ, kính nể,
linh thiêng, phân chia, phế bỏ, thoái khỏi, tội lỗi, băng giá,
phòng ngừa, toàn vẹn, trợ giúp, học hỏi, thúc đẩy, tranh giành,
tù đày, thấu suốt, kiểm soát, phân bua, trầm bỗng, đầu đuôi, xâm
lấn, hiếu thảo, nghi ngờ, thâm sâu, vv..
Về kết cấu loại này cũng có hai
hình thức chính (Việt-Hán).
a) cùng từ loại:
- danh từ + danh từ:
chi nhánh, chủ tớ, hoả lò, tội lỗi, băng giá, đầu đuôi, dạ thú,
lý lẽ, vụ mùa, thì giờ, vv.
- động từ + động từ:
di dời, giảm bớt, khi dễ, phân chia, phế bỏ, thoái khỏi, phòng
ngừa, trợ giúp, học hỏi, thúc đẩy, tranh giành, thấu suốt, kiểm
soát, phân bua, xâm lấn, nghi ngờ, sinh sống, vv.
- tính từ + tính từ:
hung dữ, hiền lành, hùng mạnh, linh thiêng, thâm sâu, nghiêm
ngặt, kỳ lạ, khốn khó, kinh khiếp, dư thừa,
b) khác từ loại:
- danh từ + động từ:
tù đày, khách trú, vv.
- động từ + danh từ:
động lòng, nhả ngọc, phun châu, thề non, hẹn biển, vv.
- danh từ + tính từ:
xuân xanh, ơn sâu, nghĩa nặng, vv.
Loại Hán-Hán: Tức là cả hai đều từ gốc
Hán cả. Để làm rõ nghĩa, chúng tôi có phần chú thích bên cạnh
mỗi từ-ngữ để độc giả tiện so sánh. Nên nhớ những chú thích này
là nghĩa nguyên thuỷ chứ không phải nghĩa hiện đang dùng cho nên
có một số từ-ngữ nghe hơi lạ tai. Thí dụ:
ái dục (thương muốn) bạo lực (sức hung dữ)
bôn tẩu (phóng chạy) chiến đấu (đánh nhau) gia đình (chung một
nhà) bình minh (sáng ở chân trời) cường điệu (nhấn
mạnh) chuyên nghiệp (nghề riêng) dư luận (nhiều người bàn) đạo
đức (nết tốt dẫn đường) giáo dục (nuôi dạy) hạnh phúc
(nhận lại quả lành) hủ hoá (sa ngã) nam phụ lão ấu (đàn ông/bà/già/trẻ)
ngoại giao (tiếp ngoài) ngoại ngữ (tiếng nước ngoài) phú quý (giàu
sang) quốc gia (nước nhà) tầm thường (thấp kém) tác giả
(người tạo ra) thủ đoạn (xảo trá) thiện ác (hiền dữ) thấu
triệt (xuống tới đáy) tiêu diệt (làm tan biến) ưu tư (lo nghĩ)
văn chương (sáng và đẹp) yêu sách (điều đòi hỏi)
y giá phạn nan (giá áo túi cơm) mại quốc cầu
vinh (bán nước cầu sướng thân) mễ châu tân quế (gạo ngọc củi quế)
thệ hải minh sơn (thề non hẹn biển) thổ ngọc phún châu (nhả ngọc
phun châu) cẩm y dạ hành (áo gấm đi đêm)
Đặc biệt loại Hán-Hán này có
những từ ngữ người mình tự đặt ra nên chỉ có người Việt mới có:
thông cảm; kiêu hãnh,
Từ gốc Hán và từ thuần Việt trong sinh hoạt
hàng ngày
Qua các yếu tố nêu trên, dùng từ-ngữ gốc Hán
có thể tạo nên hai hình thức diễn đạt: trang trọng với bình dân,
bình dân với khinh miệt, và cụ thể hay trừu tượng.
a) Trang trọng hay thân mật?
Muốn diễn đạt theo lối trang
trọng, người Việt dùng từ-ngữ gốc Hán. Chẳng hạn như: Trân trọng
kính mời chư vị an toạ thay cho câu bình dân và thân mật hơn:
Xin mời các cô các bác ngồi. Hoặc trong các ngày Tết chúng ta có
thể chúc nhau:
Trịnh trọng: Kính chúc chư vị năm
mới an khang thịnh vượng.
Thân mật: Xin chúc các cô các bác năm mới
được an vui, sức khoẻ dồi dào, làm ăn phát đạt.
Tuỳ theo trường hợp mà sử dụng
cách nói này.
Thêm nữa, nếu nói một vật vô giá
thì có lẽ không tiền bạc nào mua được, nhưng đổi thành "không có
giá trị" hay "không có giá" thì hoàn toàn không đúng với nghĩa
trên.
Trong khi một công trình có thể vĩ đại hay to
lớn được nhưng một con người vĩ đại khác hẳn với một con người
to lớn. Cũng như khả năng là có thể, nhưng người Việt dùng hai
từ-ngữ này với hai nghĩa khác nhau.
Nói một cách tổng quát thì tiếng
Việt mình thường dùng pha lẫn từ thuần Việt với từ gốc Hán để
diễn đạt khái niệm trừu tượng lẫn cụ thể. Không nhất thiết loại
từ-ngữ nào đóng vai trò nào. Nhưng nhìn chung thì tiếng thuần
Việt thường bao quát hơn tiếng gốc Hán. Thêm một thí dụ chứng
minh điều này: phân biệt múa và vũ. Múa bao hàm những động tác
có qui tắc, bài bản lẫn những động tác bán ý thức: điệu múa dân
gian (có ý thức); múa tay múa chân (bán ý thức). Có thể thay
điệu múa bằng điệu vũ (hoặc vũ điệu) được, nhưng không thể nói
vũ tay vũ chân. Thế nhưng không thể thay vũ nữ bằng múa nữ được.
Vũ nữ bây giờ là danh từ chỉ về cái nghề không thể nói khác.
Trong tiếng Anh cũng có hình thức
này. Nếu muốn cho vẻ trang trọng, người ta dùng chữ chuyên môn,
thân mật thì dùng chữ khác. Thay vì nói heart doctor, người ta
dùng cardiologist. Nói theo cách thân mật thì bác sĩ mắt 'eye
doctor' chứ trang trọng thì phải nói bác sĩ nhãn khoa
'ophthalmologist'. Bác sĩ mắt kính 'glass doctor' thì phải nói
là bác sĩ mục khoa 'optometrist'. Nói tổng quát thì ai học luật,
ra trường cũng được gọi là luật sư 'lawyer' cả chứ nói cho rõ
ràng thì phải phân biệt attorney at law 'luật sự thụ uỷ tại toà',
attorney-in-fact 'luật sư uỷ quyền đặc biệt và công chính'
attorney general 'chưởng lý', attorney of record 'luật sư nhiệm
cách' và district attorney 'biện lý (có quyền tài phán liên
bang).
b) Thân mật hay khinh miệt?
Ngược lại với cách áp dụng trên, lối nói dùng
tiếng gốc Hán cũng để sự khinh miệt. Chẳng hạn, ai cũng biết
tống là đưa, như tống cựu nghinh tân 'đưa năm cũ đi để đón năm
mới đến'. Thế nhưng nếu nói: Tôi sẽ đưa anh ra cửa sẽ hoàn toàn
khác với Tôi sẽ tống anh ra cửa.
Cửa sau là tiếng dịch từ hai chữ hậu môn
nhưng nếu nói: “Nó đi vào bằng cửa sau hoặc cửa hậu” thì nghe
không có gì đặc biệt, nhưng nếu nói “Nó đi vào bằng hậu môn” thì
quả rất buồn cười (vì không ai dùng như vậy) mà còn nói lên sự
khinh miệt rất nặng nề.
Chính chữ khinh với coi thường cũng phân biệt
rõ ràng:
Nó khinh anh mà anh không biết à? Khác với
câu:
Nó coi thường anh mà anh không biết à?
Lại không thể thay: Nó đang tìm chỗ đi tiểu
bằng Nó đang tìm chỗ đi nhỏ.
Trong hai câu trên khinh nặng coi thường rất
nhiều. Và nhỏ không thể thay cho tiểu được.
Trường hợp chữ chữ idiot tiếng Anh thì ngược
lại. Bản thân nó từ mấy ngàn năm trước không mang ý xúc phạm như
bây giờ. Lúc ấy idiot gốc tiếng Hy lạp, danh từ viết là idiotes
(chữ o và e có gạch ngang trên đầu) 'his own man, a private
person'và tính từ là idiotos (không có gạch ngang trên đầu)
nghĩa là 'private' (riêng tư). Thế nhưng khi được chuyển qua
tiếng La-tinh thì nghĩa của nó trở thành “người có nghĩa là
kiến thức tầm thường” và viết là idiota, tiếng Pháp viết là
idioté. Sang thế kỷ 13, người Anh mượn chữ này, viết thành idiot
với nghĩa là “người dốt nát, khờ khạo”. Nghĩa “riêng tư” mất hẳn.
Ngày nay private và idiot không liên quan gì nhau, như chữ nhỏ
và chữ tiểu trên đây.
c) Cụ thể hay trừu tượng?
Người mình dùng tiếp xúc để nói lên sự liên
lạc, giao thiệp, giao du, giao tình; tuỳ theo mức độ mới quen
hay thân thiết. Trong việc kinh doanh, việc tiếp xúc với khách
hàng là điều tối cần. Tuy nhiên tiếp xúc vẫn là một ý niệm trừu
tượng về mối liên hệ giữa con người với nhau. Khác hẳn với cọ
xát, một từ-ngữ hoàn toàn mang tính chất cụ thể, do hai vật thể
sờ mó được va chạm vào nhau. Không ai nói: “Tôi cần cọ xát với
anh đó để bàn việc này” trừ phi hai người muốn có con với nhau.
Thậm chí có ý như vậy vẫn không ai nói cách đó. Vậy mà có người
nói cọ xát với thực tế! Như vậy chẳng khác nào lấy cái thước mét
mà đo không khí và nói “Cái không khí này dài ba mét!” Bởi thực
tế là một khái niệm không sờ mó được. Quý vị nào có thể gom được
một ít thực tế (hoặc thực tiễn) bỏ vào thùng gửi cho chúng tôi
bằng bưu điện, chúng tôi xin vô cùng đa tạ.
Hai chữ máu và huyết. Ai cũng biết ra máu là
xuất huyết nhưng không ai nói sốt ra máu, mà nói sốt xuất huyết.
Nếu chúng tôi không lầm thì nếu sốt cao quá thì có thể chảy máu
cam. Còn sốt xuất huyết là một loại bệnh do muỗi đốt mà bị nhiễm,
thường gây tử vong cho nhiều trẻ em. Trong giới giang hồ, khi có
sự va chạm quyền lợi giữa các băng nhóm, họ thường xin tí huyết
của nhau, chứ họ không xin nhau tí máu bao giờ. Vì xin tí huyết
đồng nghĩa với lấy mạng.
Hoặc: Đó là cái nghiệp của nó.
Câu nói này hoàn toàn trái ngược với: Đó là cái nghề của nó. Mặc
dầu chúng ta vẫn thường hai chữ nghề nghiệp đi với nhau. Các bà
mẹ thường than thở khi thấy con gái mình khổ với chồng rằng:
“Thôi thì đó là cái nghiệp của nó phải chịu.” Chẳng ai nói “...
đó là cái nghề của nó ...” bao giờ.
Nhân tiện đây chúng tôi
cũng nêu thêm việc chúng ta chúc nhau nhân ba ngày Tết. Người
Tàu thường chúc nhau ngũ phúc lâm môn (năm điều phước đến nhà).
Đó là phú, quý, thọ, khang, ninh (giàu, sang, sống lâu, sống
khoẻ và sống an ổn).
Họ rất có lý khi chúc như vậy. Trước hết là phải
giàu. Một khi giàu có thì phải cho sang. Sang nghĩa là ngồi ghế
xa-lông không nên „thượng“ cả hai chân lên theo kiểu bó gối khi
nước lụt. Giàu rồi, sang rồi thì cần sống lâu mà tận hưởng. Sống
lâu nhưng phải sống khoẻ mạnh mới hưởng hết của đời chứ đừng nằm
dài trên giường bệnh ở nhà thương để nhờ máy thở giùm, tim máy
chuyển máu giúp, vv. Sống khoẻ mạnh chưa đủ, cần phải sống an ổn;
sao cho mỗi lúc đi chơi khỏi phải mang hết vàng bạc châu báu
theo bên mình. Vẫn cất ở nhà mà trong lòng an vui, thơ thới vui
chơi.
Thấy người mà nghĩ đến ta, người Việt mình cũng „Hán
rộng“ nên chúc nhau bằng câu an, khang, thịnh vượng. Quý vị đọc
câu chúc này rồi so với câu của người Tàu có thấy tủi thân không?
Rất nên nghĩ ngợi. Bởi chúng ta bị giặc giã, cướp bóc, lũ lụt,
ngoại xâm. Ôi thôi vô số chuyện bất trắc lúc nào cũng chực vồ
lấy mạng sống, sự yên lành của bản thân, gia đình và làng xóm
nên điều chúc ta chúc nhau đầu tiên là AN.
Người Tàu dùng chữ NINH. Người
mình dùng chữ AN. Thật ra ninh nghĩa là tĩnh. An ninh của người
Tàu là yên tĩnh, tức không bị quấy phá. Còn chữ an của mình dùng
là từ chữ an định có nghĩa ổn định. Ngày Tết chúng ta vẫn phải
chúc nhau an trước. Kế đến là chúc khoẻ mạnh, tức khang. Lo chạy
loạn, chạy giặc, tránh mưa tránh bão nên thường mệt bở hơi tai,
bị đủ chứng bệnh bủa vây, đói ăn, ốm o gầy mòn, thì khang quả
quá cần thiết. Thế nhưng, xin quý vị tha tội, chúng tôi thường
thích bới lông tìm vết nên, chính chữ khang nguyên nghĩa của nó
là “trấu” (như trong tào khang 'cám và trấu'): Hãy xem câu này
của Mặc Tử viết: Khôi, khang, tỳ, bôi, mã thi, giai cẩn thu tàng
chi. (tức là: tro bếp, trấu, lúa lép, phân bò phân ngựa đều phải
gom lại cẩn thận mà cất.)
Ngày nay khang nghĩa là còn sống
và khoẻ mạnh (alive and healthy).
Khi có được hai thứ căn bản an,
khang rồi mới nghĩ đến thịnh vượng. Chẳng trách nước Việt Nam
ngàn năm nay vẫn nghèo. Thật tội nghiệp!
Nhân dịp đang năm mới 2005 và Tết
sắp đến chúng ta cầu mong sao dân mình được sống trong yên vui
hạnh phúc và chúc nhau: tươi vui, hạnh phúc, thịnh vượng.
Bài sau chúng tôi xin nói rõ về
sự dung dị (collocation) của từ đồng nghĩa.
Tran ngoc dung
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về :
E-Mail:
tranngocdung@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|