|
Ngày xưa, khi chưa có vấn đề hộ tịch bắt người ta
phải khai sinh cho con khi vừa mới sanh ra, việc đặt tên cho con
thường trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu là đặt tên tạm, như
Tèo, Tý, Nhớn, Bé. Cái tên này đi theo với thời gian cho đến
người con đó lớn khôn và có gia đình. Lúc bấy giờ cha mẹ hoặc
chính người đó mới nghĩ đến chuyện tìm một cái tên thật mà đặt
cho. Vì không bị giới hạn hay ràng buộc về mặt luật pháp bắt
phải có tên chính thức, một người có thể chọn cho mình bao nhiêu
tên cũng được. Sự tự do này kéo dài cho đến thế kỷ thứ mười tám,
khi vấn đề hộ tịch được thiết lập và quy định chặt chẽ về tên họ
của từng người. Ngoài tên chính thức ra, một người có thể có tên
tự, tên cúng cơm hoặc bút hiệu.
Tuy nhiên trong quá khứ việc đặt tên cho một đứa bé
không phải là dễ dàng. Cha mẹ đứa bé phải cẩn thận khi chọn tên
cho con làm sao để không bị trùng với tên của những người khác,
nhất là trong gia đình hoàng tộc, sau đó là bà con họ hàng trong
cả dòng họ. Vì tên của gia đình hoàng tộc, nhất là tên vua, và
của bà con là những thứ huý kỵ không được dùng đến để đặt tên
con.
Gọi trực tiếp tên người lớn tuổi cũng là điều cấm kỵ
đối với người Việt. Để tránh bị phiền trách, và bị bắt lỗi bởi
người lớn tuổi, cách tốt nhất là nên gọi tên con hay cháu của
người đó nhưng phải nhớ thêm danh vị tên người con hay người
cháu. Thí dụ: Ông cụ tên là Bách và con của ông ta là Trung.
Khách nên chào ông Bách bằng cách nói là Chào Ông Trung.
Truyền thuyết dân tộc Việt Nam kể rằng người Việt
Nam là con cháu của Bà Tiên tên là Âu Cơ, kết duyên cùng Rồng
tên là Lạc Long Quân. Bà Âu Cơ sanh ra một trăm con. Sau đó một
trăm người con này được chia ra làm hai: năm mươi người theo mẹ
lên núi và năm mươi người còn lại theo cha xuống đồng bằng làm
ăn sinh sống. Đó là từ một trăm người con đầu tiên của tổ tiên
con Rồng cháu Tiên, và người Việt gọi nhau là đồng bào. Vì lý do
này mà người Việt có khoảng hơn một trăm họ.
Về sau do có sự giao thương giữa các quốc gia khác
với Việt Nam, các họ của người Tàu, Miên, Lào, Chàm đến cư ngụ
tại Việt Nam cũng dần dần được Việt hoá. Do đó trong danh sách
các họ có thể thu thập được hiện nay là trên hai trăm. Khuynh
hướng này ngược lại với họ và tên người Mỹ nói riêng và người Âu
Châu nói chung. Các dân tộc Âu châu có rất nhiều họ, và hầu như
không thể thống kê hết, trong khi đó tên đặt thì ít hơn nhiều.
Ngày nay tên người Việt thường có ba phần: họ, chữ
lót và tên. Phần lớn, họ đứa bé mới sinh lấy theo họ cha. Chỉ có
ít trường hợp lấy họ mẹ. Đó là khi trong gia đình không có con
trai thì con trai của một trong nhiều người con gái của đại gia
đình đó sẽ được chọn ra và lấy họ mẹ để nối dõi tông đường. Hoặc
con không có cha có thể lấy họ
mẹ.
Khác với cách xưng hô của người Anh, người Việt khi
gọi người khác, luôn luôn dùng danh vị cùng với tên (chứ không
phải họ) người đó. Thí dụ: Nói Bà Ba thì Ba là tên và Bà là danh
vị. Hoặc Bác sĩ Minh, Minh là tên chứ không phải họ. Tương tự
như Chú Tom hay Chú Sam của tiếng Anh vậy.
Ngày nay cha mẹ đặt tên con là việc rất đáng chú ý.
Có rất nhiều nguyên tắc đặt tên cho con, nhưng thông thường nhất
có thể kể là 12 nguyên tắc như sau:
1) phản ảnh ước nguyện của cha mẹ 2)
kỷ niệm hay ký ức
3) điển hay tích trong văn chương/thi phú 4)
tên các loài hoa đẹp, trái cây
5) các đức tính cao quý
6) tên các con vật cao quý
7) tên các loài chim quý
8) học thuyết Khổng giáo
9) các đồ vật quý hay các loại ngọc quý 10)
các nhân vật trong truyền thuyết
11) tên bình dân
12) tên theo nghề nghiệp
Như vậy tức là khi sanh con, cha mẹ nguời Việt Nam đều
chọn cho con mình một cái tên mang ý nghĩa nào đó.
Riêng về cách đặt tên „bình dân“ thông thường như
tên Cứt, Đái, Cu, vv.. rất thông dụng tại các vùng thôn quê. Trẻ
em mang tên này có hai lý do chính: a) do tình trạng y tế còn
thiếu thốn nên khi sanh con ra ốm yếu và hay bệnh hoạn khó nuôi
và thường hay chết yểu. Do đó cha mẹ đứa bé không dám đặt tên
đẹp cho con vì sợ thần chết đến viếng và b) nhiều bậc cha mẹ
hiếm muộn muốn có con thường đến khấn vái tại các miếu, đền,
chùa để kiếm mụn con, gọi là „con cầu tự“.
Người Việt rất xem trọng giá trị gia đình. Vì vậy
tục ngữ Việt Nam mới có câu: Một người làm quan cả họ được nhờ.
(Lit.: One who becomes a mandarin brings in
great fortune to his extended family.) Hoặc: Một người làm xấu
cả họ mang dơ. (Lit.: One person's bad deed defames his whole
family.) Nói lên tình cảm gắn bó giữa cá nhân và gia đình mật
thiết và quan trọng đến mức nào. Nói cách khác cá nhân trong gia
đình không quan trọng bằng toàn thể đại gia đình của người đó.
Nhất nhất hành động hay cử chỉ nào cũng có thể gây tổn hại đến
thanh danh của đại gia đình.
Vì lý do này mà họ đứng trước
tên, rồi mới đến chữ lót và sau cùng mới là tên riêng của người
đó. Khi xét đến người nào người ta thường nhìn vào cả gia tộc
người đó. Trong các cuộc cãi vả, người ta cũng thường kêu réo cả
giòng họ người bị mắng chửi ra chứ không phải chỉ người đó mà
thôi. Chữ lót cũng quan trọng không kém. Nhiều gia đình danh giá
được mọi người ngưỡng một qua chữ kèm theo với cái họ. Chẳng hạn
như giòng họ Nguyễn Phước, Thân Trọng, Hồ Đắc, vv. là những
giòng họ nổi tiếng một thời.
Theo sử liệu thì trước khi nước
Việt bị người Hán đô hộ (từ năm 111 trước tây lịch đến năm 938
sau tây lịch), người Việt theo chế độ mẫu hệ chứ không phải theo
chế độ phụ hệ như ngày nay. Do đó tính cách độc lập của người
phụ nữ vẫn còn được nhìn thấy qua việc họ vẫn có quyền giữ tên
họ mình sau khi kết hôn với người khác
Một lần nữa, trong các cuộc tiếp
xúc hàng ngày giữa người Việt với nhau người nói thường phải gọi
người kia bằng tên và có danh vị kèm theo. Chẳng hạn như Bà Phan
hay Cô Mai chứ không gọi trổng là Phan hay Mai như người Mỹ.
Trong những cuộc tiếp tân long trọng hay thân mật người ta cũng
bắt chước theo lối nói của Tàu hay của Tây để gọi hai vợ chồng
bằng Ông Bà Nguyễn Văn X, tức là tên của người chồng.
Bảng kê dưới đây bao gồm tất cả
họ của người kinh, người thượng và những họ của người nước khác
đã được Việt hoá. Đa số các họ này đều có nghĩa tương đương
tiếng Anh. Ngoài ra để giúp quý vị nào muốn chọn cho mình cái
tên khác không phải tên Việt Nam, chúng tôi xin gửi tặng quý vị
một danh sách các tên gọi là “tên Mỹ” để tuỳ nghi quý vị lựa
chọn.
Chúng tôi tiếp tục cập nhật hoá
bảng kê này đến bao giờ đủ tất cả tên của mọi người trong đại
gia đình Việt Nam.
" " "
Vietnamese family names and common given
names.
In the remote past, when
registrar's office has not been introduced, naming a child
undergoes two stages. The first stage sees the name of a child
to be something temporary, just like a Joe, a Jack or a Jill of
the English. The child has this name until s/he grows up or
gets married. Until then the parents or that very person would
officially name her/him with a real name. Due to no restrictions
or legal obligations to maintaining one name or no prohibitions
of having several different names, one person could have as many
names as s/he wishes. This practice ceases when registrar's
office is well established and rules for ID registration
strictly enforced, beginning in the 18th century. However, a
person could adopt an alias, or a nickname as a pseudonym.
Naming a child in the past,
however, is not always an easy task. Parents of the new-born has
to be careful as to choose a name which has not been used by any
other person, especially by one of the members in the royal
family, exclusively, by the contemporary king. Names adopted by
these members become taboo and ordinary people are supposed to
avoid selecting them for their children's names.
Addressing an elderly person by directly calling her/his name is
also a taboo. In order to avoid “unrespectfully addressing” the
person's name, it is best to find out the name of the first
child in the family, and add a title to that name to address the
elderly. For example: The elderly person's name is Bách, and his
son's name is Trung.Visitors would find out the son's name and
address Trung's father by calling him Mr. Trung.
Legend has it that the Vietnamese
people are descendants of the Fairy named Âu Cơ, who married to
the Dragon named Lạc Long Quân. The mother gave birth to one
hundred children, who afterwards divided into two equal groups:
fifty children accompanying their mother to the mountainous
areas and the other half with their father to occupy the
lowland. For this reason, the Vietnamese have appro-ximately one
hundred last names. And for this reason, the Vietnamese call one
another “same womb” fellow countrymen.
During the course of history,
Vietnam, in contact with her neighboring countries, has adopted
some Chinese, Cambodian, Laotian, Champa last names, which
eventually become Vietnamized. The number of last names of the
Vietnamese, therefore, has come up to more than TWO hundred.
This trend is opposite to American last names in particular and
to European surnames in general, which are replete and almost
impossibly inventoriable.
A Vietnamese name usually has
three parts: family name, middle name and given name. Most of
the cases, a child's family name take after its father's. In
some cases, the mother's family name can be adopted. In a family
that has no sons or heirs, one of the daughter's sons would be
given his mother's family name. Or the child is fatherless.
Unlike English way of addressing
people, a title is attached to the Vietnamese given name of the
addressed, not to her/his family name. For instance: Mrs. Ba. Ba
is a given name. Dr. Minh. Minh a is given name. Just like Uncle
Tom or Uncle Sam in English.
Presently naming a child is an
interesting topic to the Vietnamese. Generally, of the many
trends in naming a new-born child, twelve categories are
significant:
1) reflection of wishes,
2) reminiscences or memories,
3) dedication to classical
literature/poetry, 4) names of flowers, fruits
5) much-prized quality,
6) noble animals,
7) beautiful birds,
8) Confucian doctrine appreciation
9) precious things or jewelry
10) mythical characters
11) vulgar terms 12)
terms of occupations
Thus, names in Vietnamese
definitely have meanings, and they must be meaningful to the
parents who name their new-borns.
About ugly names, using vulgar
terms like Cứt 'feces', Đái 'urine', Cu 'dick', and so on is
fairly common in the countryside. Children are named after these
terms because of a certain number of reasons, but two are
significant: a) due to lack of effective medicament the child is
so weak or so ill that, if s/he has a beautiful name, the death
will frequently visit her/him, or b) “infertile” parents wishing
to have children, would come to a temple or a pagoda to pray
deities that would bestow upon them a child, called con cầu tự
'deity-blessed child'.
Again, in daily conversation
Vietnamese speakers use a title with the first name of the
person to whom she or he is speaking. Mrs. Phan or Miss Mai, for
instance, are titles + given names. If they use the title + last
name of the addressed person - which is not common - they are
influenced by the Chinese or European culture. The etiquette of
Mr. and Mrs. + the husband's first name is also used in both
formal and informal occasions.
The Vietnamese highly appreciate
the family value. A Vietnamese proverb has it that Một người làm
quan cả họ được nhờ. (Lit.: One who becomes a mandarin brings in
great fortune to his extended family.) Another one says Một
người làm xấu cả họ mang dơ. (Lit.: One person's bad deed
defames his whole family.) These two proverbs prove how
important the relationship among members in an extended family
is. In other words, an individual always does her best to honor
her extended family and enhance its reputation the more the
possible. When viewing someone people do not only look at the
individual but the whole family behind him/her as well. In a
quarrel, an antagonist intends to name name some or all of
his/her opponent's family members.
For this reason, family name
always occurs first, then middle name and lastly, given name in
a Vietnamese name, regardless the gender. The middle name also
plays an important role in glorifying an individual's fame.
There used to be many famous families whose last names and
middle affirm their hi-born social status, like Nguyễn Phước,
Thân Trọng, Hồ Đắc, and so forth.
It is believed that the
Vietnamese enjoyed a matriarchal social organization in the
remote past - possibly prior to the Chinese domination (111BC to
938AD). Presently Vietnamese names are reckoned patriarchially.
The Vietnamese women, however, are legitimately entitled to
retain their maiden names after they get married.
The list below consists of last
names of the Vietnamese lowlanders, highlanders and of other
origins. Most of these names have English equivalents. I
A complete list of given names
(not shown in this book) will be updated periodically until
names of all members in the grand family of Vietnam are
included, and will be given to the reader upon request. Anyone
who wishes to have this list, please email the author.
LAST NAMES
Meaning
A Primary Letter
An Peace, Safety
Ân Gratefulness
Âu Singing Someone Praises
Ấu Caltrops
Bạc Silver
Bạch Serenity
Bàng Objectiveness (originally Lý)
Bảo Preciousness, Great Value
Bế Termination
Biện Reasoning
Bùi Crisp and Softness
Bửu Gems and Jade (variant of Bảo)
Ca Singing
Cái The Principal (Khmer original)
Cam Orange
Cao Highness
Cát Goodness
Cầm Musical Instrument (Lao original)
Cấn Eastern Direction
Châu Redness, Pearl
Chế Correction, Restore
Chiêm Consideration, Pensiveness
Chu (variant
of Châu)
Chung Commune
Chương Chapter, Charter
Chử River Shore
Cung Royal Palace
Cù Passage
Cự Resistance
Danh Name
Dềnh Bulky, Greatness (var. of Dềnh, Dình)
Dham Niê (Ê-đê ethnic)
Diệp Leaf of Gold
Doãn Autocrat (var. of Roãn)
Duôn Du Forgiveness (Ê-đê ethnic)
Dư Extra
Dương Yang, Positiveness
Đái Belt
Đàm Lotus Flower
Đào Peach
Đặng Ability of
Đậu Cavern
Đèo The Pass
Điêu Great Bird
Điểu Bird (Khmer orginal)
Đinh Youth
Đoàn Union
Đô Principal Citadel
Đồ Chart
Đỗ Success
Đồng Harmony
Đổng Pursuade, Encourage
Eban (Ê-đê ethnic)
Enoul (Ê-đê ethnic)
Giản Simple, Rustic
Giang River
Giao Correlation
Giáp Armor
Hà Main River
Hạ Leisure
Hàm Carry in a Bird's Bill
Hàn Healing
Hào Vigor (var. of Hầu, Sino-original)
H'mók (Ê-đê ethnic)
Hò (H'mong ethnic)
Hoa Flower
Hoài Reminiscence
Hoàng King of Yellow
Hồ Lake, Fox
Hồng Rose (Sino-original)
Hui Travel (Sino-original)
Huỳnh (variant of Hoàng)
Hứa Promise (Sino-original)
Kbuôr (Ê-đê ethnic)
Kha Illness (Sino-original)
Khiên Shield (Sino-original)
Khiếu Aptitude (Sino-original)
Khổng Greatness (Sino-original)
Khu Region (Sino-original)
Khuất Disappearance (Sino-original)
Khúc Interval, Segment
Khương Safe and Sound
(Sino-original)
Khưu Immortal (Sino-original)
Kiên Durables (Khmer original)
Kiều Bridge, Beauty
Kiểu Model, Method
Kim Metal (Khmer original)
Knui (M'nong ethnic)
Kpă (Ê-đê ethnic)
Ksor (Ê-đê ethnic)
Kỷ Chronological Annual
La Brocade, Gong
Lã Pure, Plain (of Water)
Lạc Bliss
Lai Heavenly Grass
Lại Otter
Lang Sweetheart (Champa original)
Lâm Forest
Lầu Pavillion
Lê Pear
Liên Lotus
Liêu Friend
Liễu Willow
Linh Sacred
Lò Furnace, Stove
Lô Core
Lù Drainage
Lư Grand Urn
Lữ Long Trip
Lương Kind-Heartedness
Lưu Crystal
Lý Peach
Ma Thorny Plant
Mã Appearance
Mạc Village
Mạch Manchuria (Sino-original)
Mai Apricot Flower
Man Tenderness
Thiên (Champa-original)
Mạnh Powerfulness
Miên Cotton Thread
Ngạc Great Fish
Ngân Silver, Echo (Thanh ethnic)
Nghê Lionlike Beast
Nghiêm Seriousness
Ngọ Noontime
Ngô Stercula
Ngũ Group of Five
Nguỵ Rebellion
Nguyễn Resources
Nhan Countenance
Nhân Benevolence
Nhữ Thou
Ninh Safety
Nông Aggie
Nùng (Laotian-original)
On No English equivalent
Ôn Moderate (Champa-original)
Ông Gentleman (Khmer-original)
Pản Fundamental
Phạm Realm
Phẩm Quality
Phan Ensign
Phí Expense
Phó Trust
Phú Wealth
Phù Emergence
Phùng Bloom, Expand
Quách Surrounding
Quan Ranking Official
Quản Management
Quảng Scholarliness
Sầm (Champa-original)
Sơn (Khmer original)
Sử (Sino-original)
Sỹ Able Man
Sương Morning Dew
Tạ Gratefulness
Tan Disperse
Tang Mulberry
Tăng Increase
Tân Modern
Tấn (Sino-original)
Thạch Stone (Khmer-original)
Thái Highest Degree
Thang Lukewarm
Thành Citadel
Thảo Generosity
Thẩm Depth
Thân Corpus
Thi Poetry
Thiều Ancient Music
Thông Cleverness (Champ-original)
Thục Kind-hearedness
Tiết Season
Tiêu Cumulus (of cloud)
Tô Restoration to Vigor
Tôn Adoration
Tống Escort (Sino-original--Song)
Trà Tea
Trang Ixora
Trần Worldly
Triệu Summon
Trình Presenting
Trịnh Northern Sky
Trưng Testimony
Trương Display
Từ Good at Heart
Tướng General (Champa-original)
Tường Good Omen
Tưởng Thought (Sino-original)
Ung Cancer (Astrology)
Uông (Sino-original)
Uyển Gracefulness
Ưng Eagle
Ứng Preparation
Văn Literature
Vậân Cloud
Vi Behavior
Viêm Thermal
Viên Garden
Võ (variant of Vũ)
Vũ Martial, Kung Fu
Vương Minor King
Woòng (one of the tribal clans in North
VN)
Yết Herald
B. Common given names:
A list given names is available
and will be provided upon request (free of charge)
Trở về Trang Chính
|