|
I. Ranh
giới của từ-ngữ
Chúng ta sống trong một thế giới đầy giới hạn. Ngay
cả khi học toán, người ta ai cũng học định đề Euclid về đường
thẳng, nhưng mấy ai đã nhìn thấy được một đường thẳng đúng nghĩa
của nó: không bề dày, không bề, mặt thẳng tắp đến vô tận. Thật
vậy, người ta chỉ nói lý thuyết cho vui chứ không hề có cái cái
đường thẳng đó bao giờ.
Nói một cách hồ đồ như chúng tôi thì có lẽ mọi ngành
khác cũng đều có cái giới hạn của nó. Giới hạn, giới hạn, giới
hạn! Áp dụng vào ngôn ngữ cũng vậy, chúng ta cần phân định giới
hạn của từ-ngữ để sử dụng cho đúng mức, chẳng khác nào người thợ
may phải biết kích thước của miếng vải để may chiếc áo cho đẹp.
Giới hạn trong ngôn ngữ là gì. Đó là phạm vi của
từ-ngữ. Trước tiên chúng tôi xin giới thiệu với quý vị sự chiết
từ (tiếng Anh gọi là compartmentalization) của từ ngữ. Chiết là
tách ra. Người mình thường nói chiết rượu từ hũ lớn ra các bình
nhỏ. (Đúng ra chiết là „cắt đứt“ theo nguyên nghĩa gốc Hán,
người mình chỉ sử dụng một phần trong nhiều nghĩa của nó như
chiết cành, chiết trung 'eclectic'.) Điều này cho thấy trong một
từ-ngữ có hàm chứa một khối nghĩa (a mass of meanings) và chúng
ta phải dùng bình nhỏ để chiết ra (compartmentalize). Chữ đi
theo sau nó chính là cái bình nhỏ vậy.
Chẳng hạn chữ wear trong tiếng Anh bao hàm đội,
mang, mặc, thắc, đeo, trông, . . .): wear + hat = đội nón; wear
+ clothes = mặc; wear + shoes = mang; wear + perfume = xức; wear
+ watch, necklace, ... = đeo/mang, wear + mood = trông, ... >
đội nón, mặc áo quần, mang giày, xức nước hoa, đeo đồng hồ, dây
chuyền, trông ủ rũ, ...
Tương tự như chữ ăn của tiếng Việt: ăn + thức ăn =
eat; ăn + axít = irritate/erode; ăn + rễ cây = spread/develop;
ăn + trò chơi = win; ăn + kinh doanh = succeed/fail; ăn + keo/hồ
= fasten/stick; ăn + fuel = consume; ăn + dịch vụ = charge; ăn +
hình phạt/tổn hại = be punished/hurt/ beaten, ăn + đòi tiền =
corrupt, ... > to eat food; to irritate the
skin, to erode the engine; to spread to the base of a house; to
win three games; to succeed/fail in business; glue does not
fasten well; to get low mileage; to charge too much; to get a
good beating; to receive bribery;
Nắm vững sự chiết từ để thấy tầm
quan trọng của nó khi dùng từ-ngữ sao thích hợp. Nếu có người
nói: Tôi lúc nào cũng chỉ thích đội quần jin mà thôi. 'I love to
wear jeans all the time.' Điều này cho thấy người nói phạm phải
hai lỗi lớn: một là đội không thể đi với quần, và hai, người này
chỉ dịch sai cái ý từ tiếng Anh chuyển sang tiếng Việt. Chúng ta
có thể kết luận người này mới học tiếng Việt hoặc quá bị ảnh
hưởng của tiếng Anh khi nói tiếng Việt. Cũng như không thể nói
câu tiếng Anh này: Battery acid can eat your skin easily. 'Axít
bình điện ăn da làm cho bạn ngứa.' Không thể dịch ăn da của
tiếng Việt bằng chữ eat your skin được! Phải đổi thành irritate
your skin.
II. Sự dung dị của từ-ngữ
Từ sự chiết từ, chúng tôi xin
giới thiệu tiếp đến là sự dung dị (dung: chứa; dị: sự khác biệt)
của từ-ngữ để tạo căn bản quy chiếu khi nói chuyện. Một từ-ngữ
khi đứng riêng thì dĩ nhiên chỉ có dung chứ không có dị. Cũng
như một con người ngồi một mình thì nội tâm của chứa chất đủ
thất tình hỷ nộ ai lạc ái ố dục (vui, giận, buồn, vui, thương,
ghét, muốn) đều như nhau. Để rồi khi gặp người hợp nhãn thì cái
ái nổi lên, khi gặp tình địch thì cái nộ thống lãnh tâm trí. Lúc
ưng ý thì hể hả với cái hỷ. Gặp chuyện không vui thì bi ai, vv..
Áp dụng vào ngôn ngữ cũng vậy. Cũng một chữ mà khi đi với chữ
này thì nghĩa này nhưng đi với chữ khác thì mang nghĩa khác.
Ngôn ngữ nào cũng có từ đồng
nghĩa, vì đó là một đặc điểm của ngôn ngữ. Trừ phi có sự cố tình
của tác giả, từ đồng nghĩa giúp người dùng không phải lặp lại
một từ-ngữõ nhiều lần trong cùng bài viết khiến người đọc có thể
hết hứng thú với bài viết. Ngoài ra từ đồng nghĩa còn giúp cho
gia tăng hay giảm bớt phạm vi ý nghĩa một cách có ý thức do
người nói hay viết chọn lựa.
Vì vậy khi sử dụng từ đồng nghĩa
cũng cần nắm vững nghĩa của nó và nên cẩn thận khi dùng. Dù muốn
dù không mỗi từ ngữ đều có phạm vi ngữ nghĩa của nó. Nói cách
khác, dù là đồng nghĩa, không có hai từ-ngữ nào hoàn toàn giống
nhau một trăm phần trăm về ngữ nghĩa cả trong mọi trường hợp.
Chúng tôi gọi đặc điểm đó là sự dung dị (collocation) của hai
từ-ngữ đồng nghĩa. Sự dung dị này có ba trường hợp:
a. hai
chữ cùng nghĩa hoàn toàn giống nhau và có thể thay thế cho nhau
được
b. hai chữ có nghĩa hoàn toàn
khác nhau, và
c. chỉ dùng được chữ này mà không
dùng được chữ kia, hoặc ngược lại.
Thông thường chúng ta xem chữ
ngoại và chữ ngoài là hai từ đồng nghĩa: ngoại quốc = nước
ngoài; ngoại nhân = người ngoài. Thế nhưng bên ngoại không thể
như bên ngoài được! Hãy so sánh hai câu: Con ra ngoại nghe mẹ.
và Con ra ngoài nghe mẹ. Chúng ta thấy ngay hai ý nghĩa và hành
động khác nhau một trời một vực. Như vậy chúng ta có thể nhìn
thấy rõ phạm vi của từ gốc Hán trong tiếng Việt.
Chữ sanh (sinh) và đẻ thường được
nghe rất nhiều trong những câu chuyện hàng ngày, vậy mà cách
dùng cũng hoàn toàn tuỳ thuộc vào ngữ cảnh:
Thôi đừng nói nữa kẻo sanh chuyện
lôi thôi. Chứ không ai nói: Thôi đừng nói nữa kẻo đẻ chuyện ...
Hoặc con gà mái đẻ chứ không hề nói con gà mái sanh. Trong khi
Chị ấy sanh/đẻ hai đứa con gái. Nhưng chị ấy đẻ sanh đôi. Và hai
đứa đó là anh em sanh đôi, không thể đẻ đôi. Thế nhưng khi định
sửa cái bếp, ai ngờ khi tháo ra thì lại đẻ ra nhiều thứ khác nữa.
Đó là những từ-ngữ có nghĩa đơn,
còn những chữ có tính cách chủng loại thì càng cần lưu ý hơn.
Chẳng hạn chữ tre trong tiếng Việt bao gồm ít nhất hơn 10 loại:
bương, vàu, mai, nứa, lồ ồ, lồng ngộc, la ngà, giang, hóp, trảy,
le, và trúc. Dĩ nhiên trúc cũng có rất nhiều loại: trúc đen,
trúc bụng phệ, trúc vàng rong khi người Tàu có trúc bao gồm: bạc,
hậu, ngọc, nhược, thực tâm, đại, từ, cương, và mao. Tất cả các
loại này đều dùng với chữ trúc: bạc trúc, hậu trúc, ... . Như
vậy thì trúc chỉ là một trong nhiều loại tre có tại Việt Nam
trong khi trúc đối người Tàu là toàn bộ tre của Việt Nam!
Tôi cần tìm mua mấy cây lồ-ồ về
làm giàn.
Sáo làm bằng trúc đen mới đẹp.
Trong tiếng Việt có vô số từ-ngữ sử dụng theo
kiểu này. Do đó, quý vị phụ huynh cũng cần nhắc nhở con cháu
mình khi dùng cũng cần phân biệt rõ. Từ đó chúng ta nên có một ý
niệm rõ ràng là chữ gốc Hán diễn tả một nghĩa và từ thuần Việt
diễn tả một nghĩa nào đó. Có một số trường hợp hai từ loại này
trùng nghĩa với nhau và phải biết đó là trường hợp nào. Chúng
tôi xin nêu thêm thí dụ để chứng minh điểm này. Xem hai chữ vĩ
đại và to lớn:
Giống nhau: vĩ đại = to lớn:
công trình vĩ đại = công trình to lớn (lớn lao)
Khác nhau: con người vĩ đại
(trừu tượng) ¹ con người to lớn (cụ thể)
Không thể nói: nhân vật to lớn;
càng không thể: sai lầm vĩ đại
Hình thức này thì ngôn ngữ nào
cũng có. Hãy so sánh một số từ đồng nghĩa tiếng Anh và cách dùng
của chúng xem có giống như của tiếng Việt không? Trước hết chữ
strong và powerful thường được xem là đồng nghĩa:
Giống nhau: a strong government
= a powerful government 'một chính phủ mạnh'
Khác nhau: a strong man 'người
có sức mạnh về thể chất' khác với
a powerful man 'người có thế lực'
Và chỉ nói strong coffee (cà-phê
đậm) chứ không bao giờ nói powerful coffee cả.
Như vậy có thể nói là strong chỉ
về vật chất cụ thể và powerful thiên về trừu tượng hơn.
Còn hai chữ quốc gia và nhà nước thì sao? Hai
chữ này không phải là ngoại lệ chứ? Xin quý vị tìm cách ứng dụng
một cách chính xác kẻo “hư cái tiếng Việt mến yêu của chúng ta”!
Sinh nhật vào ngày sinh giống nhau hay khác
nhau? Theo thiển ý chúng tôi, hai chữ này có nghĩa khác nhau và
cách dùng khác nhau.
Sinh nhật là ngày và tháng của
một người được dùng để kỷ niệm hàng năm. Câu hỏi để biết mà gửi
thiệp chúc mừng hoặc quà tặng là: Sinh nhật của anh/chị là ngày
nào? Còn ngày sinh là ngày tháng năm đánh dấu thời gian xuất
hiện của một người trên cõi đời: Ngày sinh của anh/chị là gì?
Hoặc Ngày sinh của anh/chị là ngày tháng năm nào? Như vậy về
nghĩa cũng rất rõ ràng về cách dùng cũng chuẩn xác. Tại sao phải
nói kỷ niệm ngày sinh? Muốn Việt hoá ư? Không được đâu. Ba chữ
kỷ niệm và sinh vẫn là từ gốc Hán kia mà!
III. Phạm vi nghĩa của từ-ngữ dựa trên căn
bản nào?
Nói như trên để đi đến một kết
luận rằng từ-ngữ nào cũng có một phạm vi toả rộng của nó. Tạm
hình dung phạm vi đó là một hình tròn có cái tâm gọi là từ chuẩn
(prototype) có nghĩa chuẩn (denotation). Từ tâm đó toả ra nhiều
tia nhỏ với những nghĩa phụ hay nghĩa liên hội (connotation).
Chẳng hạn có một màu đỏ chuẩn trong đầu mọi người để từ đó làm
căn bản qui chiếu ra những vật gì có màu sắc gần gốc với màu đỏ
chuẩn trong đầu để nói rằng vật đó có màu đỏ. Và đỏ như thế nào
thì còn tuỳ: đỏ au, đỏ hồng, đỏ ợt, đỏ hoét, đỏ như máu, đỏ tím,
đỏ bầm, đỏ tươi, đỏ nâu... Tiếng Anh cũng có một số màu đỏ như
'bright red, light crimson, scarlet, crimson, blood red,
magenta, mahogany, vv.
Có những từ-ngữ như: quan hệ,
liên hệ, liên lạc cũng cần nhắc đến. Từ xưa quan hệ vốn chỉ dùng
ở cấp quốc gia; nước A có quan hệ ngoại giao với nước B; nước A
nâng mức quan hệ ngoại giao lên hàng đại sứ, vv. Liên hệ chỉ sự
gắn bó về máu mủ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình.
Liên lạc nói lên sự tiếp xúc giữa các cá nhân với nhau trong
công việc hoặc giao tiếp. Giữa hai đôi nam nữ thì tuỳ mức độ mà
diễn tả: mới đầu thì có cảm tình với nhau; nếu thấm đậm thì yêu
nhau. Không có vấn đề quan hệ nam nữ mang tính chất hữu nghị,
hữu hảo gì.
Bây giờ thì chữ quan hệ được bao
cấp xuống đến từng cá nhân: quan hệ giữa anh A và chị B là tình
nhân. Trong khi liên hệ gia đình giữa người này và người nọ là
anh em chú bác hoặc gì đó cũng được gọi là quan hệ bà con giữa X
và Y. Cũng như chữ liên lạc đã bị xoá tên để thay thế bằng chữ
liên hệ: nếu muốn liên hệ xin gọi số điện thoại ... Ý nói muốn
làm bà con thì nên gọi điện thoại chăng?
Nói về ngày tháng thì người ta
thường lẫn lộn giữa bốn và tư. Ai cũng biết bốn là số đếm và tư
là số thứ tự. Không hiểu vì nguyên nhân gì mà nhiều người thích
nói hôm nay thứ tư, ngày hai mươi tư tháng tư, năm hai ngàn lẻ
tư. Thay vì nói thứ tư, ngày hai mươi bốn, tháng tư, năm hai
ngàn lẻ bốn. Chúng tôi đi làm nghề dạy tiếng Việt nên giải thích
làm sao với những sinh viên khi họ hỏi rằng: Vậy nên nói 2004 là
hai ngàn lẻ bốn hay hai ngàn lẻ tư? Câu trả lời là được? và xem
đó là trường hợp ngoại lệ? Ngày 24 là hai mươi bốn hay hai mươi
tư? Xin quý vị cao minh chỉ giáo.
Tiếng Việt có ba chữ để chỉ số 0:
không, lẻ, và linh. Trường hợp nào thì dùng không? Dùng lẻ? Và
dùng linh? Không đứng đầu bảng cho nhiều trường hợp có số không
(0). Điện thoại số (714) 309 3908) nói là ... ba không chín, ba
chín không tám. Chắc không ai nói “ba lẻ chín, ba chín lẻ tám
cả”. Lại càng không ai nói: “Ba linh chín, ba chín linh tám” hay
vẫn có người nói? Chữ lẻ dùng nhiều nhất trong việc nói số tiền
lẻ và tiền xu: một trăm lẻ năm đồng (105) hoặc một ngàn không
trăm lẻ sáu xu (1.000,06).
Rõ ràng không thể hoán đổi vị trí
của chúng, mặc dầu chúng cùng một nghĩa: một trăm không năm
đồng, hoặc một ngàn lẻ trăm không sáu xu.
Tiếp sau chữ lẻ, chữ linh được
xem là địa phương ngữ (của những người ở giáp ranh với Trung
Cộng (Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn) mà đem ra
dùng ngay cả trên đài phát thanh quốc tế! Vì chữ Tàu linh (lìng)
nghĩa là lẻ. Vậy sao không nói số 10100 là một linh một linh
linh cho vui tai luôn? Nếu chữ linh dùng có tính cách quốc tế
(internationally) như vậy thì nên dùng luôn cả ni, nớ, mô, tê,
ló (lúa), nát (nước) trong các bản tin phát thanh hàng ngay cho
tiện?
Hoặc tháng âm lịch thì có tháng
giêng bắt đầu của năm và kết thúc bằng tháng chạp. Không ai nói
tháng 1 và tháng 12 cả. Vì tháng giêng nghĩa là chính báo hiệu
một năm thành bại trong năm, tháng ăn chơi. Vì lý do này nên
ngày Tết người mình thường kiêng cử nhiều thứ. Người Tàu gọi
tháng này là nguyên nguyệt. Còn tháng cuối tức tháng chạp. Chữ
chạp tức là chạp mả, một bằng chứng hùng hồn cho thấy người Việt
Nam thường sống với quá khứ. Người Việt không làm sinh nhật cho
người sống mà chú trọng đến ngày giỗ người thân đã mất. Trước
khi ăn Tết, gia đình nào cũng lo cho mồ mả ông bà tươm tất, tức
là chạp mả, trước khi chuẩn bị ăn Tết. Đặc biệt hơn nữa là tháng
một của lịch ta tức là tháng mười một, như trong Tháng một,
tháng cháp nên công hoàn toàn (ca dao). Do vậy mà tháng cuối năm
gọi như vậy. Chỉ có năm dương lịch mới có tháng 1 và tháng 12.
Đây là đặc thù văn hoá, cần phân định ý nghĩa của nó để con cháu
thấy cái gì là của Việt cái gì là của người.
Cần phân biệt các điểm này và
giải thích cho con cháu mình biết. Khi dịch sang tiếng Anh, các
tháng trong âm lịch dùng first month, second month, ... of the
lunar year chứ không dùng January, February, ... .
Chúng tôi cảm thấy vô cùng phi
lý khi người dùng những từ-ngữ như: Việt kiều, khả năng, nhà
nước. Không thể nào họ không hiểu chữ kiều nghĩa là gì! Kiều tức
là người lạ đến sinh sống tại chỗ mình, như Hoa kiều, Ấn kiều,
Pháp kiều, Mỹ kiều (người Hoa, Ấn, Pháp, Mỹ sinh sống tại Việt
Nam). Người Việt sống ở nước ngoài về thăm quê hương thì bị gọi
là “Việt kiều” (tức là người Việt là kiều dân ngay trên đất
Việt?) Nếu về thăm vài tuần rồi đi thì nên gọi nhau bằng kiều
bào. Nếu về làm việc trong thời gian dài thì là người Việt,
không có kiều gì hết. Trừ phi hỏi lý lịch hành chánh thì nói
người đó mang quốc tịch nước nào đó.
Có lẽ chữ này không nên có trong
kho tự-vựng tiếng Việt. Phải chăng đây là sự phân biệt người
Việt trong nước và người Việt sống ở nước ngoài? Cần lắm thì nên
nói kiều bào tại Mỹ thay vì Việt kiều tại Mỹ. Việt Nam có hai
chữ đồng bào để nói lên tình ruột thịt lấy từ tích bà tiên Âu Cơ
đẻ ra trăm trứng nở ra trăm con kia mà!
Ngày trước chúng ta ai cũng biết
khả năng là 'năng lực có được để làm việc gì'. Theo nghĩa thông
thường khả: có thể; năng: sức, chẳng hạn như:
Anh ấy là người có khả năng đảm
nhận công việc này.
Khả năng sinh ngữ của ông ấy vượt
trôi hơn nhiều người.
Chứ không bao giờ chúng ta nghe
nói một cách rất “Tàu”:
Trời có khả năng mưa
chiều nay. Thay vì: Chiều nay trời có thể mưa.
Có hai khả năng gây
nên vụ việc ấy. Có hai trường hợp gây ra sự
việc ấy.
Có nhiều khả năng là
việc ấy có thể ...
Có nhiều hy vọng là ...
Bệnh dịch có khả năng
bộc phát nhanh. Bệnh dịch có nguy cơ bộc
phát ...
Việc giao dịch có khả
năng đảm bảo... Việc giao dịch có triển vọng
...
Có khả năng ăn phải
những thứ trong nhà. Có thể người đó đã ăn
phải ...
Khả năng này dường
như không xảy ra. Trường hợp này . . .
Nói cách khác người ta ôm đồm
nhiều nghĩa vào hai chữ khả năng để nói (Chúng ta có thể nghe
các phát ngôn viên trên hai đài phát thanh có tiếng trên thế
giới - một tại Pháp và một tại Anh - hiện nay dùng hai chữ này
nhiều nhất). Có thể nói đây là khuynh hướng nhìn từ khía cạnh
ngữ học gọi là sự bao quát hoá overgeneralization. (Xin đừng
nhầm lẫn với overgeneralization là 'vơ đũa cả nắm'). Nói như vậy
chẳng khác nào nói Yesterday I goed to school. thay vì I went
...
Tương tự như chữ dự kiến (dự: có
ý định; kiến: nhìn thấy) nào dự kiến sẽ đạt được, dự kiến sẽ
diễn ra, dự kiến sẽ đến, dự kiến sẽ sinh được. Thậm chí người ta
còn dùng chữ quá để chỉ tương lai: quá trình thảo luận, quá
trình điều tra, quá trình xây dựng ... sẽ rất mất nhiều thời
gian. Tiếng Việt mình tuy nghèo nhưng cũng có được hai chữ: quá
trình để chỉ việc đã qua và tiến trình để chỉ diễn biến đang và
sẽ xảy ra. Dự kiến sang năm quá trình này mới được thực hiện.
Song song với các từ-ngữ ôm đồm
trên, còn có hai chữ nhà nước rất ư là kêu, và được sử dụng một
cách rất có thâm ý. Trước hết nên xác nhận xem nhà nước có phải
là dịch từ hai chữ quốc gia ra không? Quốc gia là gì? Ngày nay
hầu như ai ai cũng hiểu quốc 'nước' và gia 'nhà' (vì đã thuộc
làu Tam Tự Kinh), nhưng ít ai biết đến quốc 'đất chư hầu' và
gia 'đất đại phu'. Người mình dùng quốc gia theo nghĩa đầu và
dịch ra thành nhà nước nhưng với nghĩa là 'chính phủ' hay 'chính
quyền'. Thế nhưng người ta đã không ngần ngại dùng lẫn lộn giữa
quốc gia và nhà nước làm một.
Có thật hai chữ trên dùng lẫn lộn
được? Câu trả lời “Không!” Chúng ta lần lượt dùng phương pháp so
sánh về nghĩa trong từng câu thì thấy ngay:
Anh ấy làm việc cho
nhà nước. (1)
Anh ấy làm việc cho
quốc gia. (2)
Thử hỏi một người làm việc cho quốc gia làm
sao tương đương với làm việc cho nhà nước
được. Làm việc cho quốc gia tức là đối lập
với làm việc cho cộng sản! Cuộc chiến vừa qua làm chết hàng
triệu người cũng bởi hai chữ quốc gia và cộng sản kia mà.
Xét hai câu khác:
Uỷ ban thế vận quốc
gia đặt trụ sở tại Hà Nội. (3)
Uỷ van thế vận nhà
nước đặt trụ sở tại Hà Nội. (4)
Công tâm mà xét có ai chấp nhận
và có thể nào có một uỷ ban thế vận nhà nước được không?
Trường Đại Học Tổng Hợp ngày
trước nay trở thành Đại Học Quốc Gia ... Thử thay thành Đại Học
Nhà Nước nghe xem có ổn không?
Thế nhưng người ta thấy những tổ
chức dưới đây nói lên nghe “rất ổn”, nhưng thật ra rất hồ đồ:
Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
tức là Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam.
Tổng cục Thuế Nhà Nước
Tổng Cục Thuế Quốc Gia.
Nói chung, từ-ngữ có phạm vi ngữ
nghĩa của từng chữ một, càng nắm vững bao nhiêu, càng sử dụng
chính xác và hữu hiệu bấy nhiêu.
IV. Tiếng Việt trên đường tha hương
Hiện nay có một số từ-ngữ mà sự
phân định còn giằng co giữa hai quan niệm: sử dụng thuần tuý
theo nghĩa Hán, và quan niệm nên theo lối Việt vốn thường bị
người Tàu chê là “không hiểu” gì chữ nghĩa của họ. Ngoài ra hiện
tượng xảy ra rất thường tại những nước có người Việt sinh sống.
Đó là tiếng Việt sẽ hội nhập với tiếng bản xứ để tạo ra nhiều
ngôn từ mới. Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương thì người Việt ở
Pháp gọi là OTAN. Sang Mỹ thì đổi thành NATO. Bệnh AIDS ở Mỹ >
SIDA ở Pháp. Quý độc giả ở các nước khác xin thêm vào mục này để
cho thấy sự biến hình của tiếng Việt như dòng nước chảy từ trên
nguồn xuống; lúc chảy qua các khe đá, lúc vào suối trong, khi ra
đến sông lớn và hoà vào biển khơi ra sao.
Sau khi bị người Pháp chiếm Việt
Nam và áp đặt ách đô hộ lên người dân Việt. Tiếng Việt có thêm
một số từ ngữ vay mượn từ tiếng Pháp sang. Chẳng hạn như cà-vạt
(cravate), xà- bông (savon), xe buýt (bus), ô-tô (automobile),
săm (chambre), lốp (enveloppe), làm reo (grève), ga xe lửa (gare),
tách (tasse), bia (bière), cao-su (caoutchouc), ét-xăng
(essence), vv. Thế nhưng qua thời gian một số từ-ngữ trên đây
cũng được biến dần thành xà phòng/bong, xe khách, xe hơi, ruột
xe, vỏ xe, xăng, vv.
Các người có máu mặt hiện nay
thích dùng tiếng Tây tiếng Hán để chứng tỏ mình “biết chữ” và
không thích hoà mình với số đông nên họ thích dùng chữ lô-gích
thay vì 'lý luận, hợp lý, chặt chẽ'; đa phần hơn là 'phần lớn'.
Họ còn khoái xài tiếng Pháp cho ra vẻ học thức: cái bót-ba-ga
này, cần pơ-luya tấm gỗ kia, như vậy là không lô-gích, ô-ten này
rẻ tiền, chiếc ô-tô con đó, vv.
Còn người bình thường thì thích
Hán hoá hơn là dùng tiếng Việt thuần tuý, sợ quê mùa thêm: hình
thành thay vì thành hình. Vẽ kiểu áo thì khoái dùng thiết kế áo.
Thậm chí người ta còn dùng thiết kế thay cho thiết trí là 'bày
biện, sắp đặt, lắp ráp'
Đây là cái bệnh „đao to búa lớn”
Lúc mà mấy giỏ than lèo tèo để trước nhà cũng được mang danh là
cửa hàng cung cấp chất đốt và không sao thì không thành vấn đề.
Khiến cho bây giờ nói bất cứ chuyện gì người trong nước
cũng không thành vấn đề.
Người Nhật cũng có một số từ-ngữ về toán học mà
chúng ta đã mượn, nhưng ai cũng tưởng mượn của Tàu: hình học, số
học, đại số, lượng giác, vi tích phân. Trước khi có chữ hình học,
người Tàu nói là kỷ-hà học.
Hết giai đoạn tiếng Pháp, đến khi tiếp xúc với tiếng
Anh người mình cũng du nhập một số từ-ngữ: cao-bồi, uảnh-tù-tì (Nên
nhớ con nít Mỹ không uảnh tù tì nhé. Chúng
nói Hammer, paper or scissors, bay, ôkê, TV, hê-lô, phôn, vv.
Nghĩa và cách ứng dụng của từ-ngữ vay mượn này không hoàn toàn
giống y hệt như nghĩa nguyên thuỷ. Do đó chúng ta thường thấy
người nào nghênh ngang thì nói là có tướng cao-bồi. Trẻ con chơi
với nhau thường “đánh tù-tì mày ra cái gì, tao ra cái này!” chứ
không dùng để đếm. Riêng chữ hê-lô chỉ dùng để chào nhau chứ khi
nói trên điện thoại người ta vẫn dùng a-lô. Khi mình đi ăn với
nhau mà mạnh ai nấy trả thì chơi theo kiểu Mỹ, nhưng người Mỹ
lại nói Go Dutch.
Ngày trước thường dùng chữ điện
thoại hay dây nói, bây giờ nói phôn: Tôi không có phone tay, do
hai chữ hand phone (hand = tay + phone - Việt-Anh). Chưa thấy
ai viết câu này ra như thế nào: phôn tay hay phone tay? Hoặc hai
chữ đường line (Việt + Mỹ): Chị Mai, có phôn đường line số hai.
Hình thức trên y hệt với hình
thức tuyến đường (Hán + Việt) đã có từ trước. Đây chính là manh
mối để khiến cho tiếng Việt của chúng ta mang một sắc thái mới
tách dần ra khỏi ngôn ngữ gốc ở quê nhà.
Nhìn chung, trong mọi hoàn cảnh,
người Việt luôn học hỏi và sẵn sàng tiếp nhận cái mới của người
nhưng sau đó gạn lọc và cân nhắc rồi mới đem ra sử dụng. Trước
năm 1954 toàn quốc sử dụng chung một loại ngôn ngữ, viết theo
cùng cách mà tiêu chuẩn nhất là các tác phẩm của Nhóm Tực Lực
Văn Đoàn, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Trần Tiêu, Thanh Tịnh và
của nhiều nhà văn khác.
Sau năm 1954 tiếng Việt bắt đầu
chia hai. Sau năm 1975 đến bây giờ thì có lẽ chia đến cả trăm.
Vì người Việt ở nước nào thì nói theo kiểu vay mượn của cách nói
nước đó. Tiếng Việt đã làm nên tội tình gì mà bị chia trăm xẻ
nghìn như vậy? Ai trả lời được đây? Nên mừng hay nên buồn hả quý
vị?
Nếu có dịp chúng tôi sẽ trình bày
về tiếng Việt trong nước và tiếng Việt ở hải ngoại.
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về :
E-Mail:
tranngocdung@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|