Sự dung dị của từ đồng nghĩa
 



Trần Ngọc Dụng

Giảng Viên Việt ngữ/UCR/CCC/SAC

E-Mail: tranngocdung@khoahoc.net

17 tháng 2 năm 2005

 

I. Ranh giới của từ-ngữ

            Chúng ta sống trong một thế giới đầy giới hạn. Ngay cả khi học toán, người ta ai cũng học định đề Euclid về đường thẳng, nhưng mấy ai đã nhìn thấy được một đường thẳng đúng nghĩa của nó: không bề dày, không bề, mặt thẳng tắp đến vô tận. Thật vậy,  người ta chỉ nói lý thuyết cho vui chứ không hề có cái cái đường thẳng đó bao giờ.

            Nói một cách hồ đồ như chúng tôi thì có lẽ mọi ngành khác cũng đều có cái giới hạn của nó. Giới hạn, giới hạn,  giới hạn! Áp dụng vào ngôn ngữ cũng vậy, chúng ta cần phân định giới hạn của từ-ngữ để sử dụng cho đúng mức, chẳng khác nào người thợ may phải biết kích thước của miếng vải để may chiếc áo cho đẹp.

             Giới hạn trong ngôn ngữ là gì. Đó là phạm vi của từ-ngữ. Trước tiên chúng tôi xin giới thiệu với quý vị sự chiết từ (tiếng Anh gọi là compartmentalization) của từ ngữ. Chiết là tách ra. Người mình thường nói chiết rượu từ hũ lớn ra các bình nhỏ. (Đúng ra chiết là „cắt đứt“ theo nguyên nghĩa gốc Hán, người mình chỉ sử dụng một phần trong nhiều nghĩa của nó như chiết cành, chiết trung 'eclectic'.) Điều này cho thấy trong một từ-ngữ có hàm chứa một khối nghĩa (a mass of meanings) và chúng ta phải dùng bình nhỏ để chiết ra (compartmentalize). Chữ đi theo sau nó chính là cái bình nhỏ vậy.

            Chẳng hạn chữ wear trong tiếng Anh bao hàm đội, mang, mặc, thắc, đeo, trông, . . .): wear + hat = đội nón; wear + clothes = mặc; wear + shoes = mang; wear + perfume = xức; wear + watch, necklace, ... = đeo/mang, wear + mood = trông, ... > đội nón, mặc áo quần, mang giày, xức nước hoa, đeo đồng hồ, dây chuyền, trông ủ rũ, ...

            Tương tự như chữ ăn của tiếng Việt: ăn + thức ăn = eat; ăn + axít = irritate/erode; ăn + rễ cây = spread/develop; ăn + trò chơi = win; ăn + kinh doanh = succeed/fail; ăn + keo/hồ = fasten/stick; ăn + fuel = consume; ăn + dịch vụ = charge; ăn + hình phạt/tổn hại = be punished/hurt/ beaten, ăn + đòi tiền = corrupt, ... > to eat food; to irritate the skin, to erode the engine; to spread to the base of a house; to win three games; to succeed/fail in business; glue does not fasten well; to get low mileage; to charge too much; to get a good beating; to receive bribery;

            Nắm vững sự chiết từ để thấy tầm quan trọng của nó khi dùng từ-ngữ sao thích hợp. Nếu có người nói: Tôi lúc nào cũng chỉ thích đội quần jin mà thôi. 'I love to wear jeans all the time.' Điều này cho thấy người nói phạm phải hai lỗi lớn: một là đội không thể đi với quần, và hai, người này chỉ dịch sai cái ý từ tiếng Anh chuyển sang tiếng Việt. Chúng ta có thể kết luận người này mới học tiếng Việt hoặc quá bị ảnh hưởng của tiếng Anh khi nói tiếng Việt. Cũng như không thể nói câu tiếng Anh này: Battery acid can eat your skin easily. 'Axít bình điện ăn da làm cho bạn ngứa.' Không thể dịch ăn da của tiếng Việt bằng chữ eat your skin được! Phải đổi thành irritate your skin.

 

II. Sự dung dị của từ-ngữ

            Từ sự chiết từ, chúng tôi xin giới thiệu tiếp đến là sự dung dị (dung: chứa; dị: sự khác biệt) của từ-ngữ để tạo căn bản quy chiếu khi nói chuyện. Một từ-ngữ khi đứng riêng thì dĩ nhiên chỉ có dung chứ không có dị. Cũng như một con người ngồi một mình thì nội tâm của chứa chất đủ thất tình hỷ nộ ai lạc ái ố dục (vui, giận, buồn, vui, thương, ghét, muốn) đều như nhau. Để rồi khi gặp người hợp nhãn thì cái ái nổi lên, khi gặp tình địch thì cái nộ thống lãnh tâm trí. Lúc ưng ý thì hể hả với cái hỷ. Gặp chuyện không vui thì bi ai, vv.. Áp dụng vào ngôn ngữ cũng vậy. Cũng một chữ mà khi đi với chữ này thì nghĩa này nhưng đi với chữ khác thì mang nghĩa khác.

            Ngôn ngữ nào cũng có từ đồng nghĩa, vì đó là một đặc điểm của ngôn ngữ. Trừ phi có sự cố tình của tác giả, từ đồng nghĩa giúp người dùng không phải lặp lại một từ-ngữõ nhiều lần trong cùng bài viết khiến người đọc có thể hết hứng thú với bài viết. Ngoài ra từ đồng nghĩa còn giúp cho gia tăng hay giảm bớt phạm vi ý nghĩa một cách có ý thức do người nói hay viết chọn lựa.

            Vì vậy khi sử dụng từ đồng nghĩa cũng cần nắm vững nghĩa của nó và nên cẩn thận khi dùng. Dù muốn dù không mỗi từ ngữ đều có phạm vi ngữ nghĩa của nó. Nói cách khác, dù là đồng nghĩa, không có hai từ-ngữ nào hoàn toàn giống nhau một trăm phần trăm về ngữ nghĩa cả trong mọi trường hợp. Chúng tôi gọi đặc điểm đó là sự dung dị (collocation) của hai từ-ngữ đồng nghĩa. Sự dung dị này có ba trường hợp:

a. hai chữ cùng nghĩa hoàn toàn giống nhau và có thể thay thế cho nhau được

            b. hai chữ có nghĩa hoàn toàn khác nhau, và

            c. chỉ dùng được chữ này mà không dùng được chữ kia, hoặc ngược lại.

 

            Thông thường chúng ta xem chữ ngoại và chữ ngoài là hai từ đồng nghĩa:  ngoại quốc = nước ngoài; ngoại nhân = người ngoài. Thế nhưng bên ngoại không thể như bên ngoài được!  Hãy so sánh hai câu: Con ra ngoại nghe mẹ. và Con ra ngoài nghe mẹ. Chúng ta thấy ngay hai ý nghĩa và hành động khác nhau một trời một vực. Như vậy chúng ta có thể nhìn thấy rõ phạm vi của từ gốc Hán trong tiếng Việt. 

            Chữ sanh (sinh) và đẻ thường được nghe rất nhiều trong những câu chuyện hàng ngày, vậy mà cách dùng cũng hoàn toàn tuỳ thuộc vào ngữ cảnh:

            Thôi đừng nói nữa kẻo sanh chuyện lôi thôi. Chứ không ai nói: Thôi đừng nói nữa kẻo đẻ chuyện ... Hoặc con gà mái đẻ chứ không hề nói con gà mái sanh.  Trong khi Chị ấy sanh/đẻ hai đứa con gái. Nhưng chị ấy đẻ sanh đôi. Và hai đứa đó là anh em sanh đôi, không thể đẻ đôi. Thế nhưng khi định sửa cái bếp, ai ngờ khi tháo ra thì lại đẻ ra nhiều thứ khác nữa.

            Đó là những từ-ngữ có nghĩa đơn, còn những chữ có tính cách chủng loại thì càng cần lưu ý hơn. Chẳng hạn chữ tre trong tiếng Việt bao gồm ít nhất hơn 10 loại: bương, vàu, mai, nứa, lồ ồ, lồng ngộc, la ngà, giang, hóp, trảy, le, và trúc. Dĩ nhiên trúc cũng có rất nhiều loại: trúc đen, trúc bụng phệ, trúc vàng rong khi người Tàu có trúc bao gồm: bạc, hậu, ngọc, nhược, thực tâm, đại, từ, cương, và mao. Tất cả các loại này đều dùng với chữ trúc: bạc trúc, hậu trúc, ... . Như vậy thì trúc chỉ là một trong nhiều loại tre có tại Việt Nam trong khi trúc đối người Tàu là toàn bộ tre của Việt Nam!

            Tôi cần tìm mua mấy cây lồ-ồ về làm giàn.

            Sáo làm bằng trúc đen mới đẹp.

Trong tiếng Việt có vô số từ-ngữ sử dụng theo kiểu này. Do đó, quý vị phụ huynh cũng cần nhắc nhở con cháu mình khi dùng cũng cần phân biệt rõ. Từ đó chúng ta nên có một ý niệm rõ ràng là chữ gốc Hán diễn tả một nghĩa và từ thuần Việt diễn tả một nghĩa nào đó. Có một số trường hợp hai từ loại này trùng nghĩa với nhau và phải biết đó là trường hợp nào. Chúng tôi xin nêu thêm thí dụ để chứng minh điểm này. Xem hai chữ vĩ đại và to lớn:

            Giống nhau:      vĩ đại = to lớn: công trình vĩ đại = công trình to lớn (lớn lao)     

            Khác nhau:       con người vĩ đại (trừu tượng)    ¹           con người to lớn (cụ thể)

            Không thể nói:  nhân vật to lớn; càng không thể: sai lầm vĩ đại

            Hình thức này thì ngôn ngữ nào cũng có. Hãy so sánh một số từ đồng nghĩa tiếng Anh và cách dùng của chúng xem có giống như của tiếng Việt không? Trước hết chữ strong và powerful thường được xem là đồng nghĩa:

            Giống nhau:  a strong government = a powerful government  'một chính phủ mạnh'

            Khác nhau:  a strong man 'người có sức mạnh về thể chất' khác với

            a powerful man 'người có thế lực'

            Và chỉ nói strong coffee (cà-phê đậm) chứ không bao giờ nói powerful coffee cả.

            Như vậy có thể nói là strong chỉ về vật chất cụ thể và powerful thiên về trừu tượng hơn.

Còn hai chữ quốc gia và nhà nước thì sao? Hai chữ này không phải là ngoại lệ chứ? Xin quý vị tìm cách ứng dụng một cách chính xác kẻo “hư cái tiếng Việt mến yêu của chúng ta”!

Sinh nhật vào ngày sinh giống nhau hay khác nhau? Theo thiển ý chúng tôi, hai chữ này có nghĩa khác nhau và cách dùng khác nhau.

            Sinh nhật là ngày và tháng của một người được dùng để kỷ niệm hàng năm. Câu hỏi để biết mà gửi thiệp chúc mừng hoặc quà tặng là: Sinh nhật của anh/chị là ngày nào?  Còn ngày sinh là ngày tháng năm đánh dấu thời gian xuất hiện của một người trên cõi đời: Ngày sinh của anh/chị là gì? Hoặc Ngày sinh của anh/chị là ngày tháng năm nào? Như vậy về nghĩa cũng rất rõ ràng về cách dùng cũng chuẩn xác. Tại sao phải nói kỷ niệm ngày sinh? Muốn Việt hoá ư? Không được đâu. Ba chữ kỷ niệm và sinh vẫn là từ gốc Hán kia mà!

 

III. Phạm vi nghĩa của từ-ngữ dựa trên căn bản nào?

            Nói như trên để đi đến một kết luận rằng từ-ngữ nào cũng có một phạm vi toả rộng của nó. Tạm hình dung phạm vi đó là một hình tròn có cái tâm gọi là từ chuẩn (prototype) có nghĩa chuẩn (denotation). Từ tâm đó toả ra nhiều tia nhỏ với những nghĩa phụ hay nghĩa liên hội (connotation). Chẳng hạn có một màu đỏ chuẩn trong đầu mọi người để từ đó làm căn bản qui chiếu ra những vật gì có màu sắc gần gốc với màu đỏ chuẩn trong đầu để nói rằng vật đó có màu đỏ. Và đỏ như thế nào thì còn tuỳ: đỏ au, đỏ hồng, đỏ ợt, đỏ hoét, đỏ như máu, đỏ tím, đỏ bầm, đỏ tươi, đỏ nâu... Tiếng Anh cũng có một số màu đỏ như 'bright red, light crimson, scarlet, crimson, blood red, magenta, mahogany, vv.

            Có những từ-ngữ như: quan hệ, liên hệ, liên lạc cũng cần nhắc đến. Từ xưa quan hệ vốn chỉ dùng ở cấp quốc gia; nước A có quan hệ ngoại giao với nước B; nước A nâng mức quan hệ ngoại giao lên hàng đại sứ, vv. Liên hệ chỉ sự gắn bó về máu mủ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình. Liên lạc nói lên sự tiếp xúc giữa các cá nhân với nhau trong công việc hoặc giao tiếp. Giữa hai đôi nam nữ thì tuỳ mức độ mà diễn tả: mới đầu thì có cảm tình với nhau; nếu thấm đậm thì yêu nhau. Không có vấn đề quan hệ nam nữ mang tính chất hữu nghị, hữu hảo gì.

            Bây giờ thì chữ quan hệ được bao cấp xuống đến từng cá nhân: quan hệ giữa anh A và chị B là tình nhân. Trong khi liên hệ gia đình giữa người này và người nọ là anh em chú bác hoặc gì đó cũng được gọi là quan hệ bà con giữa X và Y. Cũng như chữ liên lạc đã bị xoá tên để thay thế bằng chữ liên hệ: nếu muốn liên hệ xin gọi số điện thoại ... Ý nói muốn làm bà con thì nên gọi điện thoại chăng?

            Nói về ngày tháng thì người ta thường lẫn lộn giữa bốn và tư. Ai cũng biết bốn là số đếm và tư là số thứ tự. Không hiểu vì nguyên nhân gì mà nhiều người thích nói hôm nay thứ tư, ngày hai mươi tư tháng tư, năm hai ngàn lẻ tư. Thay vì nói thứ tư, ngày hai mươi bốn, tháng tư, năm hai ngàn lẻ bốn. Chúng tôi đi làm nghề dạy tiếng Việt nên giải thích làm sao với những sinh viên khi họ hỏi rằng: Vậy nên nói 2004 là hai ngàn lẻ bốn hay hai ngàn lẻ tư? Câu trả lời là được? và xem đó là trường hợp ngoại lệ? Ngày 24 là hai mươi bốn hay hai mươi tư? Xin quý vị cao minh chỉ giáo.

            Tiếng Việt có ba chữ để chỉ số 0: không, lẻ, và linh. Trường hợp nào thì dùng không? Dùng lẻ? Và dùng linh? Không đứng đầu bảng cho nhiều trường hợp có số không (0). Điện thoại số (714) 309 3908) nói là ... ba không chín, ba chín không tám. Chắc không ai nói “ba lẻ chín, ba chín lẻ tám cả”. Lại càng không ai nói: “Ba linh chín, ba chín linh tám” hay vẫn có người nói? Chữ lẻ dùng nhiều nhất trong việc nói số tiền lẻ và tiền xu: một trăm lẻ năm đồng (105) hoặc một ngàn không trăm lẻ sáu xu (1.000,06).

            Rõ ràng không thể hoán đổi vị trí của chúng, mặc dầu chúng cùng một nghĩa: một trăm không năm đồng, hoặc một ngàn lẻ trăm không sáu xu.

            Tiếp sau chữ lẻ, chữ linh được xem là địa phương ngữ (của những người ở giáp ranh với Trung Cộng (Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn) mà đem ra dùng ngay cả trên đài phát thanh quốc tế! Vì chữ Tàu linh (lìng) nghĩa là lẻ. Vậy sao không nói số 10100 là một linh một linh linh cho vui tai luôn? Nếu chữ linh dùng có tính cách quốc tế (internationally) như vậy thì nên dùng luôn cả ni, nớ, mô, tê, ló (lúa), nát (nước) trong các bản tin phát thanh hàng ngay cho tiện?

            Hoặc tháng âm lịch thì có tháng giêng bắt đầu của năm và kết thúc bằng tháng chạp. Không ai nói tháng 1 và tháng 12 cả. Vì tháng giêng nghĩa là chính báo hiệu một năm thành bại trong năm, tháng ăn chơi. Vì lý do này nên ngày Tết người mình thường kiêng cử nhiều thứ. Người Tàu gọi tháng này là nguyên nguyệt. Còn tháng cuối tức tháng chạp. Chữ chạp tức là chạp mả, một bằng chứng hùng hồn cho thấy người Việt Nam thường sống với quá khứ. Người Việt không làm sinh nhật cho người sống mà chú trọng đến ngày giỗ người thân đã mất. Trước khi ăn Tết, gia đình nào cũng lo cho mồ mả ông bà tươm tất, tức là chạp mả, trước khi chuẩn bị ăn Tết. Đặc biệt hơn nữa là tháng một của lịch ta tức là tháng mười một, như trong Tháng một, tháng cháp nên công hoàn toàn (ca dao). Do vậy mà tháng cuối năm gọi như vậy. Chỉ có năm dương lịch mới có tháng 1 và tháng 12. Đây là đặc thù văn hoá, cần phân định ý nghĩa của nó để con cháu thấy cái gì là của Việt cái gì là của người.

            Cần phân biệt các điểm này và giải thích cho con cháu mình biết. Khi dịch sang tiếng Anh, các tháng trong âm lịch dùng first month, second month, ... of the lunar year chứ không dùng January, February, ... .

             Chúng tôi cảm thấy vô cùng phi lý khi người dùng những từ-ngữ như: Việt kiều, khả năng, nhà nước. Không thể nào họ không hiểu chữ kiều nghĩa là gì! Kiều tức là người lạ đến sinh sống tại chỗ mình, như Hoa kiều, Ấn kiều, Pháp kiều, Mỹ kiều (người Hoa, Ấn, Pháp, Mỹ sinh sống tại Việt Nam). Người Việt sống ở nước ngoài về thăm quê hương thì bị gọi là “Việt kiều” (tức là người Việt là kiều dân ngay trên đất Việt?) Nếu về thăm vài tuần rồi đi thì nên gọi nhau bằng kiều bào. Nếu về làm việc trong thời gian dài thì là người Việt, không có kiều gì hết. Trừ phi hỏi lý lịch hành chánh thì nói người đó mang quốc tịch nước nào đó.

            Có lẽ chữ này không nên có trong kho tự-vựng tiếng Việt. Phải chăng đây là sự phân biệt người Việt trong nước và người Việt sống ở nước ngoài? Cần lắm thì nên nói kiều bào tại Mỹ thay vì Việt kiều tại Mỹ. Việt Nam có hai chữ đồng bào để nói lên tình ruột thịt lấy từ tích bà tiên Âu Cơ đẻ ra trăm trứng nở ra trăm con kia mà!

            Ngày trước chúng ta ai cũng biết khả năng là 'năng lực có được để làm việc gì'. Theo nghĩa thông thường khả: có thể; năng: sức, chẳng hạn như:       

            Anh ấy là người có khả năng đảm nhận công việc này.

            Khả năng sinh ngữ của ông ấy vượt trôi hơn nhiều người.

            Chứ không bao giờ chúng ta nghe nói một cách rất “Tàu”:

                        Trời có khả năng mưa chiều nay.         Thay vì: Chiều nay trời có thể mưa.

                        Có hai khả năng gây nên vụ việc ấy.                   Có hai trường hợp gây ra sự việc ấy.

                        Có nhiều khả năng là việc ấy có thể ...               Có nhiều hy vọng là ...

                        Bệnh dịch có khả năng bộc phát nhanh.             Bệnh dịch có nguy cơ bộc phát ...

                        Việc giao dịch có khả năng đảm bảo...              Việc giao dịch có triển vọng ...

                        Có khả năng ăn phải những thứ trong nhà.         Có thể người đó đã ăn phải ...

                        Khả năng này dường như không xảy ra.             Trường hợp này . . .

           

            Nói cách khác người ta ôm đồm nhiều nghĩa vào hai chữ khả năng để nói (Chúng ta có thể nghe các phát ngôn viên trên hai đài phát thanh có tiếng trên thế giới - một tại Pháp và một tại Anh - hiện nay dùng hai chữ này nhiều nhất). Có thể nói đây là khuynh hướng nhìn từ khía cạnh ngữ học gọi là sự bao quát hoá overgeneralization. (Xin đừng nhầm lẫn với overgeneralization là 'vơ đũa cả nắm'). Nói như vậy chẳng khác nào nói Yesterday I goed to school. thay vì I went ...

            Tương tự như chữ dự kiến (dự: có ý định; kiến: nhìn thấy) nào dự kiến sẽ đạt được, dự kiến sẽ diễn ra, dự kiến sẽ đến, dự kiến sẽ sinh được. Thậm chí người ta còn dùng chữ quá để chỉ tương lai: quá trình thảo luận, quá trình điều tra, quá trình xây dựng ... sẽ rất mất nhiều thời gian. Tiếng Việt mình tuy nghèo nhưng cũng có được hai chữ: quá trình để chỉ việc đã qua và tiến trình để chỉ diễn biến đang và sẽ xảy ra. Dự kiến sang năm quá trình này mới được thực hiện.

            Song song với các từ-ngữ ôm đồm trên, còn có hai chữ nhà nước rất ư là kêu, và được sử dụng một cách rất có thâm ý. Trước hết nên xác nhận xem nhà nước có phải là dịch từ hai chữ quốc gia ra không? Quốc gia là gì? Ngày nay hầu như ai ai cũng hiểu quốc 'nước' và gia 'nhà' (vì đã thuộc làu Tam Tự  Kinh), nhưng ít ai biết đến quốc 'đất chư hầu' và gia 'đất đại phu'. Người mình dùng quốc gia theo nghĩa đầu và dịch ra thành nhà nước nhưng với nghĩa là 'chính phủ' hay 'chính quyền'. Thế nhưng người ta đã không ngần ngại dùng lẫn lộn giữa quốc gia và nhà nước làm một.

            Có thật hai chữ trên dùng lẫn lộn được? Câu trả lời “Không!” Chúng ta lần lượt dùng phương pháp so sánh về nghĩa trong từng câu thì thấy ngay:

                        Anh ấy làm việc cho nhà nước. (1)

                        Anh ấy làm việc cho quốc gia.  (2)

Thử hỏi một người làm việc cho quốc gia làm sao tương đương với làm việc cho nhà nước

được. Làm việc cho quốc gia tức là đối lập với làm việc cho cộng sản! Cuộc chiến vừa qua làm chết hàng triệu người cũng bởi hai chữ quốc gia và cộng sản kia mà.

            Xét hai câu khác:

                        Uỷ ban thế vận quốc gia đặt trụ sở tại Hà Nội.             (3)

                        Uỷ van thế vận nhà nước đặt trụ sở tại Hà Nội.            (4)

            Công tâm mà xét có ai chấp nhận và có thể nào có một uỷ ban thế vận nhà nước được không?

            Trường Đại Học Tổng Hợp ngày trước nay trở thành Đại Học Quốc Gia ... Thử thay thành Đại Học Nhà Nước nghe xem có ổn không?

            Thế nhưng người ta thấy những tổ chức dưới đây nói lên nghe “rất ổn”, nhưng thật ra rất hồ đồ:

            Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam         tức là   Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam.

            Tổng cục Thuế Nhà Nước                               Tổng Cục Thuế Quốc Gia.

 

            Nói chung, từ-ngữ có phạm vi ngữ nghĩa của từng chữ một, càng nắm vững bao nhiêu, càng sử dụng chính xác và hữu hiệu bấy nhiêu.

 

IV. Tiếng Việt trên đường tha hương

            Hiện nay có một số từ-ngữ mà sự phân định còn giằng co giữa hai quan niệm: sử dụng thuần tuý theo nghĩa Hán, và quan niệm nên theo lối Việt vốn thường bị người Tàu chê là “không hiểu” gì chữ nghĩa của họ. Ngoài ra hiện tượng xảy ra rất thường tại những nước có người Việt sinh sống. Đó là tiếng Việt sẽ hội nhập với tiếng bản xứ để tạo ra nhiều ngôn từ mới. Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương thì người Việt ở Pháp gọi là OTAN. Sang Mỹ thì đổi thành NATO. Bệnh AIDS ở Mỹ > SIDA ở Pháp. Quý độc giả ở các nước khác xin thêm vào mục này để cho thấy sự biến hình của tiếng Việt như dòng nước chảy từ trên nguồn xuống; lúc chảy qua các khe đá, lúc vào suối trong, khi ra đến sông lớn và hoà vào biển khơi ra sao.

            Sau khi bị người Pháp chiếm Việt Nam và áp đặt ách đô hộ lên người dân Việt. Tiếng Việt có thêm một số từ ngữ vay mượn từ tiếng Pháp sang. Chẳng hạn như cà-vạt (cravate), xà- bông (savon), xe buýt (bus), ô-tô (automobile), săm (chambre), lốp (enveloppe), làm reo (grève), ga xe lửa (gare), tách (tasse), bia (bière), cao-su (caoutchouc), ét-xăng (essence), vv. Thế nhưng qua thời gian một số từ-ngữ trên đây cũng được biến dần thành xà phòng/bong, xe khách, xe hơi, ruột xe, vỏ xe, xăng, vv.

            Các người có máu mặt hiện nay thích dùng tiếng Tây tiếng Hán để chứng tỏ mình “biết chữ” và không thích hoà mình với số đông nên họ thích dùng chữ lô-gích thay vì 'lý luận, hợp lý, chặt chẽ'; đa phần hơn là 'phần lớn'. Họ còn khoái xài tiếng Pháp cho ra vẻ học thức: cái bót-ba-ga này, cần pơ-luya tấm gỗ kia, như vậy là không lô-gích, ô-ten này rẻ tiền, chiếc ô-tô con đó, vv.

            Còn người bình thường thì thích Hán hoá hơn là dùng tiếng Việt thuần tuý, sợ quê mùa thêm: hình thành thay vì thành hình. Vẽ kiểu áo thì khoái dùng thiết kế áo. Thậm chí người ta còn dùng thiết kế thay cho thiết trí là 'bày biện, sắp đặt, lắp ráp'

            Đây là cái bệnh „đao to búa lớn” Lúc mà mấy giỏ than lèo tèo để trước nhà cũng được mang danh là cửa hàng cung cấp chất đốt và không sao thì không thành vấn đề. Khiến cho bây giờ nói bất cứ chuyện gì người trong nước cũng không thành vấn đề.

            Người Nhật cũng có một số từ-ngữ về toán học mà chúng ta đã mượn, nhưng ai cũng tưởng mượn của Tàu: hình học, số học, đại số, lượng giác, vi tích phân. Trước khi có chữ hình học, người Tàu nói là kỷ-hà học.

            Hết giai đoạn tiếng Pháp, đến khi tiếp xúc với tiếng Anh người mình cũng du nhập một số từ-ngữ: cao-bồi, uảnh-tù-tì (Nên nhớ con nít Mỹ không uảnh tù tì nhé. Chúng nói Hammer, paper or scissors, bay, ôkê, TV, hê-lô, phôn, vv. Nghĩa và cách ứng dụng của từ-ngữ vay mượn này không hoàn toàn giống y hệt như nghĩa nguyên thuỷ. Do đó chúng ta thường thấy người nào nghênh ngang thì nói là có tướng cao-bồi. Trẻ con chơi với nhau thường “đánh tù-tì mày ra cái gì, tao ra cái này!” chứ không dùng để đếm. Riêng chữ hê-lô chỉ dùng để chào nhau chứ khi nói trên điện thoại người ta vẫn dùng a-lô. Khi mình đi ăn với nhau mà mạnh ai nấy trả thì chơi theo kiểu Mỹ, nhưng người Mỹ lại nói Go Dutch.

            Ngày trước thường dùng chữ điện thoại hay dây nói, bây giờ nói phôn: Tôi không có phone tay, do hai chữ hand phone (hand = tay + phone  - Việt-Anh). Chưa thấy ai viết câu này ra như thế nào: phôn tay hay phone tay? Hoặc hai chữ đường line (Việt + Mỹ): Chị Mai, có phôn đường line số hai.

            Hình thức trên y hệt với hình thức tuyến đường (Hán + Việt) đã có từ trước. Đây chính là manh mối để khiến cho tiếng Việt của chúng ta mang một sắc thái mới tách dần ra khỏi ngôn ngữ gốc ở quê nhà.

            Nhìn chung, trong mọi hoàn cảnh, người Việt luôn học hỏi và sẵn sàng tiếp nhận cái mới của người nhưng sau đó gạn lọc và cân nhắc rồi mới đem ra sử dụng. Trước năm 1954 toàn quốc sử dụng chung một loại ngôn ngữ, viết theo cùng cách mà tiêu chuẩn nhất là các tác phẩm của Nhóm Tực Lực Văn Đoàn, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Trần Tiêu, Thanh Tịnh và của nhiều nhà văn khác.

            Sau năm 1954 tiếng Việt bắt đầu chia hai. Sau năm 1975 đến bây giờ thì có lẽ chia đến cả trăm. Vì người Việt ở nước nào thì nói theo kiểu vay mượn của cách nói nước đó. Tiếng Việt đã làm nên tội tình gì mà bị chia trăm xẻ nghìn như vậy? Ai trả lời được đây? Nên mừng hay nên buồn hả quý vị?

            Nếu có dịp chúng tôi sẽ trình bày về tiếng Việt trong nước và tiếng Việt ở hải ngoại.

 

 

Ý kiến, Phê bình xin gửi về : E-Mail: tranngocdung@khoahoc.net

 

Trở về Trang Chính

 



 

© Copyright 2003 khoa học@đời sống
All rights reserved.