|
Cội
nguồn tinh hoa văn hóa dân tộc nằm trong ca dao, kho tàng vô giá
của văn học. Theo định nghĩa của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến
Đức, qua tập Việt Nam Tự Điển do Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội
năm 1931, ca dao là những câu hát phổ thông trong dân
gian: ca là những bài hát thành khúc, dao là
những câu hát ngắn độ một vài dòng.
Xưa Đức
Khổng Tử suốt đời chu du thiên hạ mong gặp cơ hội thực hành
chính giáo giúp người đời sống an bình hạnh phúc, nhưng đã gặp
từ thất vọng này tiếp thất vọng khác, ngót bảy mươi lui về quê
cũ dạy học, sọan kinh sách, san định Kinh Thi, là tập sách ghi
lại những bài thơ dân gian, hầu hết tác giả khuyết danh, tức là
những bài ca dao. Vị thầy của hàng vạn thế hệ - Vạn
Thế Sư Biểu - cuối đời đã quyết dùng nghệ thuật thi ca hạ
tầng cơ sở để giúp người đời tu thân tạo đức, xây dựng căn bản
gia đình, xã hội và nhân loại.
Rằm tháng Tám âm lịch, Trung Thu, Ngày Nhi Đồng Việt Nam, nghĩ
đến những thế hệ trẻ mới ra đời, vừa vào đời, vừa có gia đình và
sẽ tiếp nối dòng dõi giống nòi, lần giở kho tàng văn hóa dân tộc
trong ca dao, sưu tầm đặc biệt những câu liên hệ đến trẻ thơ,
tôi ước mong góp phần giúp giới trẻ có cơ hội tiếp nối truyền
đạt và gìn vàng giữ ngọc. Bài này gồm hai phần: Ca dao qua
những điệu ru, và những trò chơi
trẻ con qua ca dao , đồng dao.
ĐIỆU
RU CA DAO
Tôi
yêu tiếng nước tôi
Từ
khi mới ra đời
Mẹ
hiền ru những câu xa vời
ạ à
ơi … tiếng ru muôn đời … (Phạm
Duy, Tình Ca)

Điệu
ru ca dao với âm hưởng tiếng mẹ là cánh tay yêu thương âu yếm ôm
ấp, là tấm chăn ấm áp ấp ủ, là làn gió mát dịu dàng mơn man,
mang ước vọng trang bị tâm thức trẻ thơ từ khi vừa mới chào đời,
thấm nhuần cách ăn lối ở, hiểu biết cách xử thế, trau dồi ý chí
và nghị lực, để khi trưởng thành có thể sống trong thanh thản an
bình hạnh phúc.
Thế
giới tràn đầy điệu ru, từ những bộ lạc bán khai khuất lấp sau
những cánh rừng già hoang vu, cho đến những quốc gia xưa cổ có
nền văn minh sáng chói quanh Địa Trung Hải, Đại Tây dương, Ấn Độ
Dương hay Thái Bình Dương, và ngay cả đến những quốc gia văn
minh hiện đại với vũ khí hạch nhân và hỏa tiễn liên hành tinh
liên lục địa.
Tìm
hiểu về những điệu ru, được biết mãi đến cuối năm 1930, nước Anh
mới bắt đầu ghi nhận giá trị những điệu ru con và cố công thu
thập, khuyến khích thực hiện. Từ bấy đến nay, có rất nhiều băng
cũng như đĩa nhạc ru con. Bài ru gốc Đức nhạc Brahms tựa đề
Brahm’s Lullaby bắt đầu bằng Guten Abend, gute Nacht …có
lời ru ca ngợi hương sắc hoa hồng hoa huệ và nói đến những
thiên thần che chở trẻ thơ yên ngủ giấc lành. Đĩa nhạc
Lullaby Magic của Joanie Bartels cũng hát những lời ca tụng
thiên nhiên, ca tụng trăng sao theo nhạc cổ điển Morart, Brahms,
và nhạc rock The Beatles … Đĩa Honest Lullaby của Joan
Baer có nhắc nhở xưa được mẹ ru, hoặc nói về tình thương yêu của
mẹ. Nhưng phải xác nhận không quốc gia nào có những điệu
ru ca dao phong phú như tại Việt Nam.
Chỉ có
trẻ sơ sinh Việt Nam khi vừa mở mắt chào đời đã được chính người
mẹ và những người thân trong gia đình dẫn dắt vào dòng văn học
dân gian bằng những điệu ru đong đưa theo võng nôi kẽo kẹt.
Nghệ thuật thi ca bắt nguồn từ văn hóa mẹ được truyền đạt, dìu
dắt tâm hồn trẻ thơ vào nền giáo huấn căn bản của con người,
thấm đậm vào tâm thức vào tim óc vào máu thịt vào hơi thở vào
giọng cười hạnh phúc và cả tiếng khóc đau thương.
Qua lời
mẹ ru, trẻ vỡ lòng tình yêu quê hương :
Ạ
ơi ời … à ơi …
Con
chim bay lưng trời còn có tông
có tổ
Con
cá lội giữa dòng nước vẫn có lổ có hang
Người trên đời có tổ quốc giang san
Tinh
thần ý chí phải nhịp nhàng với non sông
Uống
nước ta phải nhớ nguồn
Thấy
non sông rộng nhớ ơn cao dày
Và tri
ân những anh hùng liệt nữ có công giữ gìn đất nước :
Ạ ơi
ời … à ơi …
Bà
Trưng quê ở Châu Phong
Giận
người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị
em nặng một lời nguyền
Phất
cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn
Tây nổi áng phong trần
Ầm
ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng
quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi
ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đô
kỳ đóng ở Mê Linh
Lĩnh
Nam riêng một triều đình nước ta
Ạ ơi
ời … à ơi …
Ru
con, con ngủ an lành
Cho
mẹ gánh nước rửa bành con voi
Ạ à
ạ ơi …
Muốn
coi lên núi mà coi
Noi
gương bà Triệu cỡi voi đánh cồng …
Qua lời
ru, mẹ dạy con tình đồng bào :
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Bầu
ơi thương lấy bí cùng
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn …
Và
đạo nghĩa làm người con hiếu thảo :
Ru hời ru hỡi là ru… à
ơi ...
Công cha như núi ngất
trời
Nghĩa mẹ như nước ở
ngoài biển Đông
Núi cao biển rộng mênh
mông
Cù
lao chín chữ ghi lòng con ơi !

Mẹ ngồi
ru con, đong đưa võng buồn giọt lệ rưng rưng tự nhắc mình về ơn
nghĩa sinh thành dưỡng dục :
Có
con, mẹ nghĩ thương thay
Chín
tháng mười ngày mang nặng đẻ đau …
Lên non
mới biết non cao
Nuôi
con mới biết công lao mẫu từ …
Mẹ than
thở với con thơ :
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Bâng
khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau
Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó
lên mả mẹ ruột đau chín chiều
Qua lời
mẹ ru, trẻ biết cảnh gia đình có cha đi xa :
Đêm
khuya trăng tà, mẹ ru
con ngủ … ạ à ạ ơi …
Ngoan ngoan con nhoẻn miệng cười
Thương con, mẹ tưởng như đời nở hoa … ạ à ạ ơi …
Sương nắng miền xa, con ơi, cha con sương nắng miền xa
Mong
sao con trẻ quê nhà được vui …
Mẹ thở
than cùng con :
Ru con,
con ngủ cho rồi
Mẹ ra
chỗ vắng mẹ ngồi mẹ than
Miệng ru mắt nhỏ hai hàng
Nuôi
con càng lớn mẹ càng lo thêm …
Con cò
mà đi ăn đêm
Đậu
phải cành mềm lộn cổ xuống ao !
Ông ơi,
ông vớt tôi nao
tôi
có lòng nào ông hãy xáo măng
Có
xáo thì xáo nước trong
Đừng
xáo nước đục đau lòng cò con …
Cái
cò cái vạc cái nông
Sao
mày dậm lúa nhà ông hỡi cò
Không không tôi đứng trên bờ
Mẹ
con cái vạc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin thì ông đi dôi
Mẹ
con nhà nó còn ngồi đây kia …
Bài ru
con được phổ biến rộng rãi trong Nam còn kèm điệu đàn bầu thiết
tha áo não :
Gió
mùa Thu, mẹ ru con ngủ
Năm
canh chầy, là năm canh chầy, thức đủ vừa năm
Nín,
nín đi con ! Con nín, nín đi con !
Con
hỡi, con là hời !
Con hỡi
con hời !
Hỡi
chàng là chàng à ơi !
Hỡi
người là người à ơi !
Em
nhớ tới chàng ! Em nhớ tới người !
Hãy
nín, nín đi con ! Hãy ngủ, ngủ đi con !
Con hỡi
con hời … Con hỡi con hời … hỡi con
!

Ngoài
mẹ hiền, trẻ thơ còn được bà nội bà ngọai truyền ru để biết nết
ăn thói ở trong gia đình :
Cái
ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ
mày đi cấy ruộng sâu chưa về
Bắt
được mười tám mười chín con trê
Cắm
cổ lôi về cho cái ngủ ăn
Cái
ngủ mày ăn chẳng hết
Để
dành đến Tết mồng ba … à ơi à … à ạ ơi …
À ơi
… cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ
mày vất vả chân tay tối ngày …
Bà nội
bà ngọai cũng ru cháu bằng những lời nhắc nhở :
Ạ à ơi
… ơi à ạ ơi …
Có cha
có mẹ thì hơn
Không
cha không mẹ như đờn đứt giây
Đờn đứt
giây còn xây lại nối
Cha mẹ
chết rồi con phải mồ côi
Mồ côi
khổ lắm con ơi
Đói
cơm không ai giúp, lỡ lời chẳng ai bênh !
Ạ ơi
ời … ạ ời ơi …
Còn cha
gót đỏ như son
Mất cha
gót mẹ gót con lấm bùn
Ru hời ru hỡi là ru …
Mất cha
con cũng u ơ
Mất
mẹ con cũng bơ vơ một mình
Cũng có
những trường hợp ông nội hay ông ngọại tiếp lời ru nhắc nhở :
Non kia
ai đắp nên cao
Sông
kia ai bới ai đào mà sâu
Ông ru
cháu là dịp truyền đạt ý chí quật cường vững lòng yêu thương quê
cha đất tổ, không ai có quyền chia cắt đất nước cho ngọai bang
hoặc chia rẽ chủng tộc :
Nước
non là nước non nhà
Ai chia
được nước ai dời được non
Con
người có tổ có tông
Như cây
có cội như sông có nguồn

Và công
lao sinh thành dưỡng dục :
Trứng rồng lại nở ra rồng
Hạt
thông lại nở cây thông rườm rà
Có
cha mẹ mới ra ta
Làm
nên thời bởi mẹ cha vun trồng
Khôn
ngoan nhờ đức cha ông
Làm
nên phải đoái tổ tông phụng thờ
Đạo
làm con chớ hững hờ
Phải
đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm
Ông
khuyên bảo cháu trai :
Làm
trai đứng ở trên đời
Sao
cho xứng đáng giống nòi nhà ta
Ghé
vai gánh vác sơn hà
Sao
cho tỏ mặt mới là trượng phu
Làm
trai cố chí lập thân
Rồi
ra gặp hội phong vân cũng vừa
Nên
ra tay kiếm tay cờ
Chẳng nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai
Và cháu
gái cháu trai đều dược dạy :
Đã
sinh ra kiếp ở đời
Trai
thời trung hiếu đôi vai cho tròn
Gái
thời trinh tĩnh lòng son
Sớm
hôm gìn giữ chẳng còn chút sai
ạ à
ạ ời ơi …
Trai
lành gái tốt ra người
Khuyên răn trong bấy nhiêu lời cho chuyên
Ông dạy cháu :
Ru hời ru hỡi là ru …
Thói thường gần mực thì
đen
Anh em bạn hữu phải nên
chọn người
Những người lêu lổng
chơi bời
Cùng là lười biếng ta
thời tránh xa
Và tinh
thần trách nhiệm :
Ai
ơi đã quyết thì hành
Đã
đốn thì vác cả cành lẫn cây
Ai
ơi đã quyết thì hành
Đã
đan thì lận tròn vành mới thôi
Và tình
đoàn kết :
Một
cây làm chẳng nên non
Ba
cây chụm lại lên hòn núi cao
Nhiều
ông nội ông ngọai lại lẩy Kiều hoặc tập Kiều khi
ru cháu, vừa dạy dỗ vừa tỏ bày tâm sự :
À ơi
ới … à ạ ơi …
Còn
non còn nước còn dài
Nắng
mưa thui thủi quê người một thân
Đoái
trông muôn dặm tử phần
Hồn
quê theo ngọn mây Tần xa xa …
À à ơi
…ới à à ơi …
Xót
thay chiếc lá bơ vơ
Kiếp
trần biết rũ bao giờ cho xong !
Bốn
bề bát ngát mênh mông
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau
Bốn
phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà
À à
ơi …
Từ
phen chiếc lá lìa rừng
Con
tằm đến thác cũng còn vương tơ
Ru hời ru hỡi là ru …

Hết lẩy
Kiều, ông lại lẩy Cung Oán :
Phong trần đến cả sơn khê
Tang
thương đến cả hoa kia cỏ này
Và lẩy
cả … ca dao :
Ngang lưng thì thắt phương châm
Đầu
đội chính sách, tay cầm chủ trương
Chân
mang đôi dép lập trường
Đi
hòai chẳng biết con đường là mô !
Có con
mà gả chồng gần
Nửa
đêm xe đạp mang phần cho cha
Có con
mà gả chồng xa
Tháng tháng nó gửi đô-la kìn kìn !
Lời lẩy
Kiều ý nhị thú vị nhất tôi được nghe một ông ngọai ru cháu là :
Trăm
năm trong cõi người ta
Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
Ơi à ơi
… à là ơi …
Thường
thường bà và mẹ bận công việc, con gái có nhiệm vụ giữ em và con
chị còn nhỏ cũng biết ru những lời dỗ dành năn nỉ :
Ạ ơ
ời … à ơ ơi…
Nam
nhi đứng ở trên đời
Thông minh tài trí là người trần gian
Ngoan ngoan, ngoan thật là ngoan
Em
thơ chị ẵm, em ngoan chị bồng
Bông
bỗng bống bồng bồng bông
Lớn
lên em phải ra công học hành
Tinh
tĩnh tính tinh là tình tinh
Chớ
nên học thói vô tình hỡi ai
Làm
trai cho đáng nên trai
Xuống
Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan
Ngoan
ngoan, ngoan thật là ngoan …
Em chưa
ngủ vì thiếu sữa mẹ :
Ơ ầu
ơ … em tôi khát sữa bú tay
Ai
cho bú thép một ngày mang ơn
(ghi
chú bú thép = bú nhờ)
Qua lời
ru, chị mượn em để nói những ước mơ :
Em
tôi buồn ngủ buồn nghê
Buồn
ăn cơm nếp cháo kê thịt gà
Buồn
ăn bánh đúc bánh đa
Buồn
ăn khoai nướng cùng là bánh trôi
Ơ ầu
ơ ớ ầu ạ ơ …
Ơ ầu
ạ ơ …
Gió
đưa gió đẩy
về
rẫy ăn còng
về
sông ăn cá
về
giồng ăn dưa …
Ầu ơ
… Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá
tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn
Chị trẻ
con nên còn giọng con trẻ :
Con
mèo mà trèo cây cau
À ơi ới
à mèo… à ơi
Hỏi
thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú
chuột đi chợ đường xa
Mua mắm
mua muối để giỗ cha chú mèo
Ơi mèo
là mèo… à ơi …

Ví von
tương thân tương trợ :
Con
cò chết rũ trên cây
Bồ
cu mở lịch xem ngày làm ma
Cà
cuống uống rượu say đà
Bao
nhiêu cóc nhái nhảy ra chia phần
Chào
mào thì đánh trống quân
Chim
chích mặc quần vác mõ đi rao …
Con
quạ tha lá lợp nhà
Con
cu chẻ lạt con gà dựng phên
Và thắm
thiết đẫm tình :
Chị
ngã thì em phải nâng
Đừng
thấy chị ngã mà em bưng miệng cười
Khôn
ngoan đối đáp người ngòai
Gà
cùng một mẹ chớ hòai đá nhau
À ơi à
ơi ời à ơi …
Em
ơi, anh em nào phải người xa
Cùng
chung bác mẹ một nhà cùng thân
Yêu
nhau như thể tay chân
Anh
em hòa thuận hai thân vui mừng
À ơi
…
Đắng
cay cũng thể ruột rà
Ngọt
ngào cho lắm nhưng là người dưng
Con chị
dại, có khi chẳng biết dỗ em, đành ngỏ lời năn nỉ vỗ về thương
yêu :
Ru
em, em hãy nín đi
Kẻo
mà mẹ đánh em thì em đau
Em
đau chị cũng buồn rầu
Bé
mồm bé miệng kêu đâu bây giờ …
Chị
mượn lời ru em để tỉ tê với mẹ :
Mẹ
ơi chớ đánh con đau
Để
con đi bắt ốc hái rau mẹ nhờ …
Đó là
giọng Bắc. Còn trong Nam, cô chị cũng cùng tâm trạng :
Ầu ơ
… ơ ầu ạ ơ …
Má
ơi đừng oánh con goài
Để
con đi câu cá nấu canh xài má ăn
Ầ ơ
… Má ơi! Con dzịch chết chìm
Thò
tay dzớt nó, con cá kìm nó cắn con !
Cô chị
miền Trung cũng hò ru em. Đặc biệt miền Trung từ Thanh Hóa vào
Thừa Thiên là võng nôi Việt cổ, nên nhiều câu hò mang nặng dấu
ấn từ ngữ Việt xưa có khi khó hiểu đối với những vùng khác.
Cô chị
lớn ru em:
Hai
tay cầm bốn tao nôi
tao
thẳng tao dùi, tao nhớ tao thương
Tao
thì báo bổ hai thân
tao
thì kết nghĩa Châu Trần với ai …
(Ghi
chú tao = giây treo nôi)
Bài ru
em của người Mường Thanh Hóa :
Rú
ru là rãy là ru
Tảy
cho lâu lâu
cho
chú đi bắn
bắn
chim mi ăn trái đào
bắn
chim tao ăn trái mận
bắn
chim lấm tấm ăn ở lưng tâu
bắn
chim kỳ chim cu ăn mạ
chó
sủa chi nhao nhao
chó
sủa con trai ngòai sông vô tìm mái
tìm
mái thì tìm nơi xa
Một
chum cà hai ba nụ bông kế
Bận
áo lễ nhà ngài chẳng cho
Chơi
trai nhởi mái thì đi cho xa
Nhởi
trên nhà được ba dùi đục
Nhởi
dưới cươi được chục cọc rào
Nhởi
bến sào được ba cơn nứa
Nhởi
dưới tỉnh được bốn cây gươm
Nhởi
về đất Mường ăn thương ở lợi, út ơi !
Bọ
mạ giục làm cửa làm nhà đàng phương xa có lợi …
(Ghi
chú tảy = ngủ; chim mi=lọai chim
két nhiều màu; chim tao = chim sẻ màu mốc xám hoặc đen;
chim lấm tấm = chim cu cườm; tâu = trâu; chim
kỳ = chim cu đất; mái = gái; kế = một loại cà
dại; ngài = người; nhởi = chơi; cươi = sân;
cơn = cây)
Vùng
Thừa Thiên với những địa danh chợ búa trong vùng :
Ru
em cho théc cho muồi
Để
mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua
vôi Chợ Quán Chợ Cầu
Mua
cau Nam Phổ mua trầu Chợ Dinh
Chợ
Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim …
Kim
găm hò áo mất rồi
Tiếc
công mẹ đã đứng ngồi chọn kim
(Ghi
chú théc = ngủ; muồi = say)
Chị
cũng bắt chước người lớn ru câu tình ca :
Ạ ơi
ời à ạ ời ơi …
Chàng về thiếp một theo mây
Con thơ
ở lại chốn nầy ai nuôi ?
(Ghi chú
mây = với)
Nhưng bản
tính trẻ con lại nghịch ngợm nổi dậy :
Ai nuôi
con trống gà vàng
Nửa
đêm dậy gáy cho chàng thức khuya ?
À ơi
ới … chàng ơi !
Thức
khuya dậy sớm cho quen
Đổ
than vô bệ để tập rèn với em !
Chị đổi
giọng :
À ơ
… Con chim nho nhỏ
Cái
lưng nó đỏ
Cái
mỏ nó vàng
Nó
kêu người ở trong làng
Đừng
tham lãnh lụa phụ phàng vải bô
Chim
khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Chim
quyên hút mật bông quỳ
Nam
kỳ lục tỉnh thiếu gì gái khôn
Con
gái khôn lấy nhầm chồng dại
Như
bứt bông hoa lài cắm … bại cứt trâu !
Chị
cũng có khi lên tiếng ngỏ lời khuyên dạy :
Ạ ơi
ời … ạ à ạ ơi …
Ngọc
kia chẳng giũa chẳng mài
Cũng
thành vô dụng, cũng hòai ngọc đi
Con
người ta có khác gì
Học
hành dốt nát ngu si hư đời
À ơi ới
… à ạ ơi … Ru hời ru hỡi là ru …
Những
điệu hò trong kho tàng ca dao tưởng không bao giờ kể hết. Một
bài viết nhỏ chẳng đủ tầm vóc ghi nhận, phần bị lãng quên hoặc
thất lạc trước đà văn minh vật chất, nhất là làn sóng phi dân
tộc của cộng sản. Nhưng mấy trang trích dẫn cũng đủ thấy sức
mạnh võng nôi điệu ru tiếng mẹ à ơi đã hà hơi truyền đạt căn bản
giáo dục vào tâm hồn trẻ thơ ngay khi mới vào đời. Sứ mạng của
mẹ là đưa con vào võng nôi văn hóa mẹ.
Quốc gia văn minh vật chất như Hoa Kỳ có
phong trào khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, ru con bằng lời
mẹ, hay ít nhất cũng dùng những băng hoặc điã nhạc ru con. Ứơc
mong sao các trung tâm băng đĩa Việt Nam, các ca sĩ trong cũng
như ngoài nước, nghĩ đến việc thực hiện những tác phẩm Ru Con
Bằng Tiếng Mẹ, để giúp trẻ có một căn bản giáo dục vững mạnh từ
nguồn văn hóa dân tộc.
Trần thị LaiHồng
Hoa bang, tháng 8-2007
Kỳ sau :
ĐỒNG DAO và TRÒ CHƠI
Tài liệu tham khảo :
-
Doãn Quốc Sỹ, Tuyển tập Văn chương Nhi
đồng, Sáng Tạo, Saigon 1969
-
Joanie Bartels, Lullaby Magic,
Discovery Music, 1980
-
Lullaby, a Collection,
Music for Little People, 1994
-
Lư Nhất Vũ - Lê Giang, Tìm hiểu Dân ca Nam
bộ, Nhà Xuất bản TPHCM, 1983
-
Minh Hiệu, Tục ngữ Dân ca Mường Thanh Hóa,
NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1999
-
Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, Tục ngữ Phong dao,
NXB Vĩnh Hưng Long, Hà Nội, 1928
-
Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, Thi ca Bình dân
Việt Nam, NXB Sống Mới, Saigon, 1978
-
Nguyễn Hữu Ba, Dân ca Việt Nam, Bộ
Quốc gia Giáo dục, Saigon, 1961
- Nguyễn Ngọc Phách, Việt sử Đương đại qua
200 câu Vè Bất hủ, tác giả ở Melbourne, Australia và Tổ hợp
Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2007
-
Nguyễn Tấn Long - Phan Canh, Đất Lề Quê
Thói, NXB Sống Mới, Saigon, 1970
-
Nguyễn Trúc Phượng, Văn học Bình dân,
Nhà Sách Khai Trí, Saigon, 1964
-
Nguyễn văn Vĩnh, Trẻ Con Hát Trẻ Con Chơi,
NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943
- Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật, Kho
Tàng Ca Dao Người Việt, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội, 1995
- Trương Tửu, Kinh Thi Việt Nam, Tủ Sách
Văn hóa Hàn Thuyên, Saigon, 1940, Xuân Thu tái bản,Houston, TX,
Hoa Kỳ
- Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ và Dân ca Việt Nam, NXB Văn
Sử Địa, Hà Nội, 1956
Trở về Trang Chính
|