|
Chuyện Huế mình nói hoài không hết
Chuyện Huế mình
viết mãi tới Tết cũng chưa xong !
(ca dao mới)
Chuyện Huế mình, biết kể
chi đây. Bởi đã có vô số người nói và viết về Huế, từ nguồn
gốc, lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá, kinh tế, xã hội …
Một số bà con bạn bè sau khi đọc
Miếng Ngon Quê Hương *, có thắc mắc là tôi chẳng nhắc chi
đến miếng ngon Huế, mặc dầu bài viết đó có ghi rằng miếng ngon
quê hương nằm trong trái tim trong máu thịt mình, bởi dẫu
không trồng tỉa được, không tìm đúng gốc Việt – hay
gốc Huế – thì gốc nào lại chẳng có cội nguồn từ lòng
đất , quê hương của con người, riêng chi Đất Mẹ !
Tuy
nhiên, cũng để chiều lòng, tôi thể tình nhắc đến mấy miếng ngon
Huế mình, kể từ thuở bắt đầu biết nếm vị đời.
Thời nhỏ dại, những miếng ngon Huế đơn giản một cục đường cắn từ
xe đường đen nhỏ còn dính chút cọng rơm khô, một mảnh tam giác
chia từ miếng bánh tráng kẹo đậu phụng rang, một viên kẹo gừng,
một miếng kẹo cau, một nắm trái sim, một bụm trái muồng … Những
miếng ngon đơn sơ đậm ký ức, bởi nhiều miếng đi liền với thế sự,
lịch sử, văn học.
-
Bao giờ gừng ngọt đường
cay
Voi
đi trên giấy thầy tăng trở về …
Kẹo gừng
thì gừng ngọt mà đường cay. Voi đi trên giấy bạc Đông Dương
thời còn thằng Tây, là thầy tăng nói lái. Kinh tế tiêu thụ từ
trự xu trự giác đổi qua bạc giấy. Dấu vết một thời thuộc địa.
Còn kẹo cau thì
- Thương nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm
mười !
Thời chúng mình lớn lên,
mấy mệ mấy o con cấy dzà quê còn ăn trầu, còn nhuộm răng đen, có
những nụ cười đỏ môi đỏ mép phô hàm răng hạt huyền nhưng nhức.
Trong khi đó, trái sim làm những hàm răng trắng chúng mình tím
rịm.
- Đói lòng ăn nửa trái sim,
Uống lưng đọi nước đi tìm người thương
Nửa trái sim. Nửa trái
tim. Vào tuổi chớm dậy thì vừa biết mơ mộng, trái tim thỉnh
thoảng cũng hẫng một nhịp, và cô nào cũng thích màu tím. Màu
này một thời là màu đồng phục nữ sinh Đồng Khánh. Từ ngày có
bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, thì hầu như
màu tím càng khắng khít thêm với những tóc thề xứ Huế. Tím như
Tà Ao Tím của Hoàng Nguyên một chiều lang thang trên
dòng Hương giang, tím như những đồi hoa Sim tím cả
chiều hoang biền biệt.
Trở lại miếng ngon Huế mình, nhất
là với chúng mình, thì phải nhắc đến Ngày Xưa Hoàng Thị, ôm
nghiêng tập vở học trò, tiểu học trung học, hầu hết đều vào
Đồng Khánh. Có bạn nhà gần, nhiều bạn nhà xa.
Xa hay gần, buổi sáng đợi trước
cổng trường, thế nào cũng bu quanh mấy mệ mấy chị bán hàng vặt.
Cũng không nhiều. Chỉ mấy cảu ** hột phượng luộc, đậu
phụng rang hay luộc, hột sót hột giẻ rang, hột xoay, me rốp …
Chừng đó cũng đủ quyến rũ lũ con gái mê ăn vặt.
Tôi cũng như một số bạn ở xa
trường, trưa ở lại. Năm nào nhà dư dã, được ăn cơm trưa nhà
trường. Giờ ra chơi buổi sáng nhiều bạn xót ruột lần mò xuống
nhà bếp. Phải quen lắm thương lắm và nịnh khéo lắm mới xin đươc
một dúm cơm cháy dòn rụm. Chia nhau mỗi đứa chỉ vừa một lủm, mà
sướng khoái thì khôn cùng.
Thường chúng tôi đem cơm theo.
Cơm bới trong mo cau non. Đó là miếng ngon
quê hương đứng hàng nhất tôi đã kể trước đây, và nghĩ rằng vì
giản tiện mà ngon, nên đã được phổ biến khắp hang cùng ngõ hẹp
từ Bắc chí Nam.
Cơm với cá
như Mạ với con. Huế như rứa.
Cơm bới ăn với cá
kho khô nhiều tiêu ớt. Cá loại nhỏ như cá cơm cá cấn cá mại, cá
bống cát bống mủ bống thệ, hoặc cá hẻn cắt khúc. Vài lát cơm
bới, vái con cá nhỏ, kèm thêm trái khế trái dưa leo hay cà chua
xanh. Vậy là đủ. Giản tiện nhất là cơm bới với muối mè, hoặc
cơm bới quẹt mắm ruốc có rắc tí ớt bột, hay cơm bới với muối sả
kho ruốc. Sang hơn, thì cơm bới kèm tôm thịt rim, hay chỉ thịt
rim mà Huế gọi là thịt kho tàu.
Lâu lâu rủng
rẻng tí tiền còm, vài bạn rủ nhau ra nhà mụ Cai trước cổng ăn
hàng. Thường thì có khoai sắn. Không hẳn được khoai Văn Xá
ruột vàng nở bung thơm lựng hay khoai Chí Long to vồn tốt cổ,
nhưng bọn con gái cũng vắt chân chữ ngũ đánh vài củ cho
vui miệng. May gặp lúc có bánh bèo bánh bột lọc, nhưng thừơng
khi nào cũng có chè đậu xanh đậu ván bánh tráng chè kê.
Còn thì giờ,
chúng mình kéo nhau ra công viên trước cổng trường, bên bờ sông
Hương, nơi có con suối nhỏ nước trong suốt thấy lòng cát trắng
lăn lóc vài viên cuội, và bầy cá mặt trăng tung tăng xuôi
ngược. Cạnh suối, mấy chú tiều bày bán kẹo kéo, yếng thoòng.
Tôi rất thích món yếng thoòng với những sợi tơ đường quyện đậu
màu cốm non thơm phưng phức, bỏ vào miệng là tan biến.
Buổi tối về
nhà, quây quần quanh mâm cơm gia đình. Vẫn cơm với cá. Theo
mùa, có cá ong cá kình cá dầy cá giếc cá hanh cá đối cá thu cá
ngừ … kho nước, mỡ vàng óng ớt đỏ long lanh trên mặt. Cá kho
nước ăn với dưa giá dưa nưa làng Phù Lễ, dưa kiệu làng Kệ Liệu,
dưa môn làng Đại Lược, dưa cải dưa chuối dưa măng … Kho khô thì
cá đối loại nhỏ, cá nục cá bống cá trê … Thỉnh thoảng cũng có
thịt, và thường là thịt heo luộc cắt mỏng ăn kèm mắm. Mắm tôm
chua gốc Gò Công, theo chân bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức ra Huế.
Ngoài ra có mắm nêm mắm cá thu mắm thính cá chuồn cá nục, mắm
mòi … Mắm mòi đòi rau mưng, nhưng nói chung ăn
mắm phải kèm rau sống đủ loại ngoài vườn, thêm khế, chuối chát,
vả.
Mâm cơm Huế nhà
nào cũng có rau. Rau sống như vừa kể, hoặc rau luộc, hoặc canh
rau. Rau trai rau rìu rau éo, nhưng thường là rau má rau muống,
nhất là rau khoai lang.
- Nhà giàu bổ cơm bổ cá
Nhà khó bổ rau má
rau khoai
Rau
luộc chấm tương chùa Thiên Mụ, chấm mắm nêm, nước cá, và đặc
biệt là chấm nước tôm kho đánh. Không cần tả, các bà các cô mấy
o mấy mệ, và cả mấy ôôn nữa, đều rành rẽ món nước tôm kho đánh
này.
Ngoài món rau luộc,
còn món canh. Thường vẫn là canh rau, đặc biệt là canh rau tập
tàng. Rau sau vườn, mùa nào cũng có, không nhiều thì ít. Vườn
nhà chúng tôi ở Hoa Bang có nhiều rau, nên luôn luôn có nhiều
món rau trong các bữa ăn. Huế có câu hò về rau bát bát
- Giây bát bát leo quanh hòn Núi Chén
Con
ve-ve đậu trên đỉnh Ngự Bình
Em
muốn vô làm dâu thảo cho phụ mẫu mình
Trước coi gia cang
bề thế, sau nấu đôi bình nước khuya
Cây leo
bát bát vườn chúng tôi được bám quanh hàng rào.
Mồng tơi leo dựa chói *** tre. Loại
bò có rau khoai rau má – má Huế mình thứ thiệt - và các
rau khác có bồ ngót, giền, đay, muống, sam, sâm … Canh rau tập
tàng – thập toàn, mười loại – gồm nhiều loại, có chi hái
nấy. Ngắt thêm vài lá lốt non, vài lá ngò gai cho thêm hương.
Thích vị chua thì thêm vài lá me đất. Mùa hè vùng này nhiều
mưa, lùm tre sau vườn lên măng. Chịu khó đào, đem luộc kỹ, cắt
mỏng, thêm vào nồi canh. Giàn mướp hương mướp ngọt cũng được
dùng.
-
Chiều chiều gọt mướp nấu canh
Thấy anh qua lại
thêm hành cho thơm
hay là
-
Xanh xanh giây mướp leo rào
Người dưng mới gặp biết chào làm sao ?
Dễ quá ! Mời chị
mời anh thời chén canh rau tập tàng, ăn vô mát cả can tràng ruột
gan. Thêm trái cà ứ hự cho dòn răng dòn miệng. Toàn cây nhà lá
vườn thôi.
*
* *
Tôi không thích
nấu nướng. Đã không thích, lại còn vụng, không biết nêm nếm.
Nhưng có lẽ chủ quan và cũng khó tính, những món Huế đối với tôi
phải đúng là Huế, nhất là món có dính chặt tên Huế : bún bò Huế.
Với tôi, bún bò Huế phải đúng Huế : đậm vị ruốc, thơm nức mùi
sả, cay nồng vị ớt, chỉ dùng bò bắp có gân và chân giò heo. Rau
ăn kèm chỉ có hành tây cắt mỏng, răm, hành lá và ngò thái
nhuyễn. Thêm ngò gai nếu muốn, nhưng không giá sống, không giá
trần, không rau chuối, không rau mùi. Dù bất tri kỳ vị,
nhưng tôi cho rằng bún bò Huế như vậy mới chính cống Huế. Không
thêm huyết heo, bò vò viên hay chả lụa.
Nhưng phải thú
thật, sinh trưởng ở Huế mà chúng tôi không mấy thích món bún bò
Huế.
Miếng ngon Huế
mà cả hai chúng tôi cùng thích nhất và cho là Huế nhất, là Cơm
Hến. Đọc đâu đó có câu đố
- Món chi
thuộc loại cơm nghèo
Cơm
thì cơm nguội lại nhiều ruốc rau
Có vui thì mới gọi nhau
Cớ chi sì sụp giọt sầu
chứa chan !
Đúng là cơm nghèo. Toàn
dùng các thứ dư thừa hoặc có sẵn trong nhà, sau vườn. Chỉ cần
ra ngoài rào *** cào một mớ hến đen nhỏ, là có ăn. Khá
giả thì ra chợ mua hến Cồn bên kia Vỹ Dạ.
Hến
chà sạch, bắc nước sôi luộc. Hến há miệng bày con thịt bên
trong, chịu khó xóc nhặt là được một mớ. Nước hến đùng đục, nêm
tí muối và củ gừng đập dập, để nong nóng sẽ chan vào đọi.
Cơm Hến sửa soạn kỹ cũng cầu kỳ.
Ngoài cơm nấu rồi để nguội, hến xào, nuớc hến, phải có mè rang
vàng giã dập, đậu phụng rang giã hơi dập rồi phi dầu hay mỡ, da
heo rang dòn bóp nhỏ, tóp mỡ rán dòn - hai món này nên loại bỏ
vì nhiều dầu mỡ béo quá - bánh tráng Sịa dày nướng vàng bóp
vụn, ớt bột phi tỏi dầu, ruốc sống hoặc ruốc kho tỏi phi dầu,
gừng xắt mỏng thái sợi, tỏi thái nhỏ. Đó là các thứ làm dậy mùi
vị Cơm Hến.
Các thứ rau rửa sạch cắt nhuyễn.
Cần nhất là rau răm, kế đó là rau thơm, kinh giới, ngò, ngò gai,
quế, tía tô, lá hẹ … Có người không ăn được rau diếp cá thì nên
để riêng một dĩa đã cắt nhuyễn. Khế chua cắt nhỏ. Không có khế
dùng táo xanh. Bắp chuối hoặc nõn cây chuối con thái mỏng.
Không có bắp chuối hoặc nõn chuối thì dùng bắp cải tím và bắp
cải trắng. Thêm bạc hà thái nhuyễn nếu muốn, nhưng có khi bạc
hà làm lưỡi lăn tăn ngứa.
Vườn nhà chúng tôi có trồng khoai
lang, loại vỏ trắng ruột tím hồng rất ngọt. Đào vài củ đem
luộc, cắt cỡ đầu đũa bày thêm.
Đọi Cơm Hến nhà quê dùng loại đất
nung thô. Cơm vừa nguội xới bày phía dưới, thêm vài đũa khoai
luộc, bên trên bày các loại rau mỗi màu một góc, làm nền cho vài
muỗng hến xào, tí mè, tí tỏi, tí gừng, vài hạt đậu, dúm bánh
tráng vụn, chút ớt phi … Sau cùng là nước hến rưới ngập, và
nêm ruốc đã xào ớt tỏi hoặc ruốc sống. Cơm Hến không làm riêng
rẽ từng đọi này đọi nọ, mà ăn vơi tới đâu châm thêm tới đó:
thêm chút nác rồi thêm chút nác, tuỳ khẩu vị. Muốn cay, cắn
thêm ớt tươi, ớt chìa vôi hay ớt hiểm, vừa sì sụp vừa rớt nước
mắt vắt nước mũi.
Trên dĩa rau hay rá rau cắt nhuyễn
bày bàn, tôi hay bày thêm một chùm hoa Mai Huế hay Mai Tứ Quý
vàng tươi, hoặc dăm bông yên chi – tức là bông phấn – màu tím
đỏ, nổi bật trên nền rau xanh. Có bạn đề nghị bày vài cánh hoa
Hồng hay Tường vi, và nhiều người lại dùng hoa Vạn thọ. Tôi cho
rằng hoa Mai là loại rất thân thương của Huế, và hoa yên chi là
đê’ nhớ đến ngày trước mấy mệ trong nội dùng hạt hoa này làm
phấn nụ. Yên chi là tên chữ của bông phấn, nhắc đến Tuý Hồng,
nhà văn của Huế với tác phẩm Mưa Thầm Trên Bông Phấn.
Đọi Cơm Hến, miếng ngon Huế mình,
với tôi, là linh hồn của Huế. Hạt cơm, con hến, những cọng rau,
đoá Mai vàng, bông yên chi, các thứ gia vị, nước dùng … tất cả
hài hoà như một câu chuyện – chuyện Huế mình – viết bằng những
nét chữ của Đất, của Trời, và của Người.
* Trần thị LaiHồng, Miếng Ngon
Quê Hương, Văn Học số 211 tháng 10, 2003, và mạng lưới
Gió-O, cùng thời điểm
** Cảu, tiếng Việt cổ, có
nghĩa là cái rổ nhỏ
*** chói, tiếng Việt cổ, có
nghĩa là cành cây nhỏ
Trở về Trang Chính
|