|
Chắc một số lớn anh chị
em vẫn còn nhớ đến phim „Frankenstein“+1), chuyện
khoa học gia Dr. Frankenstein đã lấy những bộ phận cơ thể của
xác chết, ráp nối lại và dưới tác dụng của điện năng từ tia chớp
rạch trời trong một đêm giông bão đã tạo ra được một người, một
sinh vật sống. Nhưng rồi sau đó ngoại cảnh bất trắc đã khiến con
„người nhân tạo“ thoạt đầu vô tâm, khờ khạo thành một „quái
vật/monster“ giết người, gây bao nhiêu tang tóc. Chính trong ẩn
ý „nhân tạo“, qua mặt tạo hóa, cùng với „ác tính, quái vật“ của
câu chuyện Frankenstein mà chúng ta có danh từ „Frankenstein
Food“, một từ ngữ có tính cách chê bai/chỉ trích/đánh giá thấp,
được dùng bởi những hội đoàn/cơ quan chống đối+2) để
chỉ những sản phẩm, những thức ăn biến chế liên quan đến phương
pháp phối hợp yếu tố di truyền (=Gentechnik/Genetic
engineering/công nghệ di truyền học?!)+3)
Sự
thật như thế nào và thực phẩm „bị biến đổi yếu tố di truyền“
(sau đây viết tắt là „GMO“=genetically modified organism) nên
được xem là „ân huệ“ hay „đại họa“ trong việc cung cấp thực
phẩm cho nhân loại? Sau đây đôi điểm về sự thành hình/sản xuất,
về điều hay/tính xấu của thực phẩm GMO để chúng ta cùng bàn
luận.
Thực phẩm GMO
Với sự tiến bộ nhanh chóng của
ngành Sinh học Phân tử (Molekularbiologie) người ta lần biết rõ
được thành phần, cấu trúc của yếu tố di truyền (=Gen/Gene, sau
đây dùng từ ngữ „Gen“) ở người, thú cũng như cây cỏ. Trên bình
diện Sinh hóa học (Biochemie) đó là những phân tử DNA+4)
có cấu tạo/tính chất đặc thù nằm liền nhau theo một thứ tự nhất
định trên nhiễm thể trong nhân tế bào sinh vật. Gen cho một đặc
điểm như da vàng/da trắng ở người, độ ngọt/độ chua của trái quả,
màu hường/màu trắng của bông hoa... được định bởi một phần/một
đoạn trên sợi DNA. Trong công nghệ di truyền học (sau đây dùng
danh từ „Gentechnik“) những kiến thức trên được dùng để
- xác định
tính chất cũng như vị trí của Gen cho một đặc điểm trên sợi
DNA (® Gen-Identifikation) thí dụ Gen tạo tinh bột, tạo
Lectin để chống côn trùng,...
- phân
cắt/tách rời Gen chọn lựa (® Gen-Isolierung)
- phối hợp
Gen chọn lựa vào một phương tiện chuyển nạp/mộtVektor trung
gian+5) (® Gen-Rekombination)
- chuyển đưa
Gen chọn lựa qua Vektor trung gian vào sinh vật/thực vật
nhận (® Gen-Transformation)
- kích
thích/phát động sự tăng trưởng của sinh vật/thực vật GMO có
chứa Gen chọn lựa (® Gen-Expression) và như vậy người ta tạo
lập được cây/thú GMO (=cây/thú „transgen“)
Kết quả quá trình khảo cứu trên đã
giúp khoa học gia xác định/phân tách/kết hợp được một số Gen
điều chỉnh/cấu tạo những tính chất/đặc điểm thích hợp, đặc biệt
trong lãnh vực nông nghiệp:
a)
Gen cãi tiến phẩm chất thực
phẩm, chẳng hạn
- Gen cấu
tạo dầu, chất béo thực vật
- Gen hỗ trợ
sự cấu tạo thành phần Amylopektin của tinh bột
(Stärke/starch/amidon) ở khoai tây (Kartoffel/potato), thích
hợp cho việc chế tạo những sản phẩm kỹ nghệ như keo, giấy
bao mỏng (Folien), vật liệu bao bọc/chuyên chở
(Verpackungsmaterial/ Packaging material), ....
- Gen gia
tăng lượng acít amin khẩn yếu Tryptophan, Lysin (như ở bắp
với „high-lysin LY038-Mais“)
- Gen cấu
tạo Fruktan và Inulin ở khoai tây, những chất được xem có
lợi trong vấn đề sức khỏe
- Gen tạo
nên những diếu tố cần thiết (Phytoensynthase,
Lycopencyclase, Desaturase Crt1) cho sự cấu tạo ß-Carotin (®
tiền sinh tố A) ở lúa „Golden Rice“
- Gen tạo
diếu tố Polygalacturonase (® phân hóa màng tế bào làm trái
Tomate mềm ra). Sự hiểu biết Gen nầy giúp người ta tạo ra
một Gen đối xứng nghịch chiều (Negativkopie), một
„Anti-Sense-Gen“, ngăn chận quá trình làm trái mềm, mau hư.
Với Anti-Sense-Gen nầy cà tô-mát GMO
“Anti-Masch-Tomato/Flavr-Savr-Tomato” giữ lâu được tạo lập.
-
v.v..............
b)
Gen cấu tạo chất chất đối kháng
với côn trùng, với thuốc diệt trừ cỏ dại,
chẳng hạn
- Gen tạo
‚Protein Bt’ từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis. Protein Bt+6)
là độc tố đối với một số côn trùng sâu bọ (nhưng không đối
với người). Thực vật GMO được chuyển Gen Bt có khả năng đối
kháng lại sự phá hại của côn trùng sâu bọ. Gen nầy được dùng
nhiều ở „bắp-Bt/Bt-Mais“ để chống lại sâu Maiszünzler (corn
borer ® ấu trùng của loại bướm=Motte Ostrinia nubialis) cũng
như ở cây bông gòn (Baumwolle/cotton)

- Gen tạo
Lectin GNA+7) (Galanthus Nivalis Agglutinin)
chống lại côn trùng và Nematoden từ củ/rễ của cây bông
Schneeglöckchen (snowdrop)
- Gen tạo
diếu tố/Enzym Chitinase làm hư hại màng tế bào nấm mốc, đặc
biệt mốc sương (Mehltau/mildew, blight/blanc) và mốc
Grauschimmel (gray mold/botrytis)
- Gen tạo ra
diếu tố PAT-Enzym (Phosphinothricin-Acetyl-Transferase) từ
vi khuẩn Streptomyces viridochromogenes trong đất chống lại
được thuốc diệt trừ cỏ dại Phosphinotricin Basta cũng như
Glufosinat (® LibertyLink)+8)
- Gen tạo ra
diếu tố CP-4 EPSP-Synthase từ Agrobacterium tumifeciens
chống lại thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat (® RoundUp)+8)
- Gen tạo
nên vỏ Protein của siêu vi khuẩn (® Virushüllprotein) được
đưa vào củ cãi đường (Beta vulgaris/Zückkerrübe) để cây đề
kháng/„miễn nhiễm“ lại Virus gây bịnh Rhizomania
(Wurzelbärtigkeit) ở củ cãi đường
- Gen tạo ra
Protease-Inhibitoren làm hại côn trùng sâu bọ
- v.v.........
c)
Gen tạo hoạt chất
(Wirkstoffe/active agents), diếu tố/kích thích tố (Enzyme/
Hormone), dược phẩm... chẳng hạn
- Gen tạo
diếu tố Chymosin+9) dùng trong kỹ nghệ làm
„phó-mát“ (Käse/cheese/ fromage) từ màng ruột thú được
chuyển nạp vào men (Hefe/yeast/ levure)
- Gen tạo
Lactoferrin và Lysozyme được chuyển nạp vào lúa (rice), lúa
mạch (barley)
- Gen cũng
như „đoạn Gen/Gensequenz“ (® Promotor) hỗ trợ sự tạo sinh tố
(B2, B12,...), diếu tố (alpha-Amylase, Nisin, Lysozyme, ...)
được chuyển nạp vào những vi sinh thích hợp (thí dụ: vi
khuẩn Bacillus subtilis, nấm Ashbya gossypii cho sinh tố B2;
vi khuẩn Lactobacillus lactis cho Nisin,...) để vi khuẩn nầy
cấu tạo sinh tố, diếu tố, dược phẩm liên hệ
- Gen tạo
chất có dược tính (Antithrombin, Insulin,...) được chuyển
nạp vào tế bào thực vật cũng như thú để tạo lập dược phẩm
chọn lọc (® Gene Pharming/Molecular Pharming)
-
v.v....................
Những kiến thức khoa học trên đã
được thực hiện trong đời sống thực tế và ở lãnh vực canh nông,
theo tài liệu tính đến năm 2004, 17 quốc gia trên thế giới đã
canh tác cây GMO trên diện tích 81 triệu héc-ta. Quốc gia trồng
thực vật GMO nhiều nhất là Mỹ với gấn 50 triệu héc-ta và sau đó
là Á-Căn-Đình (Argentina) với khoảng 16 triệu héc-ta.

Mặc dầu đến hiện tại có trên 2000
loại cây (Variante) được chuyển nạp Gen tạo nên tính chất đặc
thù (®
thường được gọi là „Events“), nhưng phần lớn vẫn ở tình trạng
thí nghiệm/kiểm chứng trong Lab/phòng thí nghiệm hoặc rộng rãi
hơn là thí nghiệm ngoài trời (Freisetzungsversuch/field trial).
Chính thức được phép trồng trọt/canh tác thương mãi chỉ dành cho
một số ít cây GMO thông dụng và tùy thuộc quyết định của từng
quốc gia riêng rẽ. Sau đây một số thực vật GMO được chính thức
cho phép canh tác và do đó liên hệ không nhiều thì ít trong nếp
sống thường nhật của chúng ta
- Bắp/ngô-Bt
với Gen tạo Bt-Protein chống lại sâu Maiszünzler cũng như
bắp GMO chống lại thuốc diệt trừ cỏ dại
Glyphosat/Glufosinat. Tùy theo Gen được dùng (có khoảng 243
Gen tạo Bt-Protein khác nhau) người ta có những loại bắp-Bt
(®Variante) khác nhau . Ở Mỹ có khoảng 20 loại bắp-Bt được
chính thức cho phép canh tác. Riêng ở Đức chỉ có loại bắp-Bt
MON 810 của hãng Monsanto được phép trồng thương mãi. Trực
tiếp thâu nhận bắp-Bt/GMO nầy là gia súc qua thức ăn. Trong
lãnh vực thực phẩm cho người, sản phẩm được dùng và bán
trên thị trường ngoài bột bắp làm bánh, thường là sản phẩm
ép/biến chế từ hạt bắp như dầu, tinh bột/si-rúp... (những
sản phẩm trên nguyên tắc không khác gì dầu, tinh bột/sirup
tinh lọc từ bắp thường).
- Đậu nành
Soja đề kháng thuốc chống cỏ dại Glyphosat (®
Roundup-Ready-Soja): phần lớn dùng làm thực phẩm gia súc.
Trong kỹ nghệ thực phẩm cho người những sản phẩm biến chế từ
đậu Soja GMO là protein, dầu, Lecithin dùng nhiều trong kỹ
nghệ làm bánh (Backwaren/backery products/pâtisserie)
- Củ cãi
đường đề kháng lại được thuốc chống cỏ dại
Glyphosat/Glufosinat. Đường trắng (Saccharose) tinh lọc từ
củ cãi đường nầy không khác gì đường thường.
- Khoai tây
loại Amflora (BASF Plant Science) với tinh bột có thành phần
Amylopektin cao (80%) dùng điều chế giấy, keo dán,... đang
chờ đợi được EU chính thức cho phép canh tác trong năm 2007.
Khoai tây Amflora chỉ nhầm dùng làm nhiên liệu cho kỹ nghệ
vật dụng và không được dùng trong lãnh vực thực phẩm
- Tô-mát lâu
hư, chín chậm: thực tế vì không ngon như tô-mát thường nên
tô-mát GMO chỉ được dùng để làm Ketchup, tô-mát hộp (xay
nhuyển/Puree)
- Bông vải
(Baumwolle/cotton) đề kháng lại sâu phá hại và thuốc diệt
trừ cỏ dại. Trong lảnh vực thực phẩm cho người chỉ có dầu
tinh lọc từ hạt bông vải được dùng để chiên và đặc biệt để
làm Magarine
-
v.v...........
|
Tình trạng canh tác cây trồng GMO
|
|
Thực vật
GMO |
Mục tiêu
canh tác |
Chính
thức được phép*) |
Phụ chú |
|
trồng
thí nghiệm ngoài trời |
canh
tác/ dùng sản phẩm |
Đậu tương Soja (Glycine max)
|
·
đề
kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat
·
cãi
tiến phẩm chất (thành phần acít béo) |
EU (18),
USA (1080), CND (166), Á Căn Đình, Ba Tây, ... |
EU (1), USA
(6), CND (4), Á Căn Đình, Ba Tây,... |
Ở Âu Châu
thật sự chưa được trồng. Sự cho phép chỉ nhầm nhập cảng
và dùng biến chế thực phẩm cũng như làm thức ăn gia súc |
|
Bắp/ngô |
·
đề
kháng sâu bọ, thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/
Glufosinat
·
cãi
tiến phẩm chất (thành phần tinh bột) |
EU (728),
USA (5800), CND (280), Á Căn Đình (387), Tân Tây Lan
(2),... |
EU (19,
nhưng thật sự chỉ có 3 được phép canh tác), USA (21),
CND (22), Úc (12), Trung hoa (8), Nga (3), Đại Hàn (4),
Nhật (4), Á Căn Đình, Nam Phi,... |
Ở Âu Châu
bắp GMO là cây trồng duy nhất chính thức được phép canh
tác, nhưng thực tế đến 2006 chỉ có 5 quốc gia ở châu nầy
trồng bắp GMO. Ở Đức chỉ có bắp Bt loại/Variante MON 810
được phép trồng |
|
Cây dầu
Raps/ colza |
·
đề
kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat
·
cãi
tiến phẩm chất (thành phần acít béo) |
EU
(385), CND (1741), USA (232), Á Căn Đình (8), ... |
EU
(7), USA (10), CND (13), Nhật (11), Úc (7), Trung hoa,
Phi Luật Tân, .... |
Ở
Âu Châu việc canh tác thương mãi vẫn chưa có. Được trồng
nhiều nhất ở Gia Nã Đại |
|
Khoai tây |
·
đề kháng lại nấm
mốc
·
cãi tiến phẩm
chất (thành phần tinh bột) |
EU
(281), USA (769), CND (473), Á Căn Đình (20), Úc, ... |
USA
(4), CND (4) |
Ở
Âu Châu chưa có việc canh tác thương mãi (2 đơn xin phép
đã được nộp và có thể được chấp thuận bởi EU trong năm
2007) |
|
Củ
cãi đường |
·
đề kháng thuốc
diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat
·
đề kháng lại bịnh
gây bởi Virus |
EU
(290), USA (193), CND (54), Á Căn Đình, Nhật,... |
USA (3), CND
(2), Úc (2),.... |
Ở USA chỉ được
phép trồng thí nghiệm giới hạn; ở Âu Châu canh tác
thương mãi sớm lắm vào năm 2010 |
|
cây bông vải |
·
đề
kháng sâu bọ, thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/
Glufosinat
·
thích
ứng nơi trồng bất lợi |
EU
(54), USA (796), Á Căn Đình, Nhật,... |
EU
(5), USA (12), Á Căn Đình, Trung Hoa, Ấn Độ,...
|
Ở
Âu Châu chưa được phép canh tác thương mãi |
|
Lúa mì, lúa mạch |
·
đề kháng thuốc
diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat
·
đề kháng lại nấm
mốc
·
cãi tiến phẩm
chất |
EU
(6), USA (61), CND (6), ... |
chưa được phép chính thức canh tác |
Năm
2004 hãng Monsanto đã rút đơn xin trồng lúa mì
“Roundup-Ready-Wheat”; chưa có triển vọng trong tương
lai |
|
Cà tô-mát |
·
cãi tiến phẩm
chất: lâu hư thối |
EU
(75), USA (560), CND (7), Mễ Tây Cơ (28), Trung Hoa, Ấn
Độ,.... |
USA
(6), CND (4), Mễ Tây Cơ, ... |
vì
vị ngon ngọt xấu nên ngay cả ở Mỹ không được dùng để ăn
trái tươi, chỉ dùng để làm Ketchup, tô-mát hộp. Ở Đức
không có sản phẩm làm từ tô-mát GMO nầy |
|
Đu đủ (carica
papaya) |
·
đề
kháng lại Virus hại cây (Papaya Ringspot Virus)
·
đề
kháng lại vi khuẩn và côn trùng
·
cãi
tiến phẩm chất (chín chậm) |
USA (25), CNA,
Trung Hoa,... |
USA (1), CND
(1) |
Ở Âu Châu canh
tác cũng như thương mãi sản phẩm không được phép |
|
*) số
trong ngoặc = số lượng cây GMO (Variante/Events) được
cho phép trồng thí nghiệm ngoài trời
(Freisetzungsversuche/Field trials) và được phép canh
tác thương mãi (cũng như được phép dùng sản phẩm). EU=
Cộng Đồng Âu Châu; USA=Mỹ/Hoa Kỳ; CND=Gia Nã Đại
Tài liệu trích
dẫn: K. Dorsch; Top Agrar 9/2006 cũng như từ:
www.transgen.de |
Những thực vật GMO
khác tuy được khảo cứu/thí nghiệm nhiều, nhưng thực tế chưa được
chính thức trồng thương mãi từ ngũ cốc GMO như lúa mì
(Weizen/wheat/blé), lúa mạch (Gerste/barley/orge), lúa LL Rice
62 đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại cũng như sâu phá hại cho đến
lúa với Gen tạo lập ß-Carotin (®
tiền sinh tố A).
Nhìn kỹ tình trạng
cây GMO được phép canh tác, chúng ta có thể kết luận thực phẩm
tươi GMO vẫn chưa có mặt ở các quầy hàng, siêu thị nhất là ở Âu
Châu (ngoại trừ đu đủ và Zucchini vàng ở Mỹ), dầu là qua báo
chí, ti-vi, truyền thanh chúng ta có cảm tưởng như là thực phẩm
GMO đang đầy dẫy trong phần ăn hằng ngày của chúng ta.
Điều hại/điểm lợi
của thực phẩm GMO
Mọi sự việc đều có hai mặt trái/phải. Thực vật -
và do đó thực phẩm - GMO cũng vậy! Nếu qua cây trồng GMO
-
tính chất sản phẩm được cãi thiện (lượng
cũng như phẩm) - và cãi thiện nhanh chóng - theo mục tiêu
mong muốn
-
sự canh tác được dễ dãi, thuận lợi qua biện
pháp bảo vệ mùa màng chống lại côn trùng/sâu bọ, diệt trừ cỏ
dại
thì ngược lại cây trồng GMO cũng đưa ra nhiều
câu hỏi không phải chỉ trên bình diện canh tác, dinh dưỡng mà
còn cả trên bình diện môi sinh, kinh tế, xã hội, đạo đức/tôn
giáo. Thực tế cây/sản phẩm GMO có mặt trên thị trường đều phải
trãi qua nhiều giai đoạn trắc nghiệm - đặc biệt phải được xác
nhận là vô hại trong vấn đề dinh dưỡng, sức khoẻ - và như vậy
trên nguyên tắc không có gì đáng lo ngại khi dùng thức ăn có sản
phẩm GMO. Tuy nhiên thực trạng cũng như một số
“xì-căng-đanh/scandal” chung quanh sản phẩm GMO đã đưa ra nhiều
vấn đề để suy nghĩ.
a)
ảnh hưởng của đoạn Gen
chuyển nạp (Genkonstrukt) và nguy cơ gây dị ứng (Allergie)
·
Qua sự tiêu
hoá (Verdauung/digestion) và sự biến dưỡng tự nhiên trong cơ thể
(Metabolismus/metabolism) thực phẩm mà chúng ta thâu nhận luôn
luôn được phân hóa thành những đơn vị nhỏ (®
mất đi tính chất đặc thù nguyên thủy), được biến đổi/hoàn nguyên
(metabolisieren/metabolize) thích hợp để dùng/để tổng hợp các
chất cần thiết trong cơ thể hoặc -nếu không- bị đào thải qua
phân và nước tiểu ra ngoài. Chính nhờ vậy mà chúng ta ăn thịt
heo vẫn không ...thành heo, vẫn không có “thịt heo” (=protein có
cấu trúc như protein thịt heo) trong người, ăn bánh mì với
Glutenprotein chúng ta vẫn không có Gluten trong cơ thể... Tương
tợ, Gen trong sản phẩm GMO khi được người/thú thâu nhận đều bị
phân hoá không còn giữ cấu trúc đặc thù của Gen đó. Ăn sản phẩm
GMO -ngay khi có nuốt nguyên một đoạn Gen chuyển nạp- chúng ta
vẫn không thể đề kháng lại được ...thuốc diệt trừ cỏ dại hay sâu
bắp Maiszünsler. Đoạn Gen chuyển nạp (=lượng DNA lạ) trong sản
phẩm GMO, chính nó không có ảnh hưởng gì nhiều trong việc ăn
uống của chúng ta (dầu quan điểm nghi ngờ ngược lại vẫn có từ
nhóm chống đối như ở các khoa học gia A. Pusztai, S. Ewen, S.
Bardocz). Trong ý nghĩ nầy đừng quên, qua thức ăn bình thường
mỗi ngày chúng ta thâu nhận khoảng 100-1000mg DNA lạ (từ nhân tế
bào trong thức ăn)+10)
·
Điểm đáng đề
cập là “chất lạ” được tạo lập trong cây/sản phẩm GMO có gây thêm
ra những bất lợi nào khác không? Đúng ra “chất lạ” tạo bởi Gen
chuyển nạp là chất mà người ta mong muốn, từ chất có lợi như
tinh bột, acít béo, Lactoferrin, ... cho đến chất độc như
Protein Bt hay Lektin, và như vậy trên nguyên tắc người ta biết
rõ tính chất/cơ năng/tác dụng của chất nầy ngay trước khi tạo
cây/sản phẩm GMO tương ứng. Điển hình là chất Lectin ở khoai tây
GMO, một khoai tây được chuyển nạp Gen tạo ra chất nầy lấy từ rễ
của cây bông Schneeglöckchen (snowdrop/Galanthus nivalis). Chất
Lectin GNA (=Galanthus Nivalis Agglutinin)+7) là
một Haemagglutinin thực vật (®
Phytohaemagglutinin có nhiều ở các loại đậu/Leguminosen) chống
lại sự phá hại của côn trùng sâu bọ (như sâu lá Blattlaus/aphid,
sâu róm Raupe/caterpillar, Nematode) có lợi cho việc bảo vệ mùa
màng, nhưng ở người/thú là một chất độc làm máu đông lại
(agglutinieren/agglutinate) cũng như có tác dụng tai hại cho
màng ruột khiến sự tiêu hóa, sự hấp thụ chất dinh dưỡng bị ngưng
chận/giảm thiểu và như vậy sự tăng trưởng bị đình trệ. Với khoai
tây GMO nầy Arpad Pusztai (Rowett Research Institute=RRI)
+11a,b,c,d) vào khoảng cuối thập niên 90 đã làm thí nghiệm
với chuột và cho thấy khoai tây GMO (với hàm lượng Lectin GNA
cao 25,4µg/g chất khô so với 0(nil)µg/g ở khoai thường) gây ảnh
hưởng không tốt lên sự màng ruột và làm chuột chậm lớn. Kết quả
thí nghiệm, nếu nhìn kỹ, chỉ có thể đưa đến nhận định: a)
sự thành công của phương pháp Gentechnik trong việc gia tăng hàm
lượng chất Lectin chống lại côn trùng, và cùng lắm cho thấy
b) lượng Lektin cao cũng có thể gây tác dụng tai hại, và như
vậy việc dùng Gen tạo lập Lectin GNA cho khoai tây cần phải được
kiểm định thận trọng (thật sự khoai tây GMO với Gen tạo Lectin
GNA cho đến hiện tại chỉ dùng trong lãnh vực thí nghiệm/nghiên
cứu chớ không được phép canh tác thương mãi và do đó không có
mặt trên thị trường tiêu thụ). Tuy nhiên A. Pusztai không cho
là như vậy. Dựa vào sự biến đổi độ dày của đoạn ruột không tràng
(Jejunum) và ruột dư (Caecum) của chuột, ông nhận định...
“...tác dụng
kích thích tăng trưởng mạnh của khoai tây GMO sống/không nấu
chín lên đoạn ruột không tràng cũng như tác dụng ngược lại lên
đoạn ruột dư của khoai tây GMO nấu chín chỉ có một phần gây bởi
sự phát triển Gen (GNA gene expression
®
ở đây có nghĩa là bởi hàm lượng Lectin GNA; ghi chú người viết).
Những đoạn khác của Gen chuyển nạp hoặc quá trình chuyển
Gen/Transformation (trong ý: do đó tạo lập chất lạ; ghi chú
người viết) đã có thể đóng góp vào tác dụng chung trên......
the potent proliferative effect of raw
GNA-GM potatoes on the jejunum, and the antiproliferative effect
of boiled transgenic potatoes on the caecum can be attributed
only partly to GNA gene expression. Other parts of the GM
construct, or the transformation, could have contributed to the
overall effects”+8).
Kết luận cho rằng “đoạn/phần Gen chuyển
nạp/Genkonstrukt” cũng như quá trình phối hợp yếu tố di truyền (®
Gentransformation) ở khoai tây GMO đã ảnh hưởng tai hại lên màng
ruột, lên cơ quan tiêu hóa của A. Pusztai đã gây sự tranh luận
sôi nổi trong giới khoa học cũng như trên báo chí/truyền
hình/truyền thanh và cũng từ đó danh từ “Frankensteinfood” được
phát sinh để chỉ một cách mỉa mai/chê bai những sản phẩm GMO.
Thật ra sự kiểm chứng bởi ACNFP (Advisory Committee on Novel
Foods and Processes=Ủy ban Cố vấn Thực phẩm và Biến Chế Mới) và
COT (Committee on Toxicology of Chemicals in Food, Consummer
Products and the Environment=Ủy Ban Kiểm định Độc tính của Hóa
chất trong Thực phẩm, Sản phẩm tiêu thụ và Môi sinh)
+12a,b) ở Anh Quốc cho thấy “...thí nghiệm không được
hoạch định hợp lý và không trả lời được giả thuyết rõ ràng nào
....the studies were poorly designed and did not appear to be
addressing any clear hypothesis” vì khẩu phần thí nghiệm
không được quân bình dưỡng tố (hàm lượng protein chỉ 6% thay vì
16% cần cho chuột), vì cách thức cho ăn giới hạn (restricted
feeding), nhất là vì tác dụng không tốt của tinh bột khoai
sống... - những yếu tố ảnh hưởng lên sự tăng trưởng cũng như sự
biến đổi màng ruột và hệ thống miễn nhiễm - không được lưu ý,
cứu xét thận trọng nghiêm chỉnh; đó là không nói đến độ chính
xác sát-xuất (statistische Signifikanz/statistical significance)
không rõ ràng của kết quả ghi nhận. Kết luận của những cơ quan
kiểm định nầy là
“...(những
tác dụng bất lợi) không là kết quả của sự biến đổi yếu tố di
truyền và có thể được giãi thích bởi sự khác biệt của lượng
Lectin ... (the adverse effects) did not arise as a result of
the genetic modification and could be explained by variability
in lectin levels”+12a)
Hậu quả của sự
tranh cãi nầy đưa đến sự sa thải ông A. Pusztai khỏi Viện Khảo
Cứu RRI-Scotland. Dầu sao, tuy bị British Royal Society chỉ
trích“...lầm lỗi trong nhiều khía cạnh hoạch định, thực hiện
và bình giãi ...flawed in many aspects of design, execution and
analysis” +13) và theo lời phát biểu của Michael
Clark, phát ngôn viên của Ủy ban Quốc hội về Khoa học và Kỹ
thuật Anh Quốc (House of Common Science and Technology Commitee)
“...Chúng tôi không tìm thấy bằng cớ nào cho rằng những nguy
hại liên hệ đến thực phẩm GMO cao hơn những nguy cơ do thực phẩm
thường dùng.... We have seen no evidence to suggest that the
risks associated with GM foods are any higher than those
associated with conventional foods"+13)
, thí nghiệm của ông Pusztai đã gây tiếng vang lớn trong
việc bảo đảm an toàn thực phẩm, đã gây hoài nghi về Gentechnik,
đã khiến ông bị sa thải khỏi viện Nghiên cứu RRI, thành “người
tử vì đạo/Märtyrer/Martyr” của những cơ quan/hội đoàn chống đối
Gentechnik.
·
Dị ứng
gây bởi Protein
của Soja GMO được chuyển nạp với Gen tạo lập Protein có nhiều
acít-amin khẩn yếu Methionin (®
Albumin 2S) lấy từ cây Paranuss (Brazil paranut tree). Ở điểm
nầy cũng nên biết: Protein của Soja -giống như protein của những
loại đậu/Leguminosen khác- tuy lượng cao, có nhiều acít-amin
khẩn yếu, nhưng lại ít Methionin và do đó không có giá trị dinh
dưỡng (biologische Wertigkeit/biological value) cao được như
protein từ thịt. Qua sự chuyển nạp Gen nầy, Protein của Soja GMO
được cãi tiến, lượng Methionin được nâng cao, nhưng thí nghiệm
với huyết thanh (Serum) lấy từ những người dị ứng đối với
Protein của hạt Paranuss cho thấy Protein của Soja GMO nầy cũng
gây hiện tượng dị ứng tương tợ. Thật ra hiện tượng dị ứng chính
ra tùy thuộc nhiều vào sự nhạy cảm của hệ thống miễn nhiễm cá
nhân và chỉ xảy ra ở một số người đặc biệt - tương ứng như việc
dị ứng với Protein đậu phọng hay bột mì (Wheat-/Glutenprotein) -
hơn là sự hiện diện chất gây dị ứng (®Allergen)
trong chính thực phẩm đó; dầu vậy việc thực hiện Soja GMO với
Gen tạo lập Protein nầy đã bị đình chỉ/hủy bỏ. Ăn tương, chao,
tào hủ ở hiện tại chúng ta có thể chắc rằng không ăn phải loại
Protein Soja GMO nầy.
b)
ảnh hưởng môi sinh
-
Canh tác bắp-Bt dài hạn có thể làm sâu
Maiszünsler sậu biến, sinh ra một loại Maiszünsler mới, đề
kháng (=đối kháng/resistent) / không bị „ngộ độc“ bởi
độc-tố-Bt và như vậy …đâu vẫn hoàn đó, không tránh được sự
phá hại của loại sâu nầy. Để tránh thực trạng nầy ở USA
những người trồng bắp-Bt buộc phải thi hành chính sách ngừa
đề kháng (Resistenzmanagement/resistence management). Theo
đó 20 đến 50% diện tích trồng phải được dùng để trồng bắp
thường, tức không phải bắp-Bt, để làm nơi ...„tị nạn“ cho
sâu Maiszünsler (ở đây sâu Maiszünsler tha hồ ...ăn bắp!).
Qua lối canh tác dành đất „tị nạn“ nầy
(Refugien-Konzept/refuge concept) người ta nghĩ rằng nếu như
có sâu Maiszünzler đề kháng được tạo lập thì bướm
(Motte/moth) từ ấu trùng nầy ở thế hệ sau sẽ phối hợp với
bướm thường không có tính đề kháng ở thửa đất „tị nạn“ và
như vậy Gen đối kháng độc tố Bt cho thế hệ Maiszünsler tới
bị phân chia, bị loãng ra. Sự bành trướng tính đối kháng độc
tố Bt như vậy nếu không bị ngăn chận hẳn thì cũng được giảm
đi.
-
Phấn bông cũng như hạt/trái của cây trồng
GMO có thể qua gió, ong bướm/côn trùng, chim chóc truyền đi
xa và gây sự lai giống không chủ định/không kiểm soát cho
cây cỏ khác. Sự chuyển Gen/lai giống không muốn nầy (®
Gene flow) gây sự xáo trộn khó lường được trong môi trường
thực vật, tạo lập những loại cây cỏ mới với tính chất
lợi/hại không rõ cũng như có thể làm mất dần những loại cây
cỏ hiện có. Để tránh hiện tượng nầy nhiều đề nghị trong việc
canh tác cây GMO đã được đề ra: ở Đức theo „Điều lệ Thực
hành Đúng Phương pháp“ (Verordnung über gute fachliche
Praxis/Ordinance of good Management Practice) khoảng cách
giữa thửa ruộng trồng cây GMO và cây thường phải cách xa tối
thiểu 150 m; dầu là theo E. Weber (Martin-Luther
Universität, Halle-Wittenberg)+14) với quãng cách
20m lượng bắp GMO ô nhiễm (kontaminiert) trong đám bắp
thường sẽ không quá lượng luật định cho phép 0,9%. Ở Đức,
như là một cách hòa giãi cho sự canh tác cây GMO và canh tác
hữu cơ/không dùng hóa chất (organic farming), kể từ tháng
8/2007, quãng cách tối thiểu giữa thửa ruộng trồng cây GMO
và ruộng đặc biệt trồng cây cho sản phẩm Bio được tăng lên
300m.
-
Trong vấn đề giữ quãng cách giữa thửa
ruộng trồng lúa GMO và lúa thường cũng nên nhắc đến sự tranh
chấp giữa hãng Ventria Biosience và hãng bia Anheuser-Bush
vào năm 2005 ở Mỹ. Hãng Anheuser-Busch (đồng thời cũng là
nhà thầu lúa) tuyên bố sẽ không mua, sẽ boycott tất cả lúa ở
Missouri, vùng mà hãng Ventria Biocience định trồng lúa GMO
với Gen tạo Lactoferrin (®
Lactiva) và Lysozyme (® Lysomin).
Để yên chuyện nguy cơ lúa GMO có thể lan nhiễm vào lúa
thường (gene flow) Ventria Bioscience đã chấp nhận chỉ trồng
lúa GMO cách thửa ruộng lúa thường tối thiểu 120 dậm/miles
(~193 km! Với đòi hỏi quãng cách quá xa như vậy, khó ai có
thể làm ăn trồng trọt gì được và Ventria Bioscience thật sự
cũng đã hủy bỏ hợp đồng trồng lúa GMO nầy với đại học
Northwest Missouri State University). Lúa GMO nầy chính yếu
chỉ dùng để điều chế Lactoferrin và Lysozyme (có tính diệt
trùng, ngừa tiêu chảy)+15) nhưng không có mục
tiêu thương mãi dùng như lúa/gạo ăn thường ngày.
-
„Xì-căng-đanh/Scandal“ với StarLink:
StarLink là một loại bắp-Bt của hãng Aventis CropScience
(hiện tại đổi chủ thuộc Bayer CropScience) có Gen chuyển nạp
tạo độc tố Bt-Protein „Cry9C“ để chống lại sâu bắp
Maiszünsler. Vì Bt-Protein Cry9C nầy không bị phân hoá
nhanh trong cơ quan tiêu hóa người ta và như vậy có thể gây
dị ứng (Allergie) nên thật ra chỉ được phép trồng để làm
thực phẩm cho gia súc. Dầu vậy, vào năm 2000, ở Mỹ một lượng
nhỏ bắp StarLink (khoảng 1%) đã được cơ quan bảo vệ môi sinh
„Friends of the Earth“ và liên hiệp GEFA (Genetically
Engineered Food Alert) tìm thấy trong bánh Taco-Bell (taco
shells/Taco-Bell-Maisfladen) cũng như sau đó trong khoảng
300 thực phẩm khác (bởi cơ quan „Điều hành Thực phẩm và Dược
phẩm FDA=Food and Drugs Administration“). Điều nầy đã làm
hãng Taco Bell phải thu hồi lại thực phẩm bán trên thị
trường và riêng hãng Aventis phải mua lại số bắp StarLink
trồng ở Mỹ trong năm đó với phí tổn lên đến 90-100 triệu US
Dollar. Mất mặt bởi Scandal nầy Aventis đã không bán bắp
giống StarLink để trồng trọt thương mãi nữa.
-
Khoai tây Bt mặc dầu được phép chính thức
trồng ở Mỹ và Gia Nã Đại (có đến 4 loại) nhưng thực tế không
ai trồng vì tuy khoai tây Bt đối kháng lại được sâu khoai
tây (Kartoffelkäfer/potato beetle/doryphore) nhưng vẫn bị
hại bởi sâu lá (Blattlaus/ aphid/puceron) truyền bịnh Virus
và như vậy người trồng khoai vẫn phải dùng thuốc hoá học bảo
vệ khoai.
-
„Xì-căng-đanh“ với lúa GMO LL601 đề kháng
lại thuốc diệt trừ cỏ dại Glufosinat. Lúa GMO nầy đã được
tạo lập bởi hãng Aventis CropScience vào khoảng thập niên
90, nhưng bị đình chỉ sản xuất năm 2001 (ở Mỹ chỉ có hai
loại lúa GMO đi từ loại LL601 nầy -lúa LL61 và LL96- được
phép canh tác dùng trong kỹ nghệ thực phẩm). Dầu vậy vào
tháng 9/2006 một số gạo nhập cảng vào Âu Châu bị tìm thấy có
nhiễm loại gạo LL601. Mặc dầu lượng gạo LL601 ô nhiễm chỉ
chiếm khoảng 0,01-0,05% và được xem „không có gì tai hại cho
sức khỏe người và thú“ nhưng nhà cầm quyền Âu Châu vẫn „làm
khó“ việc nhập cảng lúa gạo Mỹ bằng cách ra chỉ thị gạo nhập
cảng vào Âu Châu không phải chỉ có chứng nhận không pha trộn
lúa LL601 mà chứng nhận nầy còn phải do các cơ quan kiểm
chứng Âu Châu xác thực chớ không phải từ Mỹ.
c) xung đột quan
điểm trong vấn đề an toàn thực phẩm, kinh tế, nhân sinh...
-
Những „Xì-căng-đanh“ với bắp StarLink và
lúa GMO LL601 -tuy bị cấm nhưng vẫn được phát hiện ở thị
trường- cho thấy nguy cơ cho giới tiêu thụ vẫn có thể xảy
ra. Đó là không nói đến những nghi ngờ không phải không hữu
lý -dầu trên lý thuyết- về vấn đề lai giống không kiểm soát
(Gene flow), về sự tạo lập những chất lạ/chất độc bất ngờ có
thể gây bởi đoạn Gen chuyển nạp (Genkonstrukt) và quá trình
chuyển Gen, cũng như về ảnh hưởng chung đến môi sinh/côn
trùng/ong bướm. Thật ra một sự bảo đảm an toàn 100% không
thể có trong mọi lãnh vực của cuộc sống và như vậy cũng khó
có thể đòi hỏi ở ngành Gentechnik. Điểm quan trọng phải là
làm thế nào để giảm thiểu tối đa nguy cơ có thể xảy ra.
Trong ý nầy thay vì chỉ trích/chống đối phá hoại quá khích (®
destruktiv), nên tìm hiểu/học hỏi nhiều hơn về Gentechnik,
khách quan nhận định điều hay/điểm xấu, phê bình xây dựng (®
konstruktiv), hậu thuẫn những biện pháp bảo đảm an toàn thực
phẩm/môi sinh qua phương thức kiểm chứng khoa học hiệu
nghiệm (Sensibilisierungstest, toxikologische Test,
Allergie-Check,...), qua luật pháp hợp lý/hữu hiệu (Novel
Food-Verordnung, Good Management Practices, Monitoring,...)
-
Bên cạnh vấn đề bảo đảm an toàn thực
phẩm/môi sinh, điểm phê bình thường nghe thấy trong vấn đề
Gentechnik là ngành công nghệ nầy chỉ làm giàu cho giới tư
bản kỹ nghệ độc quyền sản xuất bán cây giống và thuốc diệt
trừ cỏ dại bảo vệ mùa màn liên hệ. Trong cái nhìn nầy người
ta còn cho rằng phương pháp canh tác cổ điển vẫn thừa đủ để
cung cấp thực phẩm cho nhân loại không cần gì đến
Gentechnik. Để sáng tỏ lý luận nầy, chúng ta hãy theo dõi
sự gia tăng nhân số, sự giảm thiểu số đất trồng trọt (so với
sự bành trướng thành thị, đất cư ngụ/kỹ nghệ), tình trạng
sản xuất nông sản/thực phẩm yếu kém ở các quốc gia hậu tiến,
những bất thường của thời tiết/mùa vụ, những hình ảnh „da
bọc xương“ vì thiếu ăn ở Phi Châu,... và tự tìm lấy câu trả
lời đúng cho chính mình. Bên cạnh đó một điểm thực tế hiển
nhiên không nên quên là không vì với „trâu kéo cày vẫn trồng
lúa được“ mà người ta bỏ đi những tiến bộ khoa học, không
dùng tracteur/máy cày/máy gặt; không vì „đi bộ vẫn đến nơi“
mà chúng ta trách móc những người đi xe hơi, xe gắn máy.
Tương tợ, dầu trong thiên nhiên cây vẫn cho trái, lúa vẫn
sinh bông nhưng chúng ta có nên vì vậy mà chỉ trích/tẩy chay
quá khích những biện pháp có thể làm trái sai hơn, bông đẹp
hơn, ngay khi biện pháp nầy được thực hiện trong khuôn khổ
Gentechnik? Ngoài ra đừng quên, độc quyền sản xuất cây giống
GMO trong tay của một số hãng lớn hiện tại chỉ có thể được
giảm thiểu/mất đi khi ngành Gentechnik được phổ biến rộng
rãi, được nhiều kỹ nghệ gia hưởng ứng khai thác; và chỉ khi
có sự cạnh tranh của nhiều nhà sản xuất, giới tiêu thụ mới
tránh được sự độc quyền, mới có sự tự do lựa chọn giá cả.
Sự xuống đường, phá hoại một đám ruộng thí nghiệm trồng GMO
- thay vì hỗ trợ việc nghiên cứu/thí nghiệm/kiểm định bảo
đảm an toàn - chắc chắn sẽ không gây thiệt hại gì cho một
Monsanto, một BASF, một Bayer... mà chỉ ngăn chận, làm chậm
cơ hội phát triển của một ngành công nghệ đang và sẽ hiện
hữu, dầu chúng ta muốn hay không.
-
Quan điểm „qua mặt tạo hoá“ trong việc
tạo lập cây trồng GMO cũng là một điểm thường được đưa ra để
tranh luận. Thực tế trong thiên nhiên sự trao đổi Gen tạo
giống mới qua phấn bông/ong bướm, sự biến đổi Gen thích ứng
với môi trường sống sinh ra cây cỏ đặc biệt chịu đựng được
nắng dãy mưa dầm, sự sậu biến (Mutation) đột khởi của Gen tô
điểm cành bông bụp trắng tinh với một hoa đỏ tươi nổi bật
... không là một hiện tượng lạ. Gentechnik chỉ là một cách
bắt chước, một phương tiện thực hiện quá trình biến đổi Gen
qua kiến thức/kỹ thuật của con người. Tuy nhiên nếu sự biến
đổi Gen trong thiên nhiên chậm rãi, không gây những xáo trộn
môi sinh đột phát, thì con người thực thi Gentechnik có thể
tạo những sinh vật mới với tính chất lợi/hại mong muốn trong
thời gian ngắn hạn. Khả năng „tranh quyền tạo hóa“ có thể bị
lạm dụng và hậu quả trong trường hợp nầy hẳn là một đại họa.
Lịch sử nhân loại cho thấy, bên cạnh sự hữu ích tiện lợi cho
con người, mặt trái của tiến bộ hóa học đã tạo ra những bom
gas/khí độc chết người, của khoa học vật lý với bom nguyên
tử đã gây tử vong cả trăm ngàn nhân mạng ở
Hiroshima/Nagasaki trong khoảng khắc, và Gentechnik - nếu
không được xử dụng đúng - trong tương lai hẳn là một tai họa
không lường được. Để tránh hiểm họa tương tợ có thể xảy ra
bởi Gentechnik - một ngành kỹ thuật, dầu muốn hay không,
không thể dẹp bỏ được trong tương lai - thiết nghĩ sự cấm
đoán suông, sự đả phá quá khích sẽ không đưa đến kết quả
thiết thực mà phải là sự học hỏi, tìm hiểu, thấu triệt
nguyên nhân hậu quả „biết người biết vật“, phải có một nhân
sinh quan lành mạnh, một tư duy đạo đức để xử dụng/thực thi
đúng, không phải chỉ ở những khoa học gia mà ngay cả ở người
dân thường đại chúng. Gentechnik chính nó không thiện, không
ác. Thiện ác chỉ là con người chúng ta.
Dùng hay không
dùng thực phẩm GMO?
Ở điểm nầy câu
trả lời có giá trị chung cho mọi người khó có thể có. Dùng hay
không dùng thực phẩm GMO là quyết định của cá nhân tùy vào sự
hiểu biết/nhận định, thói quen, khẩu vị ẩm thực riêng của từng
người. Thực tế những sản phẩm GMO được phép chính thức tiêu dùng
đều phải qua những kiểm định gắt gao, nhất là về điểm an toàn
dinh dưỡng, và như vậy trên nguyên tắc không có gì đáng ngại
trong việc ăn uống. Dầu vậy nếu cảm thấy
Transgen thực
phẩm tốt sao?
Phân vân e
ngại... nuốt vào nhả ra
thì luật pháp
hiện tại - như ở Âu Châu với Luật Ghi Nhãn hiệu Thực Phẩm Mới
(Novel-Food-Kennzeichnung/Novel Food Labelling) - qui định thể
chế kê khai rõ ràng để người tiêu dùng có thể lựa chọn. Theo đó
thực phẩm biến chế có chứa sản liệu GMO trên 0,9% phải được kê
khai rõ thành phần chất liệu (Nahrungsmittel/Ingredients) bên
cạnh thành phần dưỡng tố (Nährstoffe/Nutrients) trên nhãn hiệu.
Những sản phẩm GMO - như đã trình bài ở trên - chánh yếu đi từ
đậu tương Soja (Sojaprotein, bột Soja/Sojamehl, Sojaflocken/Soy
flake cũng như Lecithin hay Mono- và Diglycerid), bắp (bột
bắp/Maismehl, tinh bột bắp/Maisstärke cũng như Glucosesirup hay
đường Dextrose) và Raps/colza (dầu). Ngược lại trái quả tươi bày
bán hiện tại ở các tiệm từ lê, táo, cam, quít, dưa, dâu cho đến
sa-lát, khoai tây, cà tím Aubergine, cà tô-mát... chúng ta có
thể chắc không phải là sản phẩm GMO. Sự khác biệt sản phẩm tươi
trên thị trường thường nghe thấy – „bio hay không bio“ - đúng
chỉ để chỉ sản phẩm đi từ sự canh tác cổ điển (dùng phân bón hoá
học và hoá chất để bảo vệ mùa màng) và sự „canh tác hữu cơ“
(Ökologischer Landbau/organic farming
®
không dùng hoá chất) không liên quan trực tiếp gì đến cây trái
GMO.
Một số sản phẩm
khác, dầu có xuất xứ GMO nhưng được tách riêng/tinh lọc và không
có chứa phần Gen/DNA nào như dầu, tinh bột, đường Saccharose,
Glucose-/Fructosesirup, diếu tố/Enzyme, Arome, Lecithin, sinh
tố/Vitamine... thường được dùng như là gia vị phụ trội
(Zutaten/trimmings). Những sản phẩm nầy trong quá khứ không cần
phải kê khai trên nhãn hiệu vì thật sự những chất nầy không khác
gì những sản phẩm bình thường về giá trị dinh dưỡng cũng như
thành phần hóa học. Tuy vậy kể từ tháng tư 2004, trong Cộng Đồng
Âu Châu – theo „Luật về Thực phẩm GMO cho Người và Thú -
Verordnung 1829/2003/EU über genetisch veränderte Lebens- und
Futtermittel/Regulation on genetically modified food and feed“
mọi sản phẩm liên hệ gần/xa có xuất xứ GMO đều phải kê khai rõ
ràng ngay khi không thể kiểm định được sự khác biệt so với sản
phẩm thường. Vì phương pháp kiểm định khoa học trung thật hợp lý
không dùng được cho những sản phẩm tinh lọc nầy (®
thành phần hóa chất/tính chất đều y như nhau), một chính sách
kiểm soát „giấy tờ có tính cách hành chính“ qua cách theo
dõi/ghi rõ xuất xứ, quá trình sản xuất/tiêu dùng từ nơi sản xuất
cho đến giới tiêu thụ được qui định
(Rückverfolgbarkeit/Traceability). Theo luật nầy thực phẩm GMO
hoặc thực phẩm có chứa sản liệu GMO trên 0,9% phải được kê khai
rõ trên nhãn hiệu hàng chữ:
„Sản phẩm nầy chứa GMO - Diese Produkt
enthält genetisch veränderte Organismen/This product contains
genetically modified organisms“+16)
hoặc
„Biến chế từ ...(tên của nguyên liệu GMO) –
Aus GVO hergestellt (Bezeichnung des Organismen)/Product
produced from GM (name of organism)“+16)
Và như vậy cứ
nhìn nhãn hiệu/Etiquette dán trên thực phẩm, người tiêu dụng có
thể quyết định cách thức ăn uống của mình.
Theo tài liệu
hiện tại thực phẩm có chứa sản liệu GMO - dầu phần lớn chỉ là
lượng nhỏ qua chất gia vị phụ trội và do đó không cần kê khai-
chiếm đến 60-80% số thực phẩm bán ở thị trường. Như vậy phải
chăng chúng ta không nhiều thì ít đã và đang ăn thực phẩm GMO mà
không biết đó thôi?
Lúa, khoai,
trái quả trời cho,
Ngàn xưa thực phẩm làm no lòng người.
Transgen sản
vật tân thời,
Ai gan dạn
miệng, xin mời thử chơi!
Dạn miệng? Thật
ra cũng cứ thấy làm sao! Một điều an tâm là đến hiện tại chưa có
trường hợp ngộ độc nào được ghi nhận vì ăn sản phẩm GMO, ăn
“Frankensteinfood”.
Đức Quốc, mùa hè 2007
Ghi chú
+1)
Phim Mỹ 1931 dựa vào chuyện Frankenstein của bà Mary Schelley
(1818) do đạo diễn James Whale thực hiện với Colin Clive (đóng
vai Henry Frankenstein) và Boris Karloff (đóng vai quái
vật/Monster). Về sau một số phim Frankenstein khác cũng được
thực hiện (Bride of Frankenstein, Son of Frankenstein, Revenge
of Frankenstein, Young Frankenstein,....), và danh từ
Frankenstein -đúng ra là tên của người tạo nên quái vật- lần
hồi về sau được xem đồng nghĩa là quái vật.
+2)
Những hiệp hội/cơ quan chống đối thực phẩm GMO thường được biết:
Greenpeace, hội Bảo vệ Thiên Nhiên/Naturschutzverband, hội Bảo
vệ Môi sinh/Umweltsschutzverband (FoE, BUND,...), hiệp hội canh
tác không dùng hoá chất/Ökolandbauverband/organic farming
association, đảng Xanh/Grünepartei, cơ quan thương mãi thực phẩm
Bio ở Đức như Demeter, Bioland, Naturland, Ecovin, Biopark...
+3) xem
Trần Thủ Danh, Khoahoc.net 24.8.2006
+4) DNA (Desoxyribonukleinsäure/Desoxyribonucleic acid)
-cũng như RNA (Ribonukleinsäure/Ribonucleic acid)- có tên chung
là acít nucleic (Nukleinsäure/nucleic acid) được cấu tạo
từ những đơn vị gọi là Nucleotid kết hợp nhau lại thành
một chuỗi dài (một phân tử DNA tự nhiên có khoảng trên 10 triệu
Nucleotid!). Đơn vị Nucleotid nầy - một hợp chất
Base-Carbohydrat-Phosphat- được cấu tạo từ phân tử đường
(Desoxyribose cho DNA cũng như Ribose cho RNA), Base
(Adenin, Guanin, Thymin, Cytosin cũng như Uracil trên sợi RNA)
và Phosphat. Số lượng cũng như vị trí/thứ tự những đơn
vị Nukleotid với Base tương ứng (A=Adenin, G=Guanin,
T=Thymin, C=Cytosin) của một đoạn trên chuỗi DNA
là "gen=yếu tố di truyền", là "toa thuốc chế tạo", là
"mật mã" để theo đó tế bào cơ thể điều chế, tạo lập vật liệu cần
thiết cho một đặc tính yếu tố di truyền (da vàng, da đen, mắt
nâu, mắt xanh, ....). Ở người toàn bộ yếu tố di truyền (=Genom)
biểu thị qua các Base của đơn vị Nukleotid là một hàng chữ dài
với khoảng 3,2 tỉ mẫu tự AGTC nằm liền nhau trước sau theo một
thứ tự nhất định. Chính xác hơn, những mẫu tự nầy nằm trên 46
sợi DNA đơn, xoắn lại từng đôi làm thành 23 sợi DNA kép (à
DNA-Helix) tương ứng với 23 đôi nhiễm thể (Chromosomenpaar).

+5) Vektor trung gian đóng vai trò như một loại „tàu chuyên
chở=Genfähre/Gene transfer vehicle“, một phương tiện chuyển nạp
Gen tuyển chọn/Gen lạ vào toàn bộ di truyền (Genom) của sinh
vật/thực vật GMO (=sinh vật nhận Gen). Vektor trung gian thường
dùng là Virus biến đổi/không độc, Plasmid ... và trong lãnh vực
trồng trọt đặc biệt vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Đó là
một vi khuẩn sống trong đất với đặc điểm là có thể chuyển một
phần yếu tố di truyền/Gen vào tế bào thực vật và phối hợp phần
Gen nầy vào toàn bộ Gen/vào Genom của thực vật. Phần Gen nầy (®
T-DNA) không nằm trong bộ nhiễm thể/Chromosom của vi khuẩn mà
nằm trên một vòng DNA riêng rẽ, trên Ti-Plasmid (tumor-inducing
plasmid), và khi xâm nhập vào tế bào của rễ cây gây nên bịnh
"bướu rễ cây" (Wurzelhalsgalle/crown gall). Tính dễ xâm nhập
cũng như khả năng "chuyển gen" qua Plasmid của vi khuẩn
Agrobacterium tumefaciens vào tế bào thực vật được khoa học gia
lợi dụng dùng như là một "chiếc ghe/chiếc tàu=Genfähr" để chở
Gen lạ vào cây. Đương nhiên khi dùng vi khuẩn nầy, người ta phải
loại bỏ Gen độc T-DNA trên Plasmid và thay vào đó bằng Gen thích
hợp/Gen muốn được chuyển nạp, trước khi để vi khuẩn xâm nhập
(infizieren) vào tế bào thực vật.
+6) Gen cấu tạo Bt-Protein (®
crystal protein, độc tố đối với sâu bọ) có nhiều loại, do đó
độc-tố-Bt cũng khác biệt nhau (khoảng 243 có tác dụng riêng rẽ
đối với từng loại côn trùng sâu bọ). Ở bắp/ngô, Gen được dùng là
những Gen-Bt biến dạng (Gen-Variante) như Gen Cry 1Bb, Cry 1Ac
và Cry 9c. Những Gen nầy tạo lập độc-tố-Bt ở thân cây bắp (nơi
côn trùng Maiszünzler/corn bohrer phá hại) trong khi những Gen
Bt khác có thể tạo ở mọi phần thực vật. Cũng nên nói rõ thêm,
Gen Bt thật ra chỉ tạo lập „tiền-độc-tố“ (Protoxin) trong cây và
chỉ khi nào côn trùng sâu bọ ăn cây, nuốt luôn Protoxin nầy vào
ruột, Protoxin ở đây mới được chuyển hoá thành chất độc
Delta-Endotoxin làm hư màng ruột côn trùng sâu bọ. Ở Đức bắp-Bt
được phép trồng là loại bắp MON 810 của hãng Monsanto tạo
Bt-Protein Cry 1Ab và được cho phép trồng đến ngày 18.4.2007;
sau đó phải lập hồ sơ cho phép tiếp. Chính vì vậy đầu tháng
5/2007 Greenpeace đã tung ra tài liệu cho thấy lượng độc tố Bt
trong bắp-Bt nầy không đồng đều -sự cách biệt giữa lượng nhỏ và
lớn quá xa và như vậy theo Greenpeace bắp Bt không đáng được
„tin cẩn“, không an toàn trong việc bảo vệ môi sinh- với mục
tiêu tẩy chay, chống lại việc cho phép trồng bắp MON 810 tiếp.
+7)
Lectin thuộc nhóm Glucoprotein có nhiều ở thực vật, đặc biệt ở
các loại đậu Leguminose. Đây là một Haemagglutinin thực vật, là
một vũ khí tự vệ của cây cối chống lại sự phá hại của côn trùng
sâu bọ (như sâu lá Blattlaus/aphid, sâu róm Raupe/caterpillar,
Nematode), nhưng ở người/thú là một chất độc làm máu đông lại
(agglutinieren/agglutinate) cũng như có tác dụng tai hại cho
màng ruột khiến sự tiêu hóa, sự hấp thụ chất dinh dưỡng bị ngưng
chận/giảm thiểu và như vậy sự tăng trưởng bị đình trệ. Riêng
Lectin GNA (Galanthus-Nivalis-Agglutinin) từ củ/rễ cây bông
Schneeglöckchen/snowdrop có chứa nhóm Mannose đặc biệt và được
xem ít có tác dụng hại lên màng ruột.
+8) Trong phương pháp diệt trừ cỏ dại cổ điển người ta phải dùng
nhiều loại thuốc/hoá chất cho từng riêng loại cỏ dại và phải xử
dụng đúng vào một thời diểm tăng trưởng nào đó của cỏ dại. Điều
nầy gây khó khăn, phức tạp trong việc thực hiện cũng như phải
dùng nhiều hóa chất. Với chất thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat
(RoundUp của Monsanto) hoặc Glufosinat (LibertyLink của
Bayer=Ammoniumsalz der racemischen Phosphinotricin) phần lớn cỏ
dại/thực vật đều bị hủy diệt dễ dàng, điều bất lợi là cây trồng
thường cũng bị hủy diệt luôn. Muốn dùng Glyphosat cũng như
Glufosinat trong việc diệt trừ cỏ dại, cây trồng phải có khả
năng đối kháng lại được những chất nầy và đó là những thực vật
GMO, những cây đậu Soja, cây dầu Raps, ngũ cốc như bắp, lúa...
được biến đổi Gen, được chuyển nạp một Gen tạo lập ra một diếu
tố trong cây (®
PAT-Enzym=Phosphynotricin-Acetyl-Transferase / CP-4
EPSP-Synthase) hóa giãi được tính độc của Glufosinat/Glyphosat.
Gen nầy được lấy từ vi khuẩn Streptomyces cũng như từ
Agrobacterium tumefaciens ở trong đất và nước.
+9) Gen
tạo Chymosin được từ màng ruột thú, được chuyển nạp đưa vào men
(Hefe/yeast) Kluyveromyces lactis hay nấm mốc Aspergillus niger.
Vi sinh GMO nầy cấu tạo Chymosin và sau đó Chymosin được tinh
lọc tách rời ra. Sản phẩm Chymosin tinh lọc như vậy (Chy-Max hay
Maxiren) có độ ròng 80-90% so với sản phẩm tự nhiên lấy từ màng
bao tử (Labferment) chỉ có khoảnh 5-8% Chymosin hữu hiệu
(aktives Chymosin)
+10) G. Flachowsky, K.
Aulrich, H. Böhme, I.Halle, F. Schwägele, H. Broll: Zur
Bewertung von Futtermitteln aus gentechnisch veränderten
Pflanzen, ForschungsReport 2006,1,13-16
+11)
Trích dẫn từ
a) Stanley W. B. Ewen & Arpad Pusztai: Effect of diets containing genetically modified potatoes
expressing Galanthus nivalis lectin on rat small intestine - Research Letter;
The Lancet, 354 (9187), October 16, 1999 cũng như xem thêm : http://www.sirc.org/news/pusztai_published.html
b) F.J.Bourne, A. Chesson, H. Davies, H. Flint: SOAEFD flexible fund project RO 818: Audit at data produced at
the Rowett Resaerch Institute, 1998 (http://www.rowett. ac.uk/gmarchive/)
c) The Audit Committee's Response to Dr Arpad Pusztai's Alternative Report of 22 October 1998
(http://www.rowett.ac.ok/gmo/)
d) Verwirrung um die Ergebnisse(http://www.transgen.de/sicherheit/verfahren/338.doku.html)
+12)
Food Standards Agency, Archive MAFF(http://archive.food.gov.uk/)
a) ACNFP Statement on the studies conducted at the Rowett Research Institute on potatoes genetically modified to
produce the snowdrop (Galanthus nivalis) lectin (Food Standards Agency-Information)
b) Committee on Toxicology of Chemicals in Food, Consumer Products and the Environment (COT) statement on studies
of potatoes genetically modified to produce Galanthus nivalis lectin (Food Standards Agency-Information)
+13) Trích dẫn từ:
Stellungsnahme (Archiv) „Die Kartoffeln und Ratten von Putztai“;
http://www.gensuisse.ch /focus/stellarch/kart_rat.html
+14) E.
Weber:Journal for Agronomy and Crop Science, 2005
+15)
Lactoferrin và Lysozyme là những diếu tố có tính cách diệt
trùng, ngừa tiêu chảy có trong sữa, nước miếng, nước mắt. Sản
phẩm Lactiva (Lactoferrin) và Lysomin (Lysozym) tinh lọc từ lúa
GMO được dùng trong thực phẩm trẽ em ngừa tiêu chảy. Theo nguồn
tin mới nhất, vào tháng 4/2007 tiểu bang Kansas (USA) cho phép
Ventria Bioscience canh tác lúa GMO tạo Lactoferrin và Lysozyme
trên khoảng 100 hecta (http://
genfood.wordpress.com/2007/05/22/genetik-schafft-muttermilch-vom-acker)
+16) Verordnung (CE) Nr.
1829/2003 des
Europäischen Parlaments und des Rates vom 22. September 2003
über genetisch veränderte Lebens- und Futtermittel
(http://europa.eu/scadplus/leg/de/lvb/l21154.htm)
Trở về Trang Chính
|