|

Người
Việt chúng ta, ai lại không biết chuyện bà Âu Cơ sanh trăm
trứng/trăm con và chuyện Tề Thiên Đại Thánh khi bị vây khổn,
nhổ lông gáy
quăng lên, biến hóa ra những Tề Thiên giả giống hệt nhau để đánh
lại đối thủ. Với một tưởng tượng ít nhiều phong phú, người ta có
thể tự hỏi, phải chăng đó là một hình thức sinh sản vô tính,
sinh con không trực tiếp từ cha mẹ của thời xa xưa mà ngày nay
chúng ta thường được nghe qua những danh từ ''con sanh từ ống
nghiệm (Retortenbaby), sinh sản tái lập vô tính (Klonen), thụ
tinh nhân tạo (küntliche Befruchtung), tế bào nguyên thủy
(Stammzelle), v.v. ...'' ? Để có thể tìm được trả lời thích đáng
cho câu hỏi nầy, chúng ta hãy thử dạo một vòng trên lãnh vực
sinh lý học về vấn đề sinh sản.
Sinh sản
hữu tính tự nhiên
Đôi chim quyến luyến trên
cành,
Không cha không mẹ ai sanh
ra người!
Thói
thường là như vậy! Có mẹ có cha, có chồng có vợ, có trai có gái
mới có sự sinh sản, tạo nên con cái, hậu duệ. Không phải chỉ ở
người, thú mà cả thảo mộc cũng vậy: phấn bông đực bay dính vào
bầu nhị cái, nhờ vậy ''bông đậu'' sinh ra trái quả cho ta ăn,
tạo nên hạt để cây sinh tồn nối giống. Trên bình diện sinh lý,
sự sinh sản tự nhiên của sinh vật thượng đẳng, trong đó có loài
người, là kết quả của sự phối hợp giữa tinh trùng
(Samenzelle/Spermium) của phái nam và noãn/trứng (Ei/Ovum) của
phái nữ. Sự phối hợp nầy xãy ra trong tình thương yêu hay cưỡng
bức... nếu đối với đôi nam nữ là một xúc cãm khó quên, thì đối
với tinh trùng và trứng chỉ là chuyện ''ngoài tai''. Điểm quan
trọng trong việc phối hợp sinh lý/thụ tinh là tinh trùng phải
vào được noãn, đem những di thể (Gene) của riêng nó hòa đồng vào
di thể trứng tạo nên một ''trứng thụ tinh'' (Zygote). Để hoàn
tất nhiệm vụ nầy tinh trùng (trung bình 200-500 triệu ở mỗi lần
giao hợp xuất tinh/Ejakulation) phải chạy một đoạn đường thật
dài trong âm đạo (Vagina), vượt qua tử cung (Uterus), vào ống
dẫn trứng (Oviduct); và trong số chỉ khoảng 300 tinh trùng mạnh
khỏe may mắn vượt qua mọi chướng ngại trên đoạn đường dài khoảng
20 cm đến được nơi đây, chỉ một chàng tinh trùng tốt số duy
nhất gặp gở hòa hợp được với trứng trưởng thành +1) (trứng nầy,
khoảng 12-16 ngày trước khi các bà các cô có kinh, rớt ra khỏi
buồng trứng (Eierstock/Ovar), rơi vào ống dẫn trứng và di chuyển
lần xuống phía tử cung).
Sau
lúc phối hợp ở ống dẫn trứng, nhân chứa nhiễm thể của tinh trùng
sẽ vào hoà hợp với nhân của trứng, và như vậy trứng thụ tinh
(Zygote=hợp tử) +2) bắt đầu phân hóa: 2 tế bào trong ngày thứ
nhất, 4 tế bào ở ngày thứ hai, 8 tế bào ngày thứ ba....và cứ như
thế sự phân bào tiếp tục không ngừng. Ở giai đoạn ''8 tế bào''
vào ngày thứ ba, những tế bào sinh ra hợp lại thành một cầu tròn
có dạng như trái dâu tầm (Maulbeere) được gọi là ''Morula''. Quả
cầu Morula lớn dần, cuối cùng với khoảng 30 tế bào, và vào ngày
thứ tư chất lỏng có trong ống dẫn trứng thấm xuyên vào tận trung
tâm Morula, xô đẩy những tế bào nầy tạo nên một quả cầu rổng
ruột được gọi là ''Blastozyste'' (=phôi nang?!), đồng thời những
phân bào sinh ra cũng được sắp xếp đúng thứ tự lại, tạo ra hai
lớp tế bào có tính chất/nhiệm vụ khác nhau: lớp tế bào phía
trong=''Embryoblast'' về sau sẽ tạo nên phôi thai (Embryo) cũng
như phần trực tiếp bao bọc che chở cho phôi thai (Amnion), trong
khi lớp tế bào phía ngoài = ''Trophoblast'' sẽ là phần bám vào
màng tử cung tạo nên lớp nhao (Plazenta) bao bọc và nuôi phôi
thai/bào thai. Cùng với sự biến tượng không ngừng nầy,
Blastozyte tiến lần xuống phía dưới ống dẫn trứng, và vào ngày
thứ năm sau lúc thụ tinh, Blastozyste thật sự vào được tử cung
để bám vào màng tử cung ''làm ổ'' nơi đây (Nidation).
Ở tử
cung, từ Embryoblast, phôi thai (Embryo) thành hình và tiếp tục
phân hóa, biến tượng: ngày thứ 22 tim bắt đầu đập, ngày 30 phát
hiện chân tay, ngày 35 cơ quan thị giác/mắt và cứ thế đến tuần
thứ 10 mọi cơ quan được tạo lập đầy đủ, chấm dứt giai đoạn phôi
thai (Embryonalperiode). Kể từ tháng 3 phôi thai (Embryo) thật
sự là ''người'', là bào thai (Fetus) chỉ cần tăng trưởng, lớn
lên (Fetalperiode) để cuối cùng, sau chín tháng mười ngày, đứa
bé rời bụng mẹ và trên quả địa cầu có thêm một nhân vật mới.
Thụ tinh
nhân tạo
Như
đã nói, dưới khía cạnh sinh lý, điểm chánh yếu trong sự sinh sản
là sự phối hợp tinh trùng và trứng. Sự phối hợp nầy được xãy ra
trên ''nệm ấm chăn êm'' hay trong ''ống nghiệm'' không quan
trọng. Chính vì vậy, sự sinh sản vẫn thành tựu được khi ngưới ta
lấy tinh trùng cũng như trứng ra khỏi cơ quan sinh dục, khỏi cơ
thể để khán nghiệm, lựa chọn, tồn trử, thụ tinh .... và sau đó
cho vào cơ thể trở lại. Sự kiện nầy là nguyên tắc căn bản cho sự
thụ tinh nhân tạo.
Trong
vấn đề ''thụ tinh nhân tạo'' (künstliche Befruchtung/artificial
fertilization), bước đi đầu tiên đáng nói là việc ''kết
tinh/giao hợp nhân tạo = künstliche Besamung/artificial
insemination''. Trên bình diện sinh lý và thành quả, sự kết
tinh/giao hợp nhân tạo không khác gì sự giao hợp tự nhiên. Điểm
khác chỉ là trong trường hợp nầy ngưòi đàn ông/thú đực không gần
gủi ''thân kề thân''gì được với người, với giống khác phái. Tinh
trùng của phái nam/thú đực được lấy ra khỏi cơ quan sinh dục,
được tồn trử bảo quản và khi cần cho vào cơ quan sinh dục cái
qua ống tiêm/ống dẫn. Phương pháp giao hợp nhân tạo nầy được
dùng nhiều trong lãnh vực chăn nuôi, nếu không muốn nói đây là
phương pháp phổ biến nhất trong việc sinh sản thú hiện tại. Ở
loài người chúng ta, phương pháp nầy vẫn được dùng, chẳng hạn
khi lượng tinh trùng mỗi lần xuất tinh của người đàn ông quá ít
(dưới 200 triệu); trong trường hợp nầy sau khi tổng hợp tinh
trùng của nhiều lần xuất tinh, người ta đạt được độ đậm đặc tinh
trùng nhiều hơn để khi cho vào cơ quan sinh dục của người đàn
bà, bảo đảm được số lượng tinh trùng lanh lẹ mạnh khỏe, cần
thiết cho sự thụ tinh trong ống dẫn trứng (khoảng 300). Đối với
phái nữ, qua phương pháp kết tinh/giao hợp nhân tạo, các bà độc
thân, nhưng muốn có con, và có con với tinh trùng của ''thiên
tài cở ...Einstein'', vẫn có thể thành tựu (nếu có người sẳn
sàng ''tặng'' tinh trùng vào ống nghiệm).
Bước
tiến xa hơn việc ''kết tinh/giao hợp nhân tạo'' vừa kể là sự
''thụ tinh nhân tạo = künstliche Befruchtung/artificial
fertilization''. Trong trường hợp nầy tinh trùng và trứng được
lấy ra khỏi cơ quan sinh dục, ra ngoài cơ thể. Sau đó người ta
phối hợp tinh trùng và trứng trong ống nghiệm
(In-vitro-Fertilisation= IVF) +3), và để ''trứng thụ tinh'' phân
hóa tăng trưởng đến giai đoạn Blastocyste (phôi nang). Xong,
trứng phân hóa nầy -vào ngày thứ hai hoặc ba sau khi thụ tinh-
được đưa vào ống dẫn trứng (Embryotransfer) để tiếp đó lần xuống
bám vào tử cung của người đàn bà (người vợ/mẹ thật hay ''người
mang thai mướn''=Leihmutter/surrogate mother) và bào thai thành
hình, tăng trưởng tiếp như theo quá trình tự nhiên.
Cháu
bé đầu tiên được sinh ra qua sự ''thụ tinh trong ống nghiệm
--->
Retortenbaby'' là Louise Joy Brown , chào đời ngày 25 tháng 7
năm 1978. Hiện tại phương pháp nầy đã trở thành chuyện thường và
cũng đã giúp rất nhiều đôi nam nữ bị khó khăn trong vấn đề sinh
dục có con cái nối dỏi tông đường (trên thế giới có khoảng trên
300 000 ''con sinh qua ống nghiệm'' được ghi nhận). Hiện tại,
đặc biệt ở Đức, những điểm được tranh luận, bàn cải trong việc
''thụ tinh nhân tạo/sinh con qua ống nghiệm'' không hẳn là vấn
đề kỹ thuật mà là những vấn đề liên hệ đến luân lý/đạo đức, tôn
giáo, xã hội, pháp lý:
*
tình gia đình/mẹ con qua sự ''mang nặng đẻ đau'' có bị thay đổi,
mất mát gì không cho cha mẹ ''mướn người mang thai'' không có
công sinh đẻ? Việc ''mướn người sanh đẻ'' có thể bị lạm dụng,
gây bất lợi/tổn thương cho người được mướn (vì cần tài chánh
không màng nguy hiểm trong việc sinh sản) cũng như cho người
mướn (khi người mang thai không chịu giao con) ?
*
Vì được thụ tinh ngoài cơ thể/trong ống nghiệm, trứng thụ
tinh/phôi thai có thể được khám nghiệm toàn bộ yếu tố di truyền
dể dàng để xem có hoàn hảo, mang bịnh di truyền, là trai hay
gái, v.v....trước khi đem cấy vào tử cung. Sự ''khán nghiệm/chẩn
bịnh trước khi cấy'', quen thuộc qua chữ tắt ''PID =
Präimplantation-Diagnostik'' +4) , là vấn đề hiện đang được bàn
cải sôi nổi:
* qua PID con người được tuyển chọn theo ý muốn trái
với sự ngẫu nhiên/không biết trước trong việc sinh sản tự nhiên
và như vậy có vi phạm đến những nguyên tắc nhân quyền/nhân vị
không?
* PID có thể bị lạm dụng để tạo con người/sinh vật theo
mục đích riêng tư, ích kỹ, vụ lợi ---> tạo giống người
mới/Menschenzucht) ?
* làm gì với những trứng được thụ tinh, biến tượng
thành phôi thai, nhưng mang bịnh, không ''hoàn hảo'' theo ý
muốn. Sự hủy hoại những trứng thụ tinh nầy có nên bị lên án là
hành động ''sát nhân'' không?
Sự
chẩn bịnh PID hiện được cho phép ở Hoa-Kỳ, Úc và khoảng 10 quốc
gia ở Âu châu. Riêng ở Đức, theo Đạo luật BảoVệ Phôi Thai
(Emryonenschutzgesetz), phương pháp nầy bị cấm dùng, ngoại trừ
để định trai-gái và những bịnh di truyền liên hệ đến phái
nam-nữ.
*
Trứng thụ tinh phân bào trong ống nghiệm, do đó người ta có thể
theo dỏi mọi thời kỳ biến tượng. Một điểm sinh lý thật quan
trọng cần biết là những tế bào phân hoá đầu tiên (giai đoạn phân
chia 3-4 đến 8 tế bào) có tính ''toàn năng/toàn lực''
(totipotent) để tạo ra mọi cơ quan, tạo ra phôi thai mới (y như
trứng được phối hợp từ tinh trùng và trứng thông thường). Câu
hỏi đặt ra là người ta có nên, có được phép dùng những ''tế bào
phôi thai nguyên thủy = embryonale Stammzelle/ embryonic cell''
nầy để tái tạo con người, hoặc thực tế hơn, lèo lái/hướng dẫn
sự phân hóa tế bào nguyên thủy để tạo ra những mô/cơ quan (da,
thần kinh, tim, thận,...) dùng trong việc trị bịnh nhất là trong
lãnh vực ghép nối cơ quan (Transplantation) .
Việc
khảo cứu tế bào phôi thai nguyên thủy (=Stammzellenforschung) là
đề tài rất sôi động hiện tại và ở Đức đang bị công kích mạnh,
nhất là từ phía tôn giáo.
Sinh sản
vô tính
Khác
với sự sinh sản hữu tính đã đề cập định bởi sự phối hợp giống
đực-cái qua tinh trùng-trứng, sự sinh sản vô tính -như nghĩa của
từ ngữ- không cần có sự phối hợp của giống khác phái. Trong
thiên nhiên hiện tượng nầy không phải là việc lạ. Để đôi ba vi
khuẫn trong môi trường thích hợp, chỉ vài tiếng đồng hồ sau,
chúng ta có một số vi khuẫn mới giống hệt như vi khuẩn ban đầu.
Trong lãnh vực thực vật cũng vậy, cây mọc từ rể hoặc cây chiết
có đầy đủ số nhiễm thể/yếu tố di truyền y như cây mẹ nẩy mầm từ
hột quả. Riêng ở động vật thượng đẳng, người ta cũng như thú
vật, hiện tượng ''sinh sản tái lập vô tính=Klonen''
trong nghĩa
tạo ra những ''phóng bản/Kopien'', những sinh vật với diện mạo
và toàn bộ yếu tố di truyền (Genom) giống y như nhau, đến hiện
tại chưa xãy ra.
Lời
xác định ở câu trên thật có đúng không, hay sự sinh sản tái lập
vô tính (để ngắn gọn kể từ đây dùng danh từ ''Klonen'') ở người
ta/thú vật vẫn đã xãy ra mà chúng ta chưa cãm nhận đó thôi? Rỏ
ràng nhất, việc sinh đôi/sinh ba với những đứa con giống y nhau
phải chăng cũng là kết quả của hiện tượng Klonen?
Câu
trả lời: Đúng nhưng cũng không đúng! Không đúng vì sinh đôi/sinh
ba -hay cả trăm như bà Âu Cơ dòng giống dân Việt- cũng khởi thủy
từ trứng thụ tinh hữu tính (bà Âu Cơ có chồng là Lạc Long
Quân!). Tuy nhiên, như đã trình bày ở đoạn cuối phần thụ tinh
nhân tạo, những tế bào phôi thai nguyên thủy -không phải là
trứng ''hữu tính'' nữa- vẫn có đủ khả năng tạo nên phôi thai/bào
thai. Những anh em sinh đôi phát sinh từ một trứng (eineiige
Zwillinge ---> giống y nhau về diện mạo cũng như toàn bộ yếu tố di
truyển) +5), thành hình chính từ những tế bào nầy, và như vậy
-theo định nghĩa- họ thật sự là người ''Klon''.
Nếu
hiện tượng sinh đôi/sinh ba tự nhiên từ một trứng là do sự tách
rời (splitting) những tế bào phôi thai nguyên thủy trong cơ thể
người mẹ một cách ngẩu nhiên thì ngược lại người ta cũng có thể
cố ý phân chia những tế bào nguyên thủy từ các trứng thụ tinh tự
nhiên hay nhân tạo để tạo ra những phôi thai giống như nhau. Qua
phương pháp ''phân chia tế bào phôi thai =
Mehrlingsspaltung=Embryosplitting'' nầy, khỉ Klon ''Tetra'' đã
được sinh ra, và mặc dầu trong thí nghiệm nầy người ta đã phân
chia tế bào của 107 phôi thai khỉ Rhesus, định cho sinh ra 368
''Tôn Hành Giả'' con, nhưng thực tế chỉ có 4 phôi thai thành
hình được khỉ cái mang thai và cuối cùng chỉ có một mình Tetra
sống sót ra đời.
Một
bước xa hơn việc Klonen qua sự phân chia tế bào phôi thai nguyên
thủy là sự ''Klonen với nhân tế bào''
(Zellkerntranplantation/Nucleustransfer/ nuclear transfer).
Trong trường hợp nầy thay vì dùng trọn tế bào phôi thai nguyên
thủy, người ta chỉ lấy nhân của tế bào nầy (Zellkern) và cho vào
một trứng mà trước đó đã được lấy mất nhân. Trứng ờ đây
(=Cytoplast không chứa đựng yếu tố di truyền) đóng vai trò nhận
nhân tế bào cho (=Karyoplast) và tăng trưởng thành phôi thai để
sau đó được đem cấy vào tử cung người/thú cái. Thú được
''klon'', được sinh ra như vậy có đặc tính và toàn bộ nhiễm thể
của thú cho, là ''phóng bản'' của thú ''cha'' đã cho nhân tế
bào. Phương pháp Klonen với nhân tế bào nguyên thủy đã được
thực hiện nhiều trong lãnh vực chăn nuôi. Hiện tại có khoảng
1000-2000 bò con đã được sinh đẻ qua phương pháp Klonen nầy.
Phương pháp Klonen với tế bào hay nhân tế bào phôi thai nguyên
thủy vừa kể, tuy trái với thiên nhiên, nhưng vẫn dựa vào điểm
sinh lý học cơ bản dể hiểu: Những tế bào phôi thai nguyên thủy ở
giai đoạn 3-8 tế bào (hoặc cùng lắm đến cuối thời Morula với
khoảng 30 tế bào) có ''toàn năng/toàn lực'' để tái tạo mọi cơ
quan, tạo phôi thai mới. Câu hỏi đặt ra tiếp: Liệu người ta có
thể Klonen được với nhân của tế bào cơ thể (=Somazelle), tế bào
đã phân hoá giữ nhiệm vụ đặc biệt như tế bào da, tim, gan, thận,
thần kinh v.v..., không còn có tính ''toàn năng/toàn lực''? Nếu
thực hiện được điều nầy, người ta sẽ Klonen dể dàng, không cần
dùng đến tế bào phôi thai nguyên thủy, không cần phải
lấy/''giết'' phôi thai từ tử cung người mẹ, không cần phải khổ
cực khó khăn thực hiện sự thụ tinh nhân tạo với thành quả ít oi;
và việc tái lập khũng long Dinosaurier trong phim Jurassic Park
của Steven Spielberg với một vài mẫu DNA (àhoá chất định yếu tố
di truyền), sẽ không còn chuyện phim mà sẽ là sự thật, cũng như
chuyện Tôn Ngộ Không nhổ lông gáy, ''klonen'' ra một lố khỉ như
nhau sẽ không còn là chuyện bịa đặt vô lý.
Thực
tế, theo quan niệm sinh học thông thường đến hiện tại, những tế
bào cơ thể đã phân hóa giữ nhiệm vụ đặc biệt -tế bào da chỉ sinh
da, tế bào tim chỉ tạo cơ tim, tế bào thịt chỉ gây mô cơ, ....-
không thể trở về trạng thái nguyên thủy để phát triển tạo ra
phôi thai mới được, cùng lắm chỉ những tế bào ở thời kỳ phôi
thai Blastozyste (''quả cầu'' rổng với khoảng 80-100 tế bào) -và
phải là những tế bào ở lớp phía trong (inner cell mass)- mới còn
giử khả năng tái tạo một số cơ quan (=pluripotent ---> nhưng vẫn
không thể tạo lại nguyên phôi thai/sinh vật). Lý thuyết nầy hiện
tại không còn đứng vững qua sự chào đời của cừu Dolly vào ngày
5.7.1996. Để Klonen Dolly, những khoa học gia của Viện Khảo Cứu
Roslin (Edinburg/Scottland) đã không dùng tế bào phôi thai
nguyên thủy+6) mà dùng tế bào cơ thể trưởng thành, tế bào ở vú
sữa của cừu cái Belinda (thuộc giống cừu Finn Dorset lông
trắng). Tế bào nầy được nuôi dưỡng trong môi trường đặc biệt để
đạt đến thời kỳ thích hợp cho sự Klonen (---> quiescent cell), sau
đó người ta lấy nhân của tế bào nầy ra và cho vào trứng đã được
lấy mất nhân (từ cừu cái Fluffy thuộc giống Blackface có đặc
điểm lông đen ở mặt). Trứng và nhân mới nầy được kích động bởi
một tia điện để hòa hợp nhau lại, và qua một cơ nguyên chưa biết
rỏ, đã ''sống lại'' (à reprogrammiert/reprogrammed) phân hóa
tăng trưỡng. Giai đoạn kế tiếp, cấy trứng vào cơ quan sinh dục
của cừu cái, để phôi thai thành hình lớn lên không khác gì những phương pháp sinh sản nhân tạo khác.
|
 |
 |
|
Dolly trắng (phía trái) và mẹ cho trứng
mặt đen |
Dolly và con |
Mặc
dầu sinh ra từ trứng -đúng hơn ''vỏ trứng''- của cừu Fluffy có
mặt đen giống Blackface, nhưng Dolly có toàn lông trắng của
giống cừu Finn Dorset. Sự khảo sát yếu tố di truyền cũng cho
thấy Dolly đúng là ''phóng bản'', là Klon của cừu Belinda đã cho
nhân. Dolly đã lớn lên bình thường, đã được phủ nọc tự nhiên,
mang thai và cũng đã sinh ra 4 cừu con. Dầu vậy so với tuổi thọ
bình thường của cừu sinh đẻ tự nhiên (khoảng 11-12 năm), Dolly
chỉ sống được 6 năm, ''già'' đi trước tuổi, sớm bị bịnh đau khớp
xương (arthritis) ở hai chân sau và vào tháng hai vừa qua
(14.2.2003) chết vì bịnh sưng phổi. Sự ''già sớm'' của Dolly
phải chăng là hậu quả của sự Klonen mà cơ nguyên của nó người ta
chưa biết rỏ tường tận, hay đơn giản chỉ vì người ta đã dùng
nhân của tế bào vú sữa đã trưỡng thành, đã ''già'' và như vậy
Dolly sinh ra -trên bình diện sinh hoá học- đã có ''tiền kiếp'',
đã có mang một số tuổi trong nhân rồi.
Tạm kết
Vấn
đề Klonen chắc chắn trong tương lai vẫn còn là đề tài để các
khoa học gia khảo cứu, để những nhà triết gia, tôn giáo, đạo
đức... kể cả người dân thường như chúng ta bàn cải, tranh luận.
Trong giới hạn của chuyến đi dạo ngắn trên lãnh vực sinh sản ở
đây, một vài nét đơn sơ được nêu ra về việc thụ tinh tự nhiên
của trứng và tinh trùng, việc thụ tinh nhân tạo đã và đang xãy
ra, cũng như vấn đề sinh sản tái lập vô tính ảnh hưởng không
nhiều thì ít đến nếp sống chúng ta trong tương lai. Ở điểm cuối
nầy, lợi và hại như thế nào, hẳn là điều mỗi người mỗi ý. Có
điều đừng quên, sự hiểu biết của chúng ta trong việc Klonen hãy
còn rất nông cạn. Trong trường hợp Dolly, từ 277 trứng được phối
hợp với nhân, chỉ có 29 phôi thai thành hình, lành mạnh được cấy
vào cơ quan sinh dục của 13 cừu cái, và cuối cùng chỉ có Dolly
duy nhất chào đời. Tỉ lệ thành công (1/277) chỉ là 0,4%, thật
quá ít so với trường hợp thụ tinh tự nhiên khoảng 85%. Việc
Klonen hiện tại chỉ là bước đi khởi đầu, chúng ta còn phải tìm
tòi, học hỏi nhiều hơn; và chắc chắn còn lâu chúng ta mới có thể
...sinh con trăm trứng được như bà Âu Cơ hay Klonen chớp nhoáng
thành công trăm phần trăm cở Tề Thiên Đại Thánh.
Đức Quốc -
Đầu thu 2003
Ghi chú:
+1) Sau khi một tinh trùng
đã chui được vào trứng, một số hiện tượng sinh hóa được kích
thich và màng trứng phía ngoài đóng kín, không cho tinh trùng
nào khác vào nữa.
+2) Tinh trùng cũng như
trứng chỉ có phân nữa số nhiễm thể (Chromosomensatz=22+1yếu tố
dịnh phái nam hay nử) chứa đựng những yếu tố di truyền (Gene=di
thể) của cha, của mẹ còn được gọi chung qua tên ''Gamet=giao
tử''. Sau khi thụ tinh, ''trứng thụ tinh'' được gọi là ''hợp
tử=Zygote'' có toàn vẹn số nhiễm thể (23x2=46) của cha mẹ và là
khởi điểm cho sự thành hình một con người, một sinh vật mới.
+3) Sự thụ tinh nhân tạo
hiện được thực hiện qua hai phương pháp: a) Ở phương pháp
''IVF=in-vitro-Fertilisation'' người ta để tinh trùng tự mình
đến hoà hợp với trứng trong ống nghiệm (số lượng tinh trùng cần
để thụ tinh với trứng vẫn phải rất nhiều), trái lại phương pháp
thụ tinh ''ICSI = intrazytoplasmatische Spermieninjektion''
người ta chỉ cần một tinh trùng (hay rỏ hơn một nhân của tinh
trùng) và tiêm thẳng vào trứng (thay vì để tinh trùng chạy chui
vào trứng như trường hợp IVF).
+4) PID
=PrảImplantation-Diagnostik ---> phương pháp chẩn bịnh phôi thai
thụ tinh nhân tạo (bằng cách khán nghiệm tế bào phôi thai) trước
khi cấy vào tử cung người đàn bà mang thai. Phương pháp nầy
được phép dùng ở Úc, Hoa Kỳ và 10 quốc gia Âu châu và đến hiện
tại có khoảng 100 trẻ em thật sự chào đời trong số 400 cặp vợ
chồng đã dùng phương pháp PID khán nghiệm trứng thụ tinh. Ở Đức,
Áo, Thụy sĩ và Bồ Đào Nha phương pháp nầy còn bị cấm với ngoại
lệ được dùng để định trai/gái và ngừa những bịnh di truyền
liên hệ đến phái nam nữ
+5)
Trong việc sinh đôi có hai trường hợp xãy ra: a) nếu vô tình có
hai trứng rụng cùng lúc và được thụ tinh, người ta có con sinh
đôi, nhưng hai người con nầy (zweieige Zwillinge) không khác gì
những anh em cùng cha mẹ sinh đẻ riêng rẻ ở thới điểm khác nhau.
b) chỉ có một trứng thụ tinh, nhưng vì một lý do nào đó những tế
bào ở giai đoạn phân bào đầu tiên bị tách ra làm hai, tăng
trưởng thành 2 phôi thai/bào thai giống y như nhau; trong trường
hợp nầy người ta có con ''sinh đôi cùng một trứng'' (eineiige
Zwillinge; nếu sự phân chia tế bào không hoàn hảo người ta có
con sinh đôi dính liền nhau = Siamische Zwillinge).
+6) Thật ra một năm trước
khi Klonen Dolly (1995) những khoa học gia viện Roslin (I.
Wilmut, Campbell u.a.) đã thành công trong việc Klonen với tế
bào phôi thai nguyên thủy qua cừu Megan và Morag.
Trở về Trang Chính
|