|
Chó,
mèo lục đục cắn nhau,
Chủ
nhà đã đến mau mau làm hòa.
Nếu
không bị đánh, rầy, la,
Mèo
đường, chó chợ không nhà nương thân.
Trong
những gia súc quen thuộc, bên cạnh mèo, chó là con thú thân cận
nhất với loài người. Phải chăng vì vậy mà người xưa đã lấy chó
làm biểu tượng cho một thời điểm của kỷ niên, của một năm trong
mười hai con giáp: năm TUẤT.
|
 |
|
Miacis |
Thật
vậy, chó nhà là một trong những thú được thuần hoá lâu nhất,
cách đây trên 12-15 ngàn năm từ chó sói trong rừng sâu hoang
dại, trước cả gà, heo, dê, cừu, trâu, bò. Trong ý tìm về nguồn,
những thú ăn thịt như chó cũng như mèo, gấu, chồn,… đều có cùng
một ông tổ chung với tên Miacis, đã xuất hiện trên quả đất cách
đây 50 triệu năm. Nói là ông tổ/ông sơ nhưng Miacis thật
chỉ là một con thú nhỏ, chân ngắn, đuôi dài, có bàn chân xòe ra
(Spreizefüße) -và như vậy có lẽ sống ở trên cây-, không giống gì
với những thú ăn thịt chó, mèo, chồn, gấu … hiện tại, ngoài việc
trên hàm răng đã manh nha có 4 răng nanh để cắn xé (Fang-zähne),
bộ răng mà về sau biến thái thành đặc điểm của Bộ Thú Ăn Thịt
(Ordnung Carnivora). Theo đà tiến hóa hằng triệu năm, vạn vật
đổi thay
sinh sinh diệt diệt, từ Miacis phát sinh Cynodictis
+1) rồi Cynodesmus+2) , và cách đây
khoảng 12 triệu năm Tomarctus xuất hiện, một con thú có
chân cao mạnh, đuôi tương đối ngắn với bộ răng và dáng vóc như
chó sói hiện tại. Tomarctus được các nhà động vật xem là tổ tông
gần nhất của những thú thuộc Họ Chó ngày nay (Familie Canidae)
và từ Tomarctus người ta phỏng định có khoảng 42 loài thú đã
được phát sinh ở vùng Bắc Mỹ. Tuy hậu duệ của Tomarctus nhiều,
nhưng một số lớn đã tuyệt chủng trong
quá trình tiến hoá vì những lý do không rõ và kể từ 2 triệu năm
nay chỉ còn có 10 Loài (Gattungen) tồn tại được góp chung lại
trong Họ Chó (Familie Canidae).
|
 |
|
Tomarctus |
Trong
gia đình Chó (Familie Canidae) bao gồm cả chồn với vô số thú lớn
nhỏ khác nhau, chó nhà, chó sói, chó rừng Coyote/Chakal -những
con chó mà có lẽ chúng ta ai cũng đã hình dung ra được khi nói
về năm Tuất- có họ hàng thật gần nhau và được xếp nằm chung vào
Loài Chó (Gattung Canis). Trên bình diện thuần khoa học
·
chó nhà (Hund/dog/chien: Canis
familiaris/Canis lupus familiaris )
·
chó sói xám (Wolf/loup: Canis lupus)
·
chó sói Coyote (Canis latrans)
·
chó sói Chakal (Jackel/chacal: Canis aureus/C.
mesomelas,…)
có hình
dáng, đặc điểm khác nhau, nhưng trong Chuyện Chó Năm Tuất ở đây,
chúng ta chỉ cần phân biệt " chó nhà/chó được thuần hoá" và "chó
sói/chó rừng" là đủ. Trong ý đơn giản hoá vấn đề như vậy, chó
nhà (Canis familiaris/Canis lupus familiaris) đúng thật đã phát
xuất từ chó sói (Canis lupus). Sự khảo sát toàn bộ yếu tố di
truyền (Genomanalyse)+3) cho thấy sự khác biệt giữa
chó sói và chó nhà chỉ khoảng 0,2% trong khi sự khác biệt giữa
chó sói và Coyote lên đến 3,1%. Hiện
tại, điểm bàn cãi sôi nổi giữa những nhà khảo cứu động vật không
là nghi vấn về họ hàng/bà con chặt chẽ giữa chó nhà-chó sói mà
là vấn đề: ở thời điểm nào giống chó nhà đã tách rời khỏi giống
chó sói để có đời sống riêng?
Dựa vào sự
khảo sát xương hoá thạch của người-thú, giống chó nhà đã hiện
diện trong gia đình loài người cách đây khoảng 12-15 ngàn năm,
nhưng nếu dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền DNA của các khoa
học gia Thụy Điển và Mỹ (J.Lundeberg/B.Waye, 1997) thì chó nhà
đã tách riêng ra khoảng cách đây gần 135 ngàn năm. Sự cách biệt
quá xa trên 100 ngàn năm về thời điểm xuất hiện giống chó nhà
qua hai phương cách khảo cứu trên đã gây những cuộc tranh luận,
bàn cãi sôi nổi. Theo giới động vật gia cổ điển, giống chó nhà
được tìm thấy ở hóa thạch xưa lắm chỉ khoảng 15 ngàn năm
+4) ; giả thuyết dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền
tuy "khoa học/tiến bộ" nhưng không có bằng cớ thật, đến hiện tại
chưa ai tìm được vết tích gì cho thấy có sự liên hệ giữa chó và
người ở thời điểm xa xưa cách đây 100 ngàn năm. Để giải thích
điểm ‘’gút mắc’’ nầy, một số giả thuyết đã được nêu ra:
·
Vào thời xa xưa, cách đây 100 ngàn năm, khi con
người còn ăn lông ở lỗ, sống cuộc đời săn thú, lượm trái quả,
không định cư cố định, thì làm gì có …nghĩa địa, có nơi chôn,
nơi ‘‘gởi xương’’ gần gũi giữa người và thú, để bây giờ có thể
tìm di tích liên hệ được
·
Sự chung đụng giữa người và thú không hẳn do sự
thuần hoá, sự bắt nuôi ‘‘chó sói con bởi một cậu bé Neandertaler
nào đó’’ như quan niệm thường biết, mà có lẽ thoạt đầu là hình
thức cộng sinh giữa người và chó: người theo dõi chó để săn mồi,
chó sống gần bên người để được hưởng những của thừa do người phế
thải. Sự sống chung và ảnh hưởng thuần hoá thật sự của người lên
chó chỉ xảy ra ở giai đoạn định cư trồng trọt/chăn nuôi của loài
người về sau.
Để tổng
hợp những thuyết về nguyên thủy chó nhà, một sơ đồ về quá trình
thành hình chó nhà được phát họa như sau:
Thời điểm
(năm) Biến cố
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
135000 Giống chó nhà hiện diện (dựa vào
sự khảo sát yếu tố di truyền)
35000 Chung đụng giữa người và chó (di
tản từ Sibirien sang Mỹ
Châu qua đường Bering)
25000 Dấu
chân chó được tìm thấy ở động Chauvet (Nam Pháp)
14000 Bộ xương chó cổ nhất được tìm thấy
ở Trung Đông
500
TCN-500 SCN Phát triển các giống chó săn, chó giữ nhà/chăn
thú,…
1300-1500
SCN Qua sự lai giống, chó nhà hiện đại phát hiện
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
TCN=trước
Công Nguyên, SCN=sau Công Nguyên
Chó nhà
hiện tại, theo tài liệu của FCI/2004 (=Fédération Cynologique
Internationale/Hiệp Hội Chó Quốc tế), có khoảng 347 loại chó
thuần chủng (Rassen) được đăng ký chánh thức, không kể đến những
loại chó lai (bastard) được sanh ra khi chàng và nàng chó thoát
khỏi tay chủ, gặp nhau "lẹo tẹo" trên đường đi, trong ngỏ hẻm
như một thi nhân đã tức cảnh làm thơ..
|
 |
|
"urgly dog" Sam
|
|
" ...
Dựa vào sự
khảo sát xương hoá thạch của người-thú, giống chó nhà đã hiện
diện trong gia đình loài người cách đây khoảng 12-15 ngàn năm,
nhưng nếu dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền DNA của các khoa
học gia Thụy Điển và Mỹ (J.Lundeberg/B.Waye, 1997) thì chó nhà
đã tách riêng ra khoảng cách đây gần 135 ngàn năm. Sự cách biệt
quá xa trên 100 ngàn năm về thời điểm xuất hiện giống chó nhà
qua hai phương cách khảo cứu trên đã gây những cuộc tranh luận,
bàn cãi sôi nổi. Theo giới động vật gia cổ điển, giống chó nhà
được tìm thấy ở hóa thạch xưa lắm chỉ khoảng 15 ngàn năm
..." |
và đối với
dân nhậu "mộc tồn, thịt cầy" là món ăn thượng hảo hạn…
Sống
trên đời không ăn dồi thịt chó,
Chết đi
rồi xuống âm phủ biết có hay không.
Ở điểm ẩm
thực nầy người Việt, đặc biệt người Bắc, người Trung Hoa và nhất
là Đại hàn thật là những đồng chí cùng khẩu vị. Sự hợp "gu"
trong việc ăn thịt chó nầy đã được một nghiên cứu gia đánh giá
thật cao, xem là "…chìa khóa trong việc truy về nguồn gốc chủng
Lạc Việt" và cho thấy sự liên hệ "thành phần gốc gác của hai tộc
Triều Tiên và Việt Nam" +8). Cùng thích ăn, cùng họ
hàng, và ngược lại không cùng "gu" ăn, không họ hàng? Có thể
lắm: người Á ăn thịt cầy, người Âu cho ăn thịt chó là …dã man (ở
Đức luật cấm làm thịt chó được công bố chính thức vào năm 1986,
có giá trị luôn cho Công Đồng Âu Châu/EU) và như vậy người Á
không họ hàng với người Âu là phải! Chỉ là một nhận định vui
đùa, nhưng thật vậy, người Tây phương hiện tại quí trọng chó
nhiều khi thái quá. Họ không phải chỉ chống đối việc ăn thịt
chó, mà xa hơn đưa chó lên địa vị "người" với mọi sự chìu
chuộng, săn sóc, lo lắng: khám sức khỏe định kỳ, salon trang
điểm, thời trang/áo che thân đặc biệt, luật định phải dẫn chó đi
dạo mỗi ngày, thức ăn bổ dưỡng,… Ở điểm cuối nầy, đôi tiệm ăn đã
"bất hợp pháp" dọn thức ăn …chó cho khách hàng mà thực khách vẫn
thấy ngon miệng. "Xì căng đan" kiểu nầy lâu lâu vẫn được nghe
thấy qua truyền hình, báo chí.
Không phải
chỉ cung cấp thịt cho các quán “Mộc tồn” (=”cây còn”, nói ngược
lại là “con cầy”) đặc biệt ở Á châu, chó còn là một con thú rất
hữu ích trên nhiều bình diện. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên “chó
giữ nhà, mèo bắt chuột”, tùy theo cách huấn luyện tập dợt, chó
là một cộng sự viên tích cực trong việc
-
canh giữ thú, đặc biệt trong việc chăn cừu. Danh
từ chó “Berger” đi từ chữ Pháp đúng là tên để chỉ chó chăn cừu
(Schäferhund/german shepherd/berger allemand)
-
đuổi thú rừng nai, hưu, chồn, thỏ,… trong các
cuộc săn bắn
-
làm “cận vệ/gạt-đờ-co" như Doberman, Bulldog,
Bullterrier
-
đánh hơi tìm ma túy/thuốc phiện cho cảnh sát
quan thuế cũng như tìm người thất lạc, cứu người bị đè chôn sâu
trong đất, trong tuyết. Thật nổi tiếng trong việc tìm người bị
ngập tuyết là chó Berhardiner có tên Barry trong khoảng 12 năm
đã cứu 40 mạng người
-
dẫn đường cho người mù cũng như được đào luyện
để tìm mìn chôn trong đất
-
kéo xe trợt tuyết với chó Husky hoặc Samoyede
……..
Trên bình
diện khoa học, chó đã đưa thân làm thí nghiệm, giúp khoa học gia
khám phá bao nhiêu điều lợi ích.
·
Pawlow (1849-1936) đã gõ chuông khi cho chó ăn,
và như người ta, khi thấy thức ăn/khi ăn chó đương nhiên tiết
ra nước miếng, dịch tiêu hóa. Qua nhiều lần tập dợt thành thói
quen, chó chỉ cần nghe tiếng chuông là nước miếng/dịch tiêu hóa
chảy ra, dầu không có thức ăn đưa đến. Sự tương quan giữa phãn
xạ tự nhiên (unkonditionierte Reflexe
à
bài tiết nước miếng, dịch tiêu hóa) và phãn xạ tập dợt
(konditionierte Reflexe
à
tiếng chuông) đã là nền tảng cho thuyết "Duy hành vi?!"
(=Prinzip der Konditionierung/ behaviourism)+9), là
cơ bản của ngành sinh học cảm ứng/phãn xạ (Reflexphysiologie).
Qua thí nghiệm hầu hết với chó, Pawlow đã đạt nhiều thành quả
khoa học trên lãnh vực sinh lý tiêu hóa
(Verdaungsphysilogie/Verdaungsdrüsen) và là người nhận giải
Nobel đầu tiên về Sinh Lý Học/Y Khoa năm 1904.
·
Banting (1891-1941) và Best (1989-1978) đã tinh
lọc Insulin từ tụy tạng (Pancreas) chó (cũng như bò con) và lần
đầu tiên, ngày 30.7.1921, khi tiêm chất nầy vào máu, đã thành
công làm giảm lượng đường trong máu ở một con chó bịnh tiểu
đường bị cắt mất tụy tạng. Chó đã chịu đau, chịu khổ để dọn
đường cho việc trị liệu bịnh tiểu đường và nhờ vậy Banting và
Best (cùng với MacLeod và Collip) đã được tôn vinh qua giải
Nobel Sinh Lý Học/Y Khoa năm 1923.
·
Ở lãnh vực phi hành không gian, chó cũng đã đóng
góp thật tích cực. Trong vệ tinh Sputnik 2 của Nga, ngày
3.11.1957, chó Laika là sinh vật đầu tiên được phóng lên không
gian. Chó được trang bị với những máy móc nhầm đo những phãn ứng
cơ thể (tim đập, hô hấp, áp huyết, nhiệt độ,…) để mở đường cho
việc đưa người lên không gian về sau. Nhưng số phận Laika khi
được đặt lên vệ tinh/phi thuyền đúng là số phận của một "chiến
sĩ ra đi không có ngày trở lại" vì thời đó không có phương tiện
an toàn để đưa chó về. Theo chương trình, Laika được dành sẵn
thức ăn nước uống, trù liệu sẽ sống trong phi thuyền khoảng 10
ngày để truyền những tín hiệu đo được ở cơ thể về trái đất,
nhưng qua nguồn tin chính thức của nhà cầm quyền Nga, Laika chỉ
sống có 7 ngày, và theo nhà Sinh vật học Dimitri Malaschenkow
tuyến bố trong kỳ Hội thảo Khoa Học Không gian
(Weltraumkongress) vào năm 2002 thì Laika đã chết trên phi
thuyền ngay sau 5 đến 7 tiếng đồng vì "Stress", vì độ nóng gia
tăng quá cao. Qua tín hiệu nhận được, khi phi thuyền đạt cao độ
không còn hấp lực trái đất (àSchwerlosigkeit)
tim của Laika đập nhanh hơn bình thường gấp 3 lần và sau đó chậm
lại cũng khoảng 3 lần so với khi tập quen với gia tốc ly tâm
(Zentrifugenbeschleunigungen) ở dưới đất. Dầu thế nào đi nữa,
điều chắc chắn là xác của Laika đã cháy tan cùng phi thuyền, khi
năm tháng sau -ngày 14.4.1958-
Sputnik
rơi lại vào khí quyển . Sau Laika, trong
khoảng 1979 đến 1961, nhiều chó khác -ít nhất 13 con (chó Bars,
Lisichka, Belka, Strelka, Pchelka, Mushka,…)- đã lần lượt được
phóng lên quỹ đạo trời cao và một số đã chết, đã hy sinh cho
chương trình Khảo cứu Không gian của Nga, trước khi Juri A.
Gagarin, phi hành gia Nga và là người đầu tiên bay vòng quanh
trái đất trong 108 phút với phi thuyền Wostok 1 (12.4.1961).
·
Trong lãnh vực kỹ thuật phối hợp yếu tố di
truyền (Gentechnologie), năm qua một con chó nổi tiếng đã được
đăng trên trang bìa của báo Time số 14/12/2005, đó là "Snuppy",
con chó đầu tiên chào đời qua phương pháp sinh sản vô tính
(=Klonierung/Cloning) bởi nhóm khoa học gia Đại Hàn do giáo sư
Woo Suk Hwang hướng dẫn. Sự thành hình chó Snuppy không qua sự
giao hợp thường tình giữa thú cha thú mẹ, của tinh trùng và
trứng mà do sự phối hợp nhân của tế bào cơ thể
(Somazelle/somatic cell) với trứng đã được lấy mất nhân trong
ống nghiệm giống như trường hợp của cừu Dolly năm 1996 bởi viện
Khảo Cứu Roslin (Edinburg/Scotland). Sự khác biệt chỉ là ở Dolly
nhân của tế bào cơ thể được lấy từ vú sữa của cừu cái Belinda,
trong khi ở Snuppy nhân được lấy từ tế bào lỗ tai của một con
chó săn giống Afghanistan. Ông Hwang, ngoài chuyện chó Snuppy,
cũng đã thật nổi tiếng trong năm qua với những thành quả khoa
học đăng ở tạp chí Science (5/2005) về việc khảo
cứu tế bào nguyên thủy (Stammzellenforschung/stem cell
research). Điều đáng tiếc, những tin tức vào cuối năm 2005 cho
thấy, 9 trong 11 kết quả thí nghiệm được công bố của ông là "giả
tạo, bịp bợm". Ngày 23.12.2005 ông đã từ chức giáo sư ở Đại học
Quốc gia Seoul và rút tên ra khỏi mọi hội đoàn liên hệ. Thật
đúng như người ta thường nói, danh tiếng chỉ là hư ảo và càng
trèo cao càng té nặng! Dầu sao, trong những chuyện giả tạo lừa
bịp, việc "Klon" chó Snuppy là chuyện thật được kiểm chứng, ngay
như sự thật nầy không có gì "long trời lở đất/sensationell" khi
biết rằng cừu Dolly đã chào đời qua phương pháp sinh sản vô tính
trước đó gần 4 năm.
Bên cạnh
những đóng góp hữu ích trong khoa học, trong đời sống thường
ngày, điểm thật đáng quý của chó là sự trung thành, mến chủ.
Những chuyện cảm động, chó nằm không ăn không uống bên mộ người
chủ đã chết được nghe từ Âu sang Á, và người Việt chúng ta đã
tôn vinh chó qua câu phong dao
Con không chê cha mẹ khó, chó không bỏ chủ nghèo
Tính trung
thành quyến luyến chủ nầy chính người viết cũng đã được cảm nhận
ở con chó lùn Mi-Nô trắng đốm đen, tối tối vẫn thuờng bò nằm
dưới giường chủ, chiều chiều đi ra tận cuối đường để vẫy đuôi
mừng đón chủ đi học về, hay ở con chó Vàng cao lớn đã binh chủ
cắn người bạn cùng chơi khi anh bạn nầy ôm vật người chủ nhỏ.
Chó Vàng nầy, vì để tránh bất hòa với gia đình người bị cắn, sau
đó đã buộc phải bị đem cho người khác và đã làm người chủ nhỏ
mất nhiều nước mắt. Riêng chó Mi-Nô đã chết già yên ổn và người
trong gia đình kể lại, chó vẫn thường ngồi trước cửa, vội vả
tung chạy khi thấy xa xa có dáng người giống như chủ để rồi tiu
nghĩu cụp đuôi vì …người xưa biền biệt, du học xa nhà.
Năm Tuất
đã đến, mong rằng tính trung hậu "không theo giàu bỏ nghèo" và
tình quyến luyến không dời đổi của con thú cầm tinh năm nay sẽ
bàng bạc nơi nơi, in sâu trong mọi lòng người. Và riêng dành cho
đứa con thương yêu sinh năm Tuất, văng vẳng đâu đây lời chúc …
Chào
năm Tuất, chó nhỏ dễ thương,
Gọi mùa
Thu, con yêu vạn phúc.
Đường
tương lai ngập cánh hoa hường,
Đời an
lành đẹp như lời chúc.
Mong
lắm thay!
Đức Quốc, tháng giêng Bính Tuất/2006
+1)
Cynodictis:
xuất hiện cách đây khoảng 30-40 triệu
năm, có dáng vóc như chồn hương (Wiesel), mõm dài nhọn, tương
đối nhỏ hơn chó hiện tại, chân và móng chưn đã biến thái thích
hợp cho việc chạy nhanh.
+2)
Cynodesmus: xuất hiện cách đây khoảng 15-30 triệu năm
+3)
thay vì định yếu tố di truyền (Gene
à
DNA=Desoxynucleinsäure) trong nhân tế bào, Joakim Lundberg và
Robert Wayne (University Los Angeles) định yếu tố di truyền
trong màng ti thể của tế bào (àMitochondrien).
Cách định Gene như
vậy có lợi điểm trong việc theo dõi sự tiến hoá/biến thái của
một sinh vật, vì khác với Gene trong nhân tế bào do tổng hợp của
Gene cha và Gene mẹ, Gene ở màng ti thể (à
mtDNA) được di truyền từ trứng/Eizelle, tức chỉ từ Gene mẹ, và
như vậy "thuần tính" hơn Gene ở nhân để xác định giòng giống,
đặc biệt giòng họ mẹ. Trong đà tiến hoá, mtDNA -tương ứng như
DNA ở nhân (=Kern-DNA)- sậu biến/mutieren và sự biến thái của
Gene nầy cho thấy sự thay đổi thật sự của loài thú/sinh vật ngay
trước khi có sự đổi thay hình dạng thấy được bên ngoài (trái lại
sự biến thái của Kern-DNA có thể bị định sai gây bởi sự phối hợp
với Gene cha; mtDNA vì vậy được xem là “đồng hồ tiến
hóa/Evolutionsuhr” trong tế bào sinh vật). Qua cách định yếu tố
di truyền như vậy người ta thấy độ khác biệt giữa chó nhà và chó
sói chỉ khoảng 0,2% -một thành phần rất nhỏ không khác gì với sự
khác biệt khoảng 0,16% giữa chó sói với nhau- trong khi sự khác
biệt giữa chó sói và Coyote lên đến 3,1%.
+4) Bộ
xương hoá thạch của người chung với một con chó thật cổ, tìm
được ở vùng Trung Đông, phía bắc Palestina, được định tuổi
khoảng 12000 năm. Gần đây năm 1999 nhà khảo cổ Michel-Alain
Garcia đã tìm ra “dấu chân chó” hoá thạch ở động Chauvet (miền
Nam nước Pháp), cho thấy giống chó nhà đã hiện diện cách đây
25000 năm.
+5)
Fenrir là con lớn của Loki, vị thần nổi tiếng mưu mô nhiều quỉ
kế, và bà "chằng" Angrboda.
Bà nầy sinh ra ngoài chó Fenrir còn con rắn
Jormungand và nữ tử thần Hel. Gia đình "chằng tinh" nầy về sau
đã cùng với những yêu tinh khổng lồ khác gây đại chiến với thần
thánh trên thiên đình, và sau trận đánh đầy máu lửa đất trời,
thần thánh, yêu tinh,… đều bị hủy diệt (à
Ragnarok/ngày tàn của thần thánh). Mãi về sau trời đất mới được
tạo lập và Lif cùng Lifthrasir -loài người duy nhất sống sót sau
ngày tận thế nầy- cùng một số thần thánh được tái sinh tạo nên
một nguyên đại mới thanh bình, ít nham hiểm, ít dối trá hơn.
+6) Theo
truyền thuyết khác: Fenrir coi thường sợi dây Gleipnir và cho
rằng thử sức như vậy là quá tầm thường, quá …chê chó, nên đề
nghị chấp các thần thánh, tuyên bố không cần trì kéo dùng sức
nhiều, không cần phải "…nhăn miệng", và để chứng tỏ điều nầy
Fenrir buộc các vị thần hãy để tay vào miệng chó. Dỉ nhiên thần
thánh nào cũng ngán, cũng sợ chó, tìm mọi cớ để tránh việc …
đưa tay vào miệng. Cuối cùng chỉ có Tyr dám làm chuyện nầy, để
rồi sau đó bị chó cắn thành ông thần …một tay, dầu Tyr là thần
chiến tranh (war god) chuyên nghiệp đấm đánh.
+8)
Nguyên Nguyên trong Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
(www.e-cadao.com/nhanvan/…)
+9)
Nguyên lý "Duy hành vi/Prinzip der Konditionierung" của Pawlow
vẫn còn được tận dụng!
Hiện tại việc quảng cáo như Cola ngon, xe hơi VW
tốt, cà phê Tchibo thơm… vẫn dựa vào lý thuyết nầy: nghe thấy
tin/hình ảnh quảng cáo mãi thành ra quen (àkonditionierte
Reflexe) và như vậy vào tiệm ăn là gọi Cola, mua xe là nghĩ đến
VW, uống cà phê là chọn Tchibo (à
unkonditionierte Reflexe)... Thật sự có phải như vậy không, mỗi
người mỗi ý.Có điều những tâm lý gia quảng cáo cho chắc là như
vậy!
Trở về Trang Chính
|