Năm Tuất chuyện Chó


Dr. Trần Thủ Danh

16 tháng 02 năm 2006

Chó, mèo lục đục cắn nhau,

Chủ nhà đã đến mau mau làm hòa.

Nếu không bị đánh, rầy, la,

Mèo đường, chó chợ không nhà nương thân.

 

Trong những gia súc quen thuộc, bên cạnh mèo, chó là con thú thân cận nhất với loài người.  Phải chăng vì vậy mà người xưa đã lấy chó làm biểu tượng cho một thời điểm của kỷ niên, của một năm trong mười hai con giáp: năm TUẤT.

Miacis

Thật vậy, chó nhà là một trong những thú được thuần hoá lâu nhất, cách đây trên 12-15 ngàn năm từ chó sói trong rừng sâu hoang dại, trước cả gà, heo, dê, cừu, trâu, bò. Trong ý tìm về nguồn, những thú ăn thịt như chó cũng như mèo, gấu, chồn,… đều có cùng một ông tổ chung với tên Miacis, đã xuất hiện trên quả đất cách đây 50 triệu năm. Nói là ông tổ/ông sơ nhưng Miacis thật chỉ là một con thú nhỏ, chân ngắn, đuôi dài, có bàn chân xòe ra (Spreizefüße) -và như vậy có lẽ sống ở trên cây-, không giống gì với những thú ăn thịt chó, mèo, chồn, gấu … hiện tại, ngoài việc trên hàm răng đã manh nha có 4 răng nanh để cắn xé (Fang-zähne), bộ răng mà về sau biến thái thành đặc điểm của Bộ Thú   Ăn Thịt (Ordnung Carnivora). Theo đà tiến hóa hằng triệu năm, vạn vật đổi thay sinh sinh diệt diệt, từ Miacis phát sinh Cynodictis +1) rồi Cynodesmus+2) , và cách đây khoảng 12 triệu năm Tomarctus xuất hiện, một con thú có chân cao mạnh, đuôi tương đối ngắn với bộ răng và dáng vóc như chó sói hiện tại. Tomarctus được các nhà động vật xem là tổ tông gần nhất của những thú thuộc Họ Chó ngày nay (Familie Canidae) và từ Tomarctus người ta phỏng định có khoảng 42 loài thú đã được phát sinh ở vùng Bắc Mỹ. Tuy hậu duệ của Tomarctus nhiều, nhưng một số lớn đã tuyệt chủng trong quá trình tiến hoá vì những lý do không rõ và kể từ 2 triệu năm nay chỉ còn  có 10 Loài (Gattungen) tồn tại được góp chung lại trong Họ Chó (Familie Canidae).

 

Tomarctus

Trong gia đình Chó (Familie Canidae) bao gồm cả chồn với vô số thú lớn nhỏ khác nhau, chó nhà, chó sói, chó rừng Coyote/Chakal -những con chó mà có lẽ chúng ta ai cũng đã hình dung ra được khi nói về năm Tuất- có họ hàng thật gần nhau và được xếp nằm chung vào Loài Chó (Gattung Canis). Trên bình diện thuần khoa học

 

·        chó nhà (Hund/dog/chien: Canis familiaris/Canis lupus familiaris )

·        chó sói xám (Wolf/loup: Canis lupus)

·        chó sói Coyote (Canis latrans)

·        chó sói Chakal (Jackel/chacal: Canis aureus/C. mesomelas,…)

 

có hình dáng, đặc điểm khác nhau, nhưng trong Chuyện Chó Năm Tuất ở đây, chúng ta chỉ cần phân biệt " chó nhà/chó được thuần hoá" và "chó sói/chó rừng" là đủ. Trong ý đơn giản hoá vấn đề như vậy, chó nhà (Canis familiaris/Canis lupus familiaris) đúng thật đã phát xuất từ chó sói (Canis lupus). Sự khảo sát toàn bộ yếu tố di truyền (Genomanalyse)+3)  cho thấy sự khác biệt giữa chó sói và chó nhà chỉ khoảng 0,2% trong khi sự khác biệt giữa chó sói và Coyote lên đến 3,1%.  Hiện tại, điểm bàn cãi sôi nổi giữa những nhà khảo cứu động vật không là nghi vấn về họ hàng/bà con chặt chẽ giữa chó nhà-chó sói mà là vấn đề: ở thời điểm nào giống chó nhà đã tách rời khỏi giống chó sói để có đời sống riêng?

 

Dựa vào sự khảo sát xương hoá thạch của người-thú, giống chó nhà đã hiện diện trong gia đình loài người cách đây khoảng 12-15 ngàn năm, nhưng nếu dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền DNA của các khoa học gia Thụy Điển và Mỹ (J.Lundeberg/B.Waye, 1997) thì chó nhà đã tách riêng ra khoảng cách đây gần 135 ngàn năm. Sự cách biệt quá xa trên 100 ngàn năm về thời điểm xuất hiện giống chó nhà qua hai phương cách khảo cứu trên đã gây những cuộc tranh luận, bàn cãi sôi nổi.  Theo giới động vật gia cổ điển, giống chó nhà được tìm thấy ở hóa thạch xưa lắm chỉ khoảng 15 ngàn năm +4) ; giả thuyết dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền tuy "khoa học/tiến bộ" nhưng không có bằng cớ thật, đến hiện tại chưa ai tìm được vết tích gì cho thấy có sự liên hệ giữa chó và người ở thời điểm xa xưa cách đây 100 ngàn năm. Để giải thích điểm ‘’gút mắc’’ nầy, một số giả thuyết đã được nêu ra:

 

·        Vào thời xa xưa, cách đây 100 ngàn năm, khi con người còn ăn lông ở lỗ, sống cuộc đời săn thú, lượm trái quả, không định cư cố định, thì làm gì có …nghĩa địa, có nơi chôn, nơi ‘‘gởi xương’’ gần gũi giữa người và thú, để bây giờ có thể tìm di tích liên hệ được

·        Sự chung đụng giữa người và thú không hẳn do sự thuần hoá, sự bắt nuôi ‘‘chó sói con bởi một cậu bé Neandertaler nào đó’’ như quan niệm thường biết, mà có lẽ thoạt đầu là hình thức cộng sinh giữa người và chó: người theo dõi chó để săn mồi, chó sống gần bên người để được hưởng những của thừa do người phế thải. Sự sống chung và ảnh hưởng thuần hoá thật sự của người lên chó chỉ xảy ra ở giai đoạn định cư trồng trọt/chăn nuôi của loài người về sau.

 

Để tổng hợp những thuyết về nguyên thủy chó nhà, một sơ đồ về quá trình thành hình chó nhà được phát họa như sau:

 

Thời điểm (năm)           Biến cố

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

135000                         Giống chó nhà hiện diện (dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền)

35000                         Chung đụng giữa người và chó (di tản từ Sibirien sang Mỹ

Châu qua đường Bering)

  25000                         Dấu chân chó được tìm thấy ở động Chauvet (Nam Pháp)

  14000                         Bộ xương chó cổ nhất được tìm thấy ở Trung Đông

 500 TCN-500 SCN      Phát triển các giống chó săn, chó giữ nhà/chăn thú,…

1300-1500 SCN            Qua sự lai giống, chó nhà hiện đại  phát hiện

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

TCN=trước Công Nguyên, SCN=sau Công Nguyên

 

Chó nhà hiện tại, theo tài liệu của FCI/2004 (=Fédération Cynologique Internationale/Hiệp Hội Chó Quốc tế), có khoảng 347 loại chó thuần chủng (Rassen) được đăng ký chánh thức, không kể đến những loại chó lai (bastard) được sanh ra khi chàng và nàng chó thoát khỏi tay chủ, gặp nhau "lẹo tẹo" trên đường đi, trong ngỏ hẻm như một thi nhân đã tức cảnh làm thơ..

 

Ủa ủa cái gì tẹo

Kìa kìa chó mắc lẹo

Đực vện ngỏng đuôi trì

Cái vàng cong lưng kéo…..

 

Chó nhà thật đa dạng từ con Chihuahua nhỏ xíu nằm gọn được trong túi, Dackel lùn thấp, qua Collie, Chow-Chow, Berger, Dalmatiner,… cao khoảng 60-70 cm, đến Deutsche Dogge (=Great Dane, 80 cm),…và thật lớn như chú chó Gibson ở Mỹ (California) khi đứng thẳng cao 2,1 mét, được ghi vào sách kỷ lục Guinness. Bộ lông chó cũng thiên hình vạn trạng : trắng, đen, vàng, nâu, vằn vện, lốm đốm,…và lông ngắn, lông dài, lông xù, lông quắn đủ loại. Vẻ mặt chó cũng thật đa diện: mặt tròn ngắn giống sư tử của Chow-Chow, mõm dài với lông xụ xuống quanh miệng trông thật "ngầu" của Riesenschnauzer, mặt nhăn xệ giống "Churchill già" của chó Mops,… và thật xấu phải là chú chó Sam, răng hô, không có lông, từng đoạt ngôi quán quân  liên tiếp ba lần 2003/2004/2005 là chó xấu nhất thế giới tại Hội chợ Sonoma-Marin tổ chức tại Mỹ. Theo "www.cnn.com/ 22.11.2005" Sam đã chết trong tháng 11/2005 vừa qua, hưởng thọ 14 tuổi và cô chủ Susie Lockheed thật đau buồn trước cái chết của con chó cưng, con chó mà theo cô đã làm người bạn trai khiếp vía chia tay từ giã cô, nhưng đồng thời chó nầy cũng lại là "ông tơ bà nguyệt" nối nhân duyên với người yêu của cô hiện tại. Anh nầy đã thấy     hình ảnh của cô và chó trên một trang web hò hẹn và …yêu người  yêu    chó.                             

 

"urgly dog" Sam

Như đã trình bày, sự tranh luận khoa học về nguồn gốc chó chắc vẫn còn tiếp tục trong tương lai, nhưng riêng người Ai Cập chó không là một chuyện lạ. Đối với họ Anubis -linh vật thân người đầu chó- là  vị thần canh giữ nghi lễ an táng/ướp xác (àMumifizierung), đưa linh hồn người chết đến địa phủ. Hơn nữa, là thành phần của phiên tòa định công/tội do diêm vương Orisis chủ tọa, Anubis có phận sự "đo/cân tim" người chết so với cái lông chim trang điểm trên đầu của nữ thần Maat ( vị thần biểu tượng cho công bình/sự thật). Nếu tim nhẹ hơn chiếc lông, linh hồn người chết sẽ được rời diêm phủ đến thế giới an lạc, nhưng nếu tim nặng hơn, linh hồn sẽ bị đày đến vực thẩm tối tăm và ở đây nếu không bị lửa đốt cháy thì cũng bị chằng tinh Ammut - đầu sấu, mình sư tử, đít hà mã/trâu nước- nuốt trộng. Người Á Châu chúng ta, xem cái chết "nhẹ như lông hồng" -và như vậy nếu thân nhẹ, tim cũng không nặng-, chắc sẽ được chó thần Ai Cập ân thưởng ở âm phủ; ngược lại người Đức, điều tốt khi sống là cần phải "großherzig=đại tâm" chắc là không nên ở Ai Cập!

 

Không phải chỉ ở địa ngục mà trên cõi trời cũng có chó. Theo huyền thoại của người Nhật Nhĩ Man, Fenrir là chó sói con được nuôi trong nhà của thần chúa tể Odin và được Tyr -cậu con trẻ của vị chúa thần nầy- cưng chìu, cho ăn cho uống. Mặc dầu hiền khô và chỉ thích chơi giởn, nhưng thần thánh nào cũng ngán sợ không dám đến gần Fenrir, vì với thời gian chó cao lớn, mạnh sức, răng bén nhọn; mổi lần chó tru lên là làm rung chuyển cả thiên đình. Vừa sợ vừa bị ám ảnh bởi lời sấm cho rằng chó sói cùng gia tộc của thú nầy+5) sẽ gây tận thế một  ngày nào đó, thánh thần trên thiên đình Asgard bàn bạc nghĩ cách cột Fenrir lại. Vì chó quá lớn, quá mạnh, các thần thánh biết khó thể dùng sức để cột chó nên đã dùng mẹo, thách thức cho rằng Fenrir không đủ mạnh để giựt đứt được dây mà họ buộc vào cổ.  Dễ tin, Fenrir nhận lời thách thức và qua hai lần thử sức, dầu dây xiềng Leding và Dromi được làm bằng sắt thép thật cứng, thật bền, Fenrir vẫn làm đứt dây dễ dàng. Cuối cùng các vị thần thánh đã phải nhờ đến một …chuyên gia Người Lùn chế tạo sợi dây "Gleipnir" với nguyên liệu chưa từng có từ "tiếng chân mèo, rễ núi, râu đàn bà, hơi thở cá, sức gấu, nước miếng của chim", một sợi dây mầu nhiệm bền chắc vô song, dầu mịn nhuyễn thoạt nhìn không có gì đặc biệt. Tuy thích đùa giởn và coi thường sợi dây mỏng nầy, nhưng qua sự kèo nài, muốn phải thử sức lần thứ ba cho kỳ được của các vị thần thánh, Fenrir đâm nghi ngờ, không muốn cho tròng dây vào cổ nữa+6). Các vị thần thánh lại phải nhờ Tyr -người thân thiết của Fenrir- dụ cho Fenrir thuận ý. Để Fenrir không nghi ngờ, Tyr đồng ý làm …con tin, để tay mình vào miệng chó trong khi các thần thánh một đầu tròng dây vào cổ thú, đầu dây khác buộc chặt vào một tảng đá khổng lồ. Cuộc thử sức bắt đầu. Thoạt tiên Fenrir thử trì kéo nhẹ, sau đó lần lần gia tăng sức thêm. Sợi dây vẫn không đứt và càng siết chặt vào cổ chó. Tức giận, Fenir dùng hết sức để làm đứt dây. Vô ích, dây vẫn không đứt! Trước tiếng cười ngạo chê của thần thánh, Fenrir biết mình bị lừa, giận điên lên, cắn đứt cánh tay của Tyr, vùng vẫy tìm cách thoát khỏi vòng dây oan nghiệt. Nhưng sợi dây thần không sao đứt được, bám siết vào da thịt của chó, và  Fenrir đành phải ôm hận bị cột trói cho đến "ngày tàn của thần thánh" (Ragnarök/Götterdämmerung/ Doom of the gods), ngày mà yêu tinh khổng lồ cùng hợp lực nhau chống lại thiên đình. Trong

ngày tận thế nầy Fenrir đã vùn ra được khỏi dây buộc cổ, nhảy lên thiên đình tung hoành cắn xé, nuốt trộng luôn cả thần chúa Odin, trước khi bị xé tét miệng bởi Vidar -một người con của Odin- và chết cùng với thần thánh yêu tinh khác trong máu lửa của ngày tận thế.

 

Không có thành tích ghê gớm như Fenrir, nhưng hung dữ không kém là chó giữ cửa địa ngục Garm của người Nhật Nhĩ Man hay Cerberus (=Kerberos) của người Hy Lạp. Đặc biệt chó Cerberus có ba đầu, đuôi rắn, mạnh bạo, thính tai thính mũi, nổi tiếng là “gát-dang” thượng hạng giữ cổng không cho người trần thế nào có thể vào ra diêm phủ. Dầu vậy chó cũng đã có lần không làm tròn bổn phận, bị nhạc sĩ tài danh Orpheus ru ngủ qua điệu nhạc lời ca khi ông nầy xuống địa ngục tìm bà vợ Eurydike, và tệ hơn nữa, đã bị người hùng Herkules một lần bắt cóc mang lên trần gian để hoàn tất nhiệm vụ lần thứ 12 cuối cùng do vua Eurystheus giao phó.

 

Không phải chỉ chó trên trời, dưới âm phủ dữ dằn, mà ngay chó trên dương thế cũng không hiền gì mấy. Chó “sài lang” đối với người Việt chúng ta là biểu tượng hạng người tàn ác, hung hãn

Sài lang cướp của giết người

Ác lai ác báo lưới trời khó qua.

 

và dưới mắt anh em ông Grimm trong chuyện Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, chó sói là con thú gian manh, gạt người, ăn nói quàng xuyên khi bị nhận diện “…tai dài để nghe rõ, mắt to để nhìn, tay lớn để ghì ôm, mồm rộng để…” nuốt trộng cô bé ngây thơ dễ thương. May là trong chuyện nầy chó dữ cuối cùng cũng bị giết và bà cháu Cô Bé Quàng Khăn Đỏ được “happy end”.

 

Ngược lại với hình ảnh xấu, hung dữ trên, chó sói đối người Thổ Nhĩ Kỳ là con thú đáng quý trọng, đã đóng góp nhiều trong việc gầy dựng quốc gia Thổ. Theo đó, vào thời xa xưa dân tộc Thổ sống ở tận Trung Á-Mông Cổ, bị quân Trung Hoa tàn sát, đánh tan, và chỉ một nhóm người nhỏ sống sót, trốn tránh được trong một thung lũng hiểm trở miền núi Altai (Kasachstan). Với thời gian nhóm Thổ dân sinh con đẻ cháu và thung lũng ẩn thân trở nên chật hẹp không còn đủ đất để sinh sống. Họ buộc phải rời thung lũng để tìm đất sống mới. Nhưng đi về đâu? Trong tình trạng hoang man vô vọng, một chó sói xuất hiện, đưa đường chỉ  lối, hướng dẫn đoàn người nầy về phương tây lập nên đế quốc Thổ về sau. Cũng trong tinh thần của truyền thuyết trên có sách cho rằng sau khi dân tộc Thổ bị người Tàu tiêu diệt, chỉ có con trai nhỏ của vua Thổ sống sót. Cậu bé nầy, qua sự bảo trợ của thần Tängri, được chó sói xám Asena cho bú, nuôi dưỡng khôn lớn. Khi đã trưởng thành, chính hoàng tử trẻ nầy đã kết hợp những nhóm dân Thổ sống sót tản mác đó đây, thành lập quân đội, dẹp kẻ thù xưa và tạo dựng quốc gia Thổ lại. Truyền thuyết cho rằng trong mọi hoạt động của hoàng tử lập quốc nầy lúc nào cũng có chó sói Asena đứng bên yểm trợ. Hình dáng oai dũng của chó sói bảo vệ đứa bé dựng nước đoàn kết dân tộc, tiếc thay hiện tại bị lợi dụng làm biểu tượng cho phong trào “Chó Sói Xám/Graue Wolf=Bozkurtlar” của đảng quốc gia cực hữu Thổ MHP (Millietci Hareket Partisi/Partei der Nationalistischen Bewegung), một đảng quốc gia chủ nghĩa quá khích chủ trương Thổ-hóa mọi sắc dân thiểu số trong xứ (Pantürkismus/Panturanismus), cực lực chống đối phong trào tự trị của người Kurden, không công nhận Do Thái, … đã ủng hộ chính sách Đức quốc Xã ngày xưa cũng như có liên hệ không nhiều thì ít đến đảng cực hữu NPD ở Đức hiện tại.

 

Nói đến chuyện chó sói nuôi người, người ta cũng không thể quên được hình ảnh hai cậu bé  ngồi ngước miệng bú sữa chó sói, một biểu hiệu của thành phố La Mã Rom. Hai cậu bé nầy, Romulus và Remus, là con sinh đôi của thần Mars (=Ares) và nữ thánh Rea Silvia (=Ilia), bị bỏ trôi sông và tuy được trôi dạt vào bờ nhưng chắc cũng khó sống được, nếu không nhờ một chó sói cái mang về hang, liếm láp sạch sẽ và cho bú no bụng. Chính nhờ sữa và sự chăm lo của chó sói trong những ngày đầu nầy mà hai anh em Romulus và Remus mới sống còn để về sau, thật đáng tiếc, gây gổ tranh dành đất đai, đánh đập nhau: Romulus giết chết cậu em Remus và thành lập thành phố mang tên mình, thành phố Rom hiện tại +7) .

 

Ở thời hiện đại, chuyện chó sói nuôi người không kém phần hấp dẫn phải là "Chuyện Rừng Thẳm" (Dschungelbuch/The Jungle Book) của Rudyard Kipling, đã được quay thành phim thật ăn khách bởi Walt Disney (1968). Nhân vật chánh trong chuyện nầy là cậu bé Mogli (=Mowgli), lạc mất cha mẹ trong rừng sâu, nhưng vẫn không sợ rắn Kaa, gấu Balu (=Baloo); và khi chập chững vô tình đến hang chó sói, dạn dĩ dám dành bú với những chó sói con đang bú sữa mẹ.  Tính hồn nhiên, bạo dạn nầy đã làm chó sói cái Luri và chó sói cha Alexander ngạc nhiên, thương mến và quyết định nhận Mogli làm con trong gia đình chó sói.  Được gia đình chó sói bảo trợ, được gấu Balu ủng hộ và beo Baghira (=Bagheera) sẵn sàng đem trâu bắt được để đổi mạng sống cho "đứa bé người", Mogli được hội đồng chó sói, lãnh đạo bởi chó sói Akela, chấp nhận là thành phần của tập đoàn chó sói. Từ đó Mogli sống chánh thức …như chó, ngày ngày đùa giởn cùng với chị em chó sói con Sura và Akru, học nếp sống của rừng xanh, chống lại hổ dữ Shir Kan (=Shere Khan), giúp thú nầy, cứu thú kia,… cùng gấu Balu, beo Baghira trải qua  nhiều phiêu lưu mạo hiểm, và chỉ trở lại xã hội loài người sau khi Mogli đã gặp cô gái Meshua (=Messua)…

 

Rừng xanh bạn thú cây ngàn

Cười duyên mắt liếc tình nàng vẫn hơn.

 

Phim "Chuyện Rừng Thẳm" rất được mọi người ưa chuộng, trẻ con cũng như người lớn. Sự thành công nầy đã khiến S. Trenbirth làm một phim tiếp "Chuyện Rừng Thẳm 2/The Jungle Book 2" (2002), nhưng đây là một hậu chuyện: cậu bé Mogli đã lớn, không còn là "…mowgli=con ếch" nhỏ vui tính, dễ thương trong gia đình chó sói nữa.

 

 " ... Dựa vào sự khảo sát xương hoá thạch của người-thú, giống chó nhà đã hiện diện trong gia đình loài người cách đây khoảng 12-15 ngàn năm, nhưng nếu dựa vào sự khảo sát yếu tố di truyền DNA của các khoa học gia Thụy Điển và Mỹ (J.Lundeberg/B.Waye, 1997) thì chó nhà đã tách riêng ra khoảng cách đây gần 135 ngàn năm. Sự cách biệt quá xa trên 100 ngàn năm về thời điểm xuất hiện giống chó nhà qua hai phương cách khảo cứu trên đã gây những cuộc tranh luận, bàn cãi sôi nổi.  Theo giới động vật gia cổ điển, giống chó nhà được tìm thấy ở hóa thạch xưa lắm chỉ khoảng 15 ngàn năm  ..."

Nếu ở phương tây chuyện chó trên trời dưới địa phủ có nhiều, thì ở Á châu chúng ta ngoài những lời nguyền rủa thường nghe "…đồ chó má, chó đẻ" ít có chó được thần thánh hoá, ngoại trừ con chó kiễng không làm nên tích sự gì đáng nói của tướng trời Nhị Lang Dương Tiễn từng đánh lộn với Tề Thiên Đại Thánh. Gần đây ở Việt Nam, một dự án xây đền thờ chó ở hồ Trúc Bạch (quận Ba Đình/Hà Nội) đã gây sự tranh luận "khoa học" sôi nổi về chuyện "Cẩu nhi, Cẩu mẫu =Chó con, Chó mẹ" ở xứ ta (Vietnam.net/Wedo.com/ Chungta.com,...). Theo đó, dựa vào Tây Hồ Chí  "…trước khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long, ở chùa Thiện Tâm trên núi Ba Tiêu- châu Bắc Giang có một con chó trắng mang thai vượt sông trên núi Khán sinh một con. Người người lấy làm lạ. Đến năm Canh Tuất có việc dời đô, Cẩu Mẫu và Cẩu Nhi đều hoá (?!). Vua nghe chuyện, bảo đó là Phúc Thần, bèn cho dựng miếu thờ Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi ở dưới hồ thuộc địa phận làng Trúc Yên", trong khi Đại Việt Sử ký toàn thư chỉ ghi "…con chó ở châu Cổ Pháp (tức là Đình Bảng ngày nay) đẻ ra một con lông trắng, có đốm đen làm thành hai chữ Thiên tử, ứng với việc vua Lý Thái Tổ sinh năm Giáp Tuất lên làm Thiên tử" (VietNam.net, 07/2005). Sự hư thật thế nào không ai biết, tuy nhiên đọc qua dòng chữ trên, nội dung "…chó mẹ đẻ chó con, chó qua sông rồi đẻ, chó con có lông trắng đốm đen" thật không có gì lạ đời, không có gì là thần kỳ, thật quá tự nhiên tầm thường, không chứa đựng tình tiết gì hấp dẫn ngay cả chỉ để dùng kể chuyện …đời xưa ru ngủ trẻ em. Nếu muốn tạo dựng một câu chuyện chó khi "trà dư tữu hậu" để lôi cuốn khách du lịch đến một địa điểm thì OK, nhưng quan trọng hoá câu chuyện thành một sử liệu có thật, một tín ngưỡng để sùng bái thì có lẽ hơi quá đáng. Chó đối với người Việt chúng ta 

 

Tuổi Tuất là con chó cò

Nằm khoanh trong lò, mặt mũi lấm lem.

 

và đối với dân nhậu "mộc tồn, thịt cầy" là món ăn thượng hảo hạn…

 

Sống trên đời không ăn dồi thịt chó,

Chết đi rồi xuống âm phủ biết có hay không.

 

Ở điểm ẩm thực nầy người Việt, đặc biệt người Bắc, người Trung Hoa và nhất là Đại hàn thật là những đồng chí cùng khẩu vị. Sự hợp "gu" trong việc ăn thịt chó nầy đã được một nghiên cứu gia đánh giá thật cao, xem là "…chìa khóa trong việc truy về nguồn gốc chủng Lạc Việt" và cho thấy sự liên hệ "thành phần gốc gác của hai tộc Triều Tiên và Việt Nam" +8). Cùng thích ăn, cùng họ hàng, và ngược lại không cùng "gu" ăn, không họ hàng?  Có thể lắm: người Á ăn thịt cầy, người Âu cho ăn thịt chó là …dã man (ở Đức luật cấm làm thịt chó được công bố chính thức vào năm 1986, có giá trị luôn cho Công Đồng Âu Châu/EU) và như vậy người Á không họ hàng với người Âu là phải! Chỉ là một nhận định vui đùa, nhưng thật vậy, người Tây phương hiện tại quí trọng chó nhiều khi thái quá. Họ không phải chỉ chống đối việc ăn thịt chó, mà xa hơn đưa chó lên địa vị "người" với mọi sự chìu chuộng, săn sóc, lo lắng:  khám sức khỏe định kỳ, salon trang điểm, thời trang/áo che thân đặc biệt, luật định phải dẫn chó đi dạo mỗi ngày, thức ăn bổ dưỡng,… Ở điểm cuối nầy, đôi tiệm ăn đã "bất hợp pháp" dọn thức ăn …chó cho khách hàng mà thực khách vẫn thấy ngon miệng. "Xì căng đan" kiểu nầy lâu lâu vẫn được nghe thấy qua truyền hình, báo chí.

 

Không phải chỉ cung cấp thịt cho các quán “Mộc tồn” (=”cây còn”, nói ngược lại là “con cầy”) đặc biệt ở Á châu, chó còn là một con thú rất hữu ích trên nhiều bình diện. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên “chó giữ nhà, mèo bắt chuột”, tùy theo cách huấn luyện tập dợt, chó là một cộng sự viên tích cực trong việc

-    canh giữ thú, đặc biệt trong việc chăn cừu. Danh từ chó “Berger” đi từ chữ Pháp đúng là tên để chỉ chó chăn cừu (Schäferhund/german shepherd/berger allemand)

-    đuổi thú rừng nai, hưu, chồn, thỏ,… trong các cuộc săn bắn

-    làm “cận vệ/gạt-đờ-co" như Doberman, Bulldog, Bullterrier

-    đánh hơi tìm ma túy/thuốc phiện cho cảnh sát quan thuế cũng như tìm người thất lạc, cứu người bị đè chôn sâu trong đất, trong tuyết. Thật nổi tiếng trong việc tìm người bị ngập tuyết là chó Berhardiner có tên Barry trong khoảng 12 năm đã cứu 40 mạng người

-    dẫn đường cho người mù cũng như được đào luyện để tìm mìn chôn trong đất

-    kéo xe trợt tuyết với chó Husky hoặc Samoyede ……..

 

Trên bình diện khoa học, chó đã đưa thân làm thí nghiệm, giúp khoa học gia khám phá bao nhiêu điều lợi ích.

·        Pawlow (1849-1936) đã gõ chuông khi cho chó ăn, và như người ta, khi thấy thức ăn/khi ăn chó đương nhiên tiết ra  nước miếng, dịch tiêu hóa. Qua nhiều lần tập dợt thành thói quen, chó chỉ cần nghe tiếng chuông là nước miếng/dịch tiêu hóa chảy ra, dầu không có thức ăn đưa đến. Sự tương quan giữa phãn xạ tự nhiên (unkonditionierte Reflexe à bài tiết nước miếng, dịch tiêu hóa) và phãn xạ tập dợt (konditionierte Reflexe à tiếng chuông) đã là nền tảng cho thuyết "Duy hành vi?!" (=Prinzip der Konditionierung/ behaviourism)+9), là cơ bản của ngành sinh học cảm ứng/phãn xạ (Reflexphysiologie). Qua thí nghiệm hầu hết với chó, Pawlow đã đạt nhiều thành quả khoa học trên lãnh vực sinh lý tiêu hóa (Verdaungsphysilogie/Verdaungsdrüsen) và là người nhận giải Nobel đầu tiên về Sinh Lý Học/Y Khoa năm 1904.

·        Banting (1891-1941) và Best (1989-1978) đã tinh lọc Insulin từ tụy tạng (Pancreas) chó (cũng như bò con) và lần đầu tiên, ngày 30.7.1921, khi tiêm chất nầy vào máu, đã thành công làm giảm lượng đường trong máu ở một con chó bịnh tiểu đường bị cắt mất tụy tạng. Chó đã chịu đau, chịu khổ để dọn đường cho việc trị liệu bịnh tiểu đường và nhờ vậy Banting và Best (cùng với MacLeod và Collip) đã được tôn vinh qua giải Nobel Sinh Lý Học/Y Khoa năm 1923.

·        Ở lãnh vực phi hành không gian, chó cũng đã đóng góp thật tích cực. Trong vệ tinh Sputnik 2 của Nga, ngày 3.11.1957, chó Laika là sinh vật đầu tiên được phóng lên không gian. Chó được trang bị với những máy móc nhầm đo những phãn ứng cơ thể (tim đập, hô hấp, áp huyết, nhiệt độ,…) để mở đường cho việc đưa người lên không gian về sau. Nhưng số phận Laika khi được đặt lên vệ tinh/phi thuyền đúng là số phận của một "chiến sĩ ra đi không có ngày trở lại" vì thời đó không có phương tiện an toàn để đưa chó về.  Theo chương trình, Laika được dành sẵn thức ăn nước uống, trù liệu sẽ sống trong phi thuyền khoảng 10 ngày để truyền những tín hiệu đo được ở cơ thể về trái đất, nhưng qua nguồn tin chính thức của nhà cầm quyền Nga, Laika chỉ sống có 7 ngày, và theo nhà Sinh vật học Dimitri Malaschenkow tuyến bố trong kỳ Hội thảo Khoa Học Không gian (Weltraumkongress) vào năm 2002 thì Laika đã chết trên phi thuyền ngay sau 5 đến 7 tiếng đồng  vì "Stress", vì độ nóng gia tăng quá cao. Qua tín hiệu nhận được, khi phi thuyền đạt cao độ không còn hấp lực trái đất (àSchwerlosigkeit) tim của Laika đập nhanh hơn bình thường gấp 3 lần và sau đó chậm lại cũng khoảng 3 lần so với khi tập quen với gia tốc ly tâm (Zentrifugenbeschleunigungen) ở dưới đất. Dầu thế nào đi nữa, điều chắc chắn là xác của Laika đã cháy tan cùng phi thuyền, khi năm tháng sau -ngày 14.4.1958-

Sputnik rơi lại vào khí quyển . Sau Laika, trong khoảng 1979 đến 1961, nhiều chó khác -ít nhất 13 con (chó Bars, Lisichka, Belka, Strelka, Pchelka, Mushka,…)- đã lần lượt  được phóng lên quỹ đạo trời cao và một số đã chết, đã hy sinh cho chương trình Khảo cứu Không gian của Nga, trước khi Juri A. Gagarin, phi hành gia Nga và là người đầu tiên bay vòng quanh trái đất trong 108 phút với phi thuyền Wostok 1 (12.4.1961).

·        Trong lãnh vực kỹ thuật phối hợp yếu tố di truyền (Gentechnologie), năm qua một con chó nổi tiếng đã được đăng trên trang bìa của báo Time số 14/12/2005, đó là "Snuppy", con chó đầu tiên chào đời qua phương pháp sinh sản vô tính (=Klonierung/Cloning) bởi nhóm khoa học gia Đại Hàn do giáo sư Woo Suk Hwang hướng dẫn. Sự thành hình chó Snuppy  không qua sự giao hợp thường tình giữa thú cha thú mẹ, của tinh trùng và trứng mà do sự phối hợp nhân của tế bào cơ thể (Somazelle/somatic cell) với trứng đã được lấy mất nhân trong ống nghiệm giống như trường hợp của cừu Dolly năm 1996 bởi viện Khảo Cứu Roslin (Edinburg/Scotland). Sự khác biệt chỉ là ở Dolly nhân của tế bào cơ thể được lấy từ vú sữa của cừu cái Belinda, trong khi ở Snuppy nhân được lấy từ tế bào lỗ tai của một con chó săn giống Afghanistan. Ông Hwang, ngoài chuyện chó Snuppy, cũng đã thật nổi tiếng trong năm qua với những thành quả khoa học đăng ở tạp chí Science (5/2005) về việc khảo cứu tế bào nguyên thủy (Stammzellenforschung/stem cell research). Điều đáng tiếc, những tin tức vào cuối năm 2005 cho thấy, 9 trong 11 kết quả thí nghiệm được công bố của ông là "giả tạo, bịp bợm". Ngày 23.12.2005 ông đã từ chức giáo sư ở Đại học Quốc gia Seoul và rút tên ra khỏi mọi hội đoàn liên hệ. Thật đúng như người ta thường nói, danh tiếng chỉ là hư ảo và càng trèo cao càng té nặng! Dầu sao, trong những chuyện giả tạo lừa bịp, việc "Klon" chó Snuppy là chuyện thật được kiểm chứng, ngay như sự thật nầy không có gì "long trời lở đất/sensationell" khi biết rằng cừu Dolly đã chào đời qua phương pháp sinh sản vô tính trước đó gần 4 năm.

 

Bên cạnh những đóng góp hữu ích trong khoa học, trong đời sống thường ngày, điểm thật đáng quý của chó là sự trung thành, mến chủ. Những chuyện cảm động, chó nằm không ăn không uống bên mộ người chủ đã chết được nghe từ Âu sang Á, và người Việt chúng ta đã tôn vinh chó qua câu phong dao

 

Con không chê cha mẹ khó, chó không bỏ chủ nghèo

 

Tính trung thành quyến luyến chủ nầy chính người viết cũng đã được cảm nhận ở con chó lùn Mi-Nô trắng đốm đen, tối tối vẫn thuờng bò nằm dưới giường chủ, chiều chiều đi ra tận cuối đường để vẫy đuôi mừng đón chủ đi học về, hay ở con chó Vàng cao lớn đã binh chủ cắn người bạn cùng chơi khi anh bạn nầy ôm vật người chủ nhỏ. Chó Vàng nầy, vì để tránh bất hòa với gia đình người bị cắn, sau đó đã buộc phải bị đem cho người khác và đã làm người chủ nhỏ mất nhiều nước mắt. Riêng chó Mi-Nô đã chết già yên ổn và người trong gia đình kể lại, chó vẫn thường ngồi trước cửa, vội vả tung chạy khi thấy xa xa có dáng người giống như chủ để rồi tiu nghĩu cụp đuôi vì …người xưa biền biệt, du học xa nhà.

 

Năm Tuất đã đến, mong rằng tính trung hậu "không theo giàu bỏ nghèo" và tình quyến luyến không dời đổi của con thú cầm tinh năm nay sẽ bàng bạc nơi nơi, in sâu trong mọi lòng người. Và riêng dành cho đứa con thương yêu sinh năm Tuất, văng vẳng đâu đây lời chúc …

 

Chào năm Tuất, chó nhỏ dễ thương,

Gọi mùa Thu, con yêu vạn phúc.

Đường tương lai ngập cánh hoa hường,

Đời an lành đẹp như lời chúc.

 

Mong lắm thay!

 

Đức Quốc, tháng giêng Bính Tuất/2006

 

 

Ghi chú:

+1) Cynodictis: xuất hiện cách đây khoảng 30-40 triệu năm, có dáng vóc như chồn hương (Wiesel), mõm dài nhọn, tương đối nhỏ hơn chó hiện tại, chân và móng chưn đã biến thái thích hợp cho việc chạy nhanh.

+2) Cynodesmus: xuất hiện cách đây khoảng 15-30 triệu năm

+3) thay vì định yếu tố di truyền (Gene à DNA=Desoxynucleinsäure) trong nhân tế bào, Joakim Lundberg và Robert Wayne (University Los Angeles) định yếu tố di truyền trong màng ti thể của tế bào (àMitochondrien). Cách định Gene như vậy có lợi điểm trong việc theo dõi sự  tiến hoá/biến thái của một sinh vật, vì khác với Gene trong nhân tế bào do tổng hợp của Gene cha và Gene mẹ, Gene ở màng ti thể (à mtDNA) được di truyền từ trứng/Eizelle, tức chỉ từ Gene mẹ, và như vậy "thuần tính" hơn Gene ở nhân để xác định giòng giống, đặc biệt giòng họ mẹ. Trong đà tiến hoá, mtDNA -tương ứng như DNA ở nhân (=Kern-DNA)- sậu biến/mutieren và sự biến thái của Gene nầy cho thấy sự thay đổi thật sự của loài thú/sinh vật ngay trước khi có sự đổi thay hình dạng thấy được bên ngoài (trái lại sự biến thái của Kern-DNA có thể bị định sai gây bởi sự phối hợp với Gene cha; mtDNA vì vậy được xem là “đồng hồ tiến hóa/Evolutionsuhr” trong tế bào sinh vật). Qua cách định yếu tố di truyền như vậy người ta thấy độ khác biệt giữa chó nhà và chó sói chỉ khoảng 0,2% -một thành phần rất nhỏ không khác gì với sự khác biệt khoảng 0,16% giữa chó sói với nhau- trong khi sự khác  biệt giữa chó sói và Coyote lên đến 3,1%.

+4) Bộ xương hoá thạch của người chung với một con chó thật cổ, tìm được ở vùng Trung Đông, phía bắc Palestina, được định tuổi khoảng 12000 năm. Gần đây năm 1999 nhà khảo cổ Michel-Alain Garcia đã  tìm ra “dấu chân chó” hoá thạch ở động Chauvet (miền Nam nước Pháp), cho thấy giống chó nhà đã hiện diện cách đây 25000 năm.

+5) Fenrir là con lớn của Loki, vị thần nổi tiếng mưu mô nhiều quỉ kế, và bà "chằng" Angrboda. Bà nầy sinh ra ngoài chó Fenrir còn con rắn Jormungand và nữ tử thần Hel.  Gia đình "chằng tinh" nầy về sau đã cùng với những yêu tinh khổng lồ khác gây đại chiến với thần thánh trên thiên đình, và sau trận đánh đầy máu lửa đất trời, thần thánh, yêu tinh,… đều bị hủy diệt  (à Ragnarok/ngày tàn của thần thánh). Mãi về sau trời đất mới được tạo lập và Lif cùng Lifthrasir -loài người duy nhất sống sót sau ngày tận thế nầy- cùng một số thần thánh được tái sinh tạo nên một nguyên đại mới thanh bình, ít nham hiểm, ít dối trá hơn.

+6) Theo truyền thuyết khác: Fenrir coi thường sợi dây Gleipnir và cho rằng thử sức như vậy là quá tầm thường, quá …chê chó, nên đề nghị chấp các thần thánh, tuyên bố không cần trì kéo dùng sức nhiều, không cần phải "…nhăn miệng", và để chứng tỏ điều nầy Fenrir buộc các vị thần hãy để tay vào miệng chó. Dỉ nhiên thần thánh  nào cũng ngán, cũng sợ chó, tìm mọi cớ để tránh việc … đưa tay vào miệng. Cuối cùng chỉ có Tyr dám làm chuyện nầy, để rồi sau đó bị chó cắn thành ông thần …một tay, dầu Tyr là thần chiến tranh (war god) chuyên nghiệp đấm đánh.

+7) vua Numitor, ông ngoại của Romulus và Remus, bị người em trai, Amulius, soán đạt ngôi. Muốn tránh hậu hoạn, Amulius, buộc Rea Silvia (=Ilia), con gái của Numitor, phải đi tu làm nữ thánh (Vestalin) để không được có chồng và như vậy Numitor không có cháu nối dõi. Nào ngờ thần Chiến Tranh Mars (=Ares) "lẹo tẹo" với Rea Silvia và sinh ra Romulus và Remus. Amulius biết được, sai người giết chết hai đứa bé sinh đôi nầy. Người thừa hành đem hai đứa bé thả xuống sông Tiber, nhưng chiếc nôi đựng hai đứa bé trôi dạt vào bờ và khi nước sông rút xuống để hai đứa bé nằm trong vủng bùn ở bờ sông. Tưởng đã phải chết đói, nhưng một chó sói cái tìm gặp hai đứa bé, cắn tha về hang, liếm sạch, cho bú. Sau đó Romulus và Remus được người chăn chiên Faustulus và vợ Acca Larentia phát hiện đem về nuôi dưỡng. Lớn lên, tình cờ trong một cuộc gây gổ tranh chấp với những người chăn thú khác, Romulus và Remus được ông ngoại Numitor nhận diện ra. Sau khi biết rõ thân thế, Romulus và Remus giúp ông ngoại chống lại Amulius và đưa Numitor về làm vua lại. Để trả ơn, Numitor cho phép Romulus và Remus được  lập một thành phố ở bờ sông Tiber, nơi hai anh em đã bị thả trôi.  Trong sự  tranh chấp ai sẽ là chủ nhân thành phố mới nầy Remus bị giết chết bởi Romulus. Sau đó duới sự cai quản của Romulus, thành phố mang tên Roma/Rom (đi từ tên Romulus) được kiến thiết phát triển, gia tăng dân số qua chính sách "nhập tịch" dễ dãi (dân tứ xứ, giàu cũng như nghèo, lương thiện cũng như trộm cướp đều được sinh sống trong thành phố)  và  sự bắt cóc các cô gái thành phố lân cận (Sabin)  về làm vợ. Việc " bắt cóc cô dâu"  táo bạo nầy (Raub der Sabinerinnen) suýt đã gây sự chém giết tàn khốc giữa thành phố Rom và Cures/Quiriten (à thủ đô của dân Sabin). Nhưng may mắn nhờ sự can thiệp của các "cô dâu bị bắt cóc thành vợ, thành mẹ dân Rom", hai nhóm dân đã chung sống hòa bình và về sau thống nhất sống an lạc đưới sự cai trị khôn ngoan của Romulus, trước khi Romulus được thần Mars đem về trời và trở thành thần Quirinus, thần bào hộ thành phố Rom.

+8) Nguyên Nguyên trong Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (www.e-cadao.com/nhanvan/…)

+9) Nguyên lý "Duy hành vi/Prinzip der Konditionierung" của Pawlow vẫn còn được tận dụng! Hiện tại việc quảng cáo như Cola ngon, xe hơi VW tốt, cà phê Tchibo thơm… vẫn dựa vào lý thuyết nầy: nghe thấy tin/hình ảnh quảng cáo mãi thành ra quen (àkonditionierte Reflexe) và như vậy vào tiệm ăn là gọi Cola, mua xe là nghĩ đến VW, uống cà phê là chọn Tchibo (à unkonditionierte Reflexe)... Thật sự có phải như vậy không, mỗi người mỗi ý.Có điều những tâm lý gia quảng cáo cho chắc là như vậy!

 

Trở về Trang Chính