|
Ăn
như heo, ngủ như heo, dơ như heo… Tất cả những tính xấu người ta
đều đổ dồn vào con thú nầy. Heo là tượng trưng cho mọi sự đê
tiện: lòng heo nổi dậy là thuần phong mỹ tục tan hoang, hạm heo
phát sinh là kinh tế lũng đoạn… Thật ra heo là một con vật hết
sức hữu ích. Không có cái gì của heo là không dùng được. Lông
heo dùng làm bàn chải. Mỡ heo là nhiên liệu điều chế mỹ phẩm.
Xương heo, giò heo, để nấu súp, để hầm. Thịt heo cho đến ruột,
gan, bao tử đều là vật liệu của những cao lương mỹ vị và địa vị
cao quí của những ông tiên chỉ ngày xưa chẳng phải là được ngồi
nhâm nhi bên mâm cỗ với đầu heo đuôi lợn.
Ngoài sự hữu ích kể trên,
heo là con vật dễ thích ứng với khí hậu, tăng trưởng nhanh chóng
và sinh sản nhiều (sau thỏ, heo là gia súc sinh sản nhiều nhất).
Sự hữu dụng và tính dễ nuôi nầy đã đưọc biết từ thời thượng cổ
và heo là một trong những gia súc xưa nhất của loài người.
Heo qua
các quốc gia và thời đại
Theo như thánh kinh Hồi và
Do-Thái, năm 1491 trước Tây-lịch Moses (Moise) đã ra đạo luật
cấm ăn thịt heo. Điều nầy chứng tỏ việc nuôi heo trước đó đã
bành trướng rất mạnh. Nguyên nhân sự cấm đoán nầy, theo như kinh
Mosis thứ 3, chương 11/7, vì „..heo tuy có móng chưn chẻ đôi
(như bò) nhưng ăn không nhai lại và do đó không sạch“. Dĩ nhiên
nhất định không phải bởi heo không „nhai lại“ nên „thịt heo dơ“,
mà đó chỉ là một cái cớ để buộc dân chúng thời đó ăn ở sạch, vì
theo như Maimonides -triết gia đồng thời cũng là y sĩ Do-Thái
nổi tiếng thời trung cổ (1138-1204)- „ heo không phải chỉ dơ
dáy thôi mà còn ăn mọi chất bẩn khác. Nếu sự nuôi heo được cho
phép, tất cả những nơi công cộng, đường sá, nhà cửa sẽ bị ô uế
hết“. Tacitus -sử gia đồng thời chính trị gia La-Mã (55-115)-
thì cho rằng dân Do-Thái không ăn thịt heo vì dân nầy trước kia
một lần mắc phải bịnh cùi và họ cho rằng do heo gây ra. Những lý
thuyết khác như thịt heo nhiều mỡ, ăn khó tiêu cũng được đặt ra
để giải thích điều cấm kị nầy, và lý lẽ được xem hữu lý nhất
phải là việc heo mang và dễ truyền bịnh sên lãi. Những loại „heo
gạo“ nầy, ở thời đại chúng ta hiện giờ, nhất là ở Việt-Nam, vẫn
là một tai hại đáng sợ.
Sự cấm đoán không cho ăn
thịt heo thời đó đã khiến những người sinh sống về nghề nuôi heo
thành một giai cấp bị bạc đãi nhất trong xã hội. Họ không được
quyền bước chân vào nhà thờ, và chỉ có thể lấy chồng, cưới vợ
trong „giai cấp chăn heo“ của họ mà thôi. Riêng người Ai Cập chỉ
được phép ăn thịt heo vào kỳ lễ trăng trong năm. Nếu lỡ ăn thịt
heo vào ngày khác họ phải „rửa sạch“ bằng cách mặc nguyên quần
áo xuống sông Nil tắm.
Ngược lại với những dân tộc theo đạo Hồi hay Do-Thái, thịt heo
là một món ăn rất khoái khẩu đối với dân Hy-Lạp và dân La-Mã. Sự
chăn heo được người La-Mã đặc biệt chú ý đến và ngành chăn nuôi
nầy được họ gán cho tên „Porculatio“. Theo Plinius – bác học
La-Mã (23-79)- để heo có bộ gan thật to, dân La-Mã cho heo ăn
một loại bột khô trộn lẫn với rượu có pha mật, và đặc biệt là
„heo thành Troie/Troja“ (Porcus trojanus), một món ăn đòi hỏi
rất nhiều công phu nấu nướng đến nỗi về sau một đạo luật về món
ăn nầy được thiết lập. Tên món ăn nầy hẳn là dựa vào chuyện thần
thoại „ngựa thành Troie“. Món ăn gồm một nguyên một con heo lớn
, được móc hết ruột ra, và -thay vì cho quân sĩ vào đó như ngựa
thành Troie- người ta dồn vào bụng heo đủ loại cao lương mỹ vị
từ sò, yến đến mọi loài chim; xong được nhúng vào rượu và hầm
với một loại súp đặc biệt. Không cần nói nhiều, „heo thành
Troie“ nầy dĩ nhiên ngon hơn gấp trăm lần thịt heo quay mà chúng
ta vẫn có dịp nếm thử.
Ở
Hy-Lạp việc chăn nuôi heo cũng được phổ biến từ xưa. Điều nầy có
thể dựa vào việc Ulysse (Odysseus
à
một nhân vật trong quyển Odyssee của Homer sáng tác vào khoảng
900 trước Tây-Lịch), sau khi chiến thắng ở thành Troie, trên
đường về quê đã đi tìm nơi ẩn náo của Eumaeus (Eumée), người tùy
tướng trung thành của ông đang làm nghề chăn heo. Sự kiện nầy
cho thấy nghề nuôi heo thời ấy ở Hy-Lạp không bị bạc đãi như về
sau hay như ở những nước vừa kể, vì nếu nghề chăn heo bị khinh
rẻ chắc chắn Eumaeus, một người xuất thân từ chốn quyền thế,
không dễ gì hạ mình để làm nghề nầy. Riêng đối với dân Hy-Lạp
vùng đảo Creta, bên cạnh việc cung cấp thịt, heo còn là vật linh
thiêng dùng trong những việc cúng tế, đặc biệt cho nữ thần đồng
án Ceres trước mùa gặt và thần lưu-linh Bacchus trước mùa hái
nho. Có lẽ người ta dùng heo làm vật cúng tế vì heo là con vật
phá hại lúa và nho nhiều nhất.
Ở
Anh nhiều truyền thuyết cho thấy rằng trước đây 2700 năm,
Anh-quốc đã có những đàn heo được chăn nuôi cẩn thận, điển hình
là qua việc tìm ra suối nóng ở vùng Bath vào năm 863 trước
Tây-Lịch. Nguyên Baldred, con của Hudibras vua nước Anh thời đó,
sau 11 năm du học ở Athen, trở về nhà mắc phải bịnh cùi và bị
nhốt kín để tránh sự truyền nhiễm. Nhưng ông đã trốn thoát và
tìm được một chân chăn heo ở Learwick, một làng nhỏ hẻo lánh
cách Bath chừng 3 dậm. Ngày ngày ông phải đuổi heo từ nơi nầy
sang nơi khác để heo ăn những quả sồi, quả dẻ rơi rụng. Một ngày
mùa đông kia Baldred ngạc nhiên khi thấy đàn heo vụt đua nhau
chạy xuống chân đồi, và một lúc sau trở về mình dính đầy bùn.
Ông ngạc nhiên vì nếu trong mùa hè heo tìm vũng nằm để đỡ nực là
phải, nhưng bây giờ là mùa đông. Ông tò mò hấp tấp chạy đi tìm
vũng heo nằm, và ngạc nhiên khi thấy nơi đó hơi nước nóng bốc
lên mù mịt. Kỳ lạ hơn nữa những con heo da sần sùi ghẻ lở, sau
nhiều lần trầm mình trong dòng nước nầy, da bỗng lành lặn trở
lại. Tính hiếu kỳ thúc đẩy, Baldred vội cởi quần áo bắt chước
đàn heo lội xuống tắm, và ông vô cùng mừng rỡ khi thấy những vết
lở lói trên người biến mất. Ông đã khỏi bịnh cùi. Về sau Baldred
trở lại triều đình thế ngôi cha, ông xây cất biến nơi đây thành
những nhà tắm trị bịnh.
Ngày nay nói đến vấn đề ẩm thực ở nước Anh, người ta thường nghĩ
đến thịt cừu, nhưng nếu xem lại những thực đơn thời xa xưa,
người ta sẽ thấy đa số các món ăn không ít thì nhiều đều có chứa
thịt heo.
Vì
vấn đề heo quan trọng trong đời sống hằng ngày như vậy nên các
nhà làm luật thời ấy cũng đã ra công soạn thảo những đạo luật về
heo, xác định giá trị heo mẹ, heo con rõ ràng để tiện sự buôn
bán, hay để làm tiêu chuẩn bồi thường trong những việc kiện tụng
khi heo ủi đất, phá hại cây cối vườn tược. Một trong những điều
luật có thể làm người đọc cười được là „…khi heo chạy vào nhà
ai, phá lửa và gây hỏa hoạn thì nếu nhà cháy mà heo chạy thoát
được chủ heo phải bồi thường cho chủ nhà cháy. Nhưng nếu heo
cũng bị chết cháy luôn thì …huề, vì ‚heo và nhà đều ngu’, và bởi
cả hai đều bị cháy hết nên chủ nhà và chủ heo không ai phải bồi
thường ai“. Thật là một điều luật quá đáng, và người làm luật
chắc phải là Lobbyist của giới nuôi heo, vì heo đến phá lửa bị
cháy, chớ lửa đâu có đi tìm đến heo mà cho chủ nhà cũng có lỗi.
Theo Sharon Turner dân Nhật-Nhĩ-Man cũng đặc biệt chú ý đến heo.
Trong những di chúc, những tài liệu xưa về việc đổi chác, tặng
quà, heo được được đề cập đến rất nhiều và trước cả những gia
súc khác. Ở Đức những người chăn heo còn được gọi là „tướng heo“
(Schweinegeneral). Mỗi sáng ông đi lùa heo từ nhà các nông dân
trong làng nhờ ông giữ, gom lại thành đàn lớn và đuổi heo đi ăn
ở các đồi hay khu rừng lân cận. Thực phẩm mà heo thâu lượm được
trong những „cuộc hành quân“ nầy là những rễ cây, chồi non hay
quả sồi (Eichel/acorn), quả dẻ (Kastanie/chestnut) rơi rụng
trong rừng. Và để điều khiển đàn heo đúng theo „quân luật“,
ngoài một chú tiểu đồng theo phụ „tướng heo“ trang bị với một
ngọn roi dài và đặc biệt một cái tù-và.
Việc dùng tù-và để chăn heo rất được thông dụng, không những chỉ
ở Đức mà còn ở nhiều nơi khác, như ở vùng Calabrien và Toscana
(Ý). Barna Goge kể rằng, một ngày kia có một toán cướp biển đến
ăn hàng ở một làng cạnh bờ biển Toscana, và sau khi lùa được một
đàn heo lên thuyền định chuồn đi thì người chăn heo cũng vừa
nhận ra những con thú của mình canh giữ bị mất. Ông vội vã lấy
tù-và ra thổi để gọi đàn heo về. Nghe tiếng tù-và quen thuộc,
đàn heo trên thuyền vội cùng một lượt nhảy xuống nước lội vào
bờ. Sự hỗn độn lúc heo nhảy xuống nước làm thuyền lật úp, và
trong khi đàn heo an lành vào bờ theo chân người chăn thì bọn
cướp biển chết đuối hết cả, vì có lẽ đây là cướp biển mới học
nghề nên …chưa biết lội.
Ờ
Mỹ việc nuôi heo cũng rất phồn thịnh. Đa số heo ở Mỹ được đem từ
Âu-Châu và về sau từ Phi-Châu sang do những người Anh đến đây
lập nghiệp. Thường heo được nuôi trong rừng bằng trái cây như
bôm (táo), hạt sồi, hạt dẻ rơi rụng, và trước khi làm thịt heo
được cho ăn bắp hay lúa mạnh xay nhuyển. Theo Stuart trong thời
xa xưa nầy, gần như nơi nào ở xứ nầy cũng đều có heo. Trong rừng
cũng như ở các thành phố lớn, heo ung dung sống thảnh thơi, bất
cần mọi sự. Đói đi kiếm ăn ở các đống rác, mệt nằm ngủ ở vĩa hè,
heo sống chung đụng với người ít khi bị quấy rầy, trừ bởi những
chú chó. Ở Nữu Ước heo được mệnh danh là „kẻ quét những ngõ hẻm“
(Gassenkehrer) vì không có hang ngách, mương rãnh nào mà heo
không để mỏ tới. Ở Cincinatti việc chăn heo nhiều đến nỗi
Trollope (văn sĩ Anh 1815-1822) phải viết:“…Chắn chắn tôi sẽ ở
lại đây (Cincinatti), nếu dân chúng vùng nầy không lo về vấn đề
heo thái quá. Nhu cầu về heo nầy quá đáng đến nỗi không ai có
thể tin được, nếu không có lần chứng kiến tận mắt. Không bao giờ
trên mặt báo không có những tin tương tợ: bán ngay 4000 heo mập,
hay bán 2000 thùng thịt heo thật tốt,…. Và nếu đi dạo trên phố
chính, không bao giờ người ta từ bên nầy sang bên kia đường mà
không đụng phải một hay hai mỏ heo nhiễu nước lòng thòng (vừa
mới rút ra khỏi cống rãnh). Nếu muốn trèo lên đồi để ngắm cảnh,
để thở được không khí trong lành thì ngay trên đường đi, cảnh
đẹp đâu chưa thấy, đã phải thấy con suối chạy bên cạnh đường đỏ
lòm những máu phát sinh từ lò heo; mùi thơm của cỏ hoa chưa ngửi
được thì mũi đã bị nghẹt vì mùi hôi thúi không thể tả; chân của
chúng ta thay vì dẫm trên thảm hoa cỏ thì chỉ vấp phải toàn đuôi
heo, xương heo,… Vậy thì còn gì đâu một cuộc du ngoạn hứng
thú!“.
Trở
về lục địa Á-Châu quen thuộc của chúng ta, những khu rừng nhiệt
đới trùng điệp ở Đông Nam Á, chạy dài từ Miến Điện qua Thái Lan
dến Việt Nam,… từ xưa đến giờ vẫn là tổ ấm của những đàn heo
rừng đa dạng, những thú thuộc Họ Heo (Familie Suidae) thủy tổ
của các giống heo nhà hiện tại. Những tài liệu về sự thuần hóa
heo rừng (Sus crofa) thành heo nhà (Sus domesticus) vào thời đại
nào và ra sao thì cũng như đối với mọi gia súc khác gần như
không có gì rõ ràng chính xác. Tuy nhiên dựa vào một vài sự
kiện hiện tại người ta có thể chắc rằng heo là gia súc rất xưa
và gần gũi, thân thiết nhất với loài người ở lục địa nầy.
mái che với một con heo là đủ điều kiện cho một căn nhà ấm
cúng. Điều nầy cho thấy rõ khi người ta rời khỏi hang đá, xuống
đồng bằng định cư, thành lập xã hội, xây dựng nhà cửa là đã có
bóng dáng con heo.
Heo
ở Trung Hoa không phải chỉ thân thiết với người mà theo
Tradescent Lan còn có „…một sự giống tướng mạo kỳ dị giữa người
và thú. Người Trung Hoa thích gương mặt tròn (phúc hậu) và bụng
(bệ vệ) phệ ra phía trước, thì heo Trung Hoa cũng được cấu tạo
trong kiểu mẫu đó. Ngay từ lúc còn nhỏ heo đã có lưng cong, bụng
thõng và bộ mặt có khuynh hướng tròn ra. Đáng ngạc nhiên hơn
nữa, ngoài phần tướng mạo tánh tình của người và thú cũng có
những điểm giống hệt nhau, đó là tánh cứng đầu bất trị,…“. Sự
cho người Trung Hoa cứng đầu bất trị như …heo, theo nhận xét của
Lan, có lẽ quá đáng nhưng tánh bất trị của heo thật chắc không
ngoa, ít ra cũng trong trường hợp của heo Trư Bát Giái. Lão Trư
nầy, có lẽ ai cũng biết, dầu đã đi tu, tánh mê gái không chừa;
dầu bị anh (Tôn Ngộ Không) đánh, thầy (Đường Tam Tạng) rầy, tật
lười biếng tham ăn vẫn không bỏ. Tánh tham lam bất trị nầy đến
giờ vẫn còn tồn tại ở heo, nếu không ở loại heo bốn cẳng thì
cũng ở các loại heo hai cẳng, mặc cho lời ta thán, mặc cho những
chương trình bài trừ tham nhũng nầy nọ.
Trở
lại chuyện heo thật, ở Việt Nam và Trung Hoa, ngoài việc cung
cấp thịt hằng ngày, heo cũng như gà, còn là vật tối cần trong
việc cúng tế. Đám giỗ, đám cưới thiếu heo là không thành. Những
„ông đồng, bà bóng“, các vị thần nầy thần nọ sau khi hành hạ gia
chủ đau yếu cũng chỉ đòi cho được cái đầu heo. Điều nầy đã được
thi vị hoá trong văn chương Việt Nam qua lời biện hộ của heo
trong Lục Súc Tranh Công mà chắc chúng ta ai cũng có lần nghe
qua:
…Kìa những việc hôn
nhân giá thú
Không heo ra tính đặng
việc chi?
Dầu cho mời năm bảy
chuyến đi,
Cũng chẳng thấy một
người thấp thoáng.
Việc hoà giải heo đầu
công trạng,
Thấy mặt heo nguôi dạ
oán thù…
Heo
đúng là con vật trung gian hòa giải mọi chuyện, và tuy Đông và
Tây đều cho heo dơ dáy, xấu xa, những cả hai đều công nhận heo
là con vật dễ đem đến tiền tài. So với việc nuôi trâu, nuôi bò,
heo với hai lứa trong năm, mỗi lứa chừng 10-12 heo con, là gia
súc đem đến lợi tức nhiều và mau nhất. Vì vậy người ta không
ngạc nhiên khi thấy Đông cũng như Tây tiền để dành, tiền bỏ ống
phải „đầu tư“ vào heo mới được, dầu đó chỉ là heo đất, heo sành,
heo plastic. Đối với người Đức „có/được heo = Schweine haben“ là
hên, là may mắn, và đối với dân Việt Nam heo là tượng trưng cho
sự phồn thịnh trên phương diện tiền bạc cũng như trên phương
diện sinh sản. Trong ý nghĩ nầy hy vọng năm Đinh Hợi sẽ đem đến
sự phong phú, thịnh vượng cho tất cả mọi người.
Heo
dưới mắt nhà sinh-vật học
Phân định loài
Lớp
(Klasse/class): Hữu nhũ (Säugetiere/ Mammalia)
Bộ
(Ordnung/Order): Móng Đôi (Paarhufer/ Artiodactyla)
Họ
(Familie/Family): Heo chính thống (Echte
Schweine/Suidae/)
Loài (Gattung/Genus): 5 Loài bao gồm
-
Heo Babirusa
„răng nanh như sừng nai“ (Babyrousa/Hirscheber)
-
Heo „có mục u ở
mặt“ (Phacochoerus/ Warzenschweine)
-
Heo „rừng khổng
lồ“ (Hylochoerus/ Riesenschweine)
-
Heo
Buschschweine (Potamochoerus)
-
Heo rừng/ heo
nhà (Sus/Wild- u. Hausschweine)
|
Theo Cuvier (1769-1832) heo thuộc Lớp Hữu nhũ (Klasse Mammalia),
Bộ Da dày (Ordnung Pachydermata). Vì Bộ Da dày định bởi Cuvier
quá tổng quát, bao gồm cả voi, trâu nước, ngựa rằn…nên theo cách
phân định mới những „Thú như heo“ (Suoidea/Suina/Schweineartige)
được xếp riêng vào Bộ Móng Đôi (Ordnung Artiodactyla/Paarhufer).
Bộ Móng Đôi nầy bao gồm 9 Họ (Familien), phân chia ra làm 81
Loài (Gattungen/Genus) với khoảng 154 Giống (Arten/Species).
Giới hạn trong đề tài heo nầy, sau đây chỉ đề cập về một vài con
thú trong Họ Heo (Familie Suidae) bao gồm 5 Loài
(Gattung/ Genus) với khoảng 20 Giống (Arten/Species).
Đặc điểm chung của thú Họ Heo là mỗi chân có bốn móng. Hai móng
chân trước lớn tựa xuống đất để đi và hai móng chân sau nhỏ cao
lủng lẳng không đụng mặt đất. Mặt heo rất dễ nhận ra với đôi mắt
ti hí, mỏ dài như „vòi voi bị chặt cụt“ rất thích hợp để ủi đất.
Chân heo ngắn nhưng mạnh. Da dày phủ lông thưa, đôi khi rậm và
cứng. Cổ ngắn, thân mình nặng nề,
ăn
tạp mọi thứ (omnivore) từ ngũ cốc, quả hạt, rễ củ, chồi lá, rau
cải, đồ phế thải… cho đến thịt thú, động vật nhỏ như côn trùng,
sâu bọ. Trước khi nói đến heo nhà (thuộc Loài „Heo Sus“), những
con thú mà chắc ai cũng hình dung ra ra khi nói đến năm Hợi năm
heo, chúng ta hãy thử làm quen một vài họ hàng gần gủi của gia
súc nầy.
Heo Babirusa „có răng nanh như sừng nai“ (Babyrousa/Babirusa/Hirscheber/pig-deer)
Heo Barbirusa còn được gọi là heo Ấn độ/heo Nam Dương, sống rải
rác ở các vùng nằm trong bán đảo Ấn độ, Nam Dương (Sumatra,
Java, đặc biệt vùng đảo Sulawesi). So với thân nặng, chân heo
tương đối nhỏ, mảnh mai. Da heo thường nhăn nheo, có lông thưa;
và tùy vùng heo có màu xám, nâu, đen đậm hoặc nâu đỏ trên lưng
và hơi vàng phía dưới bụng Điểm đặc biệt của loài heo nầy là
răng nanh dài chĩa ra ngoài và cong lại về phía sau lưng. Chắc
chắn Plinius đã gặp phải heo nầy khi ông kể đến một loại heo ở
Ấn Độ có sừng giống như các móc trên mặt

Heo nầy không khác heo nhà bao nhiêu, cũng dáng điệu nặng nề, cổ
to, mắt hí và kêu „ột ột“ như heo nhà. Tuy nhiên theo Sparrmann
heo Babirusa Ấn Độ rất dữ tợn, khi gặp người ta nó phóng tới như
tên bắn và chỉ trong chớp mắt nạn nhân sẽ bị cắn gảy chân, lòi
ruột ra ngay . Sự hung tợn của heo nầy đã làm cho người dân bản
xứ sợ hãi cho rằng thà đi bắt sư tử còn hơn là phải đụng chạm
với con thú nầy.Trên phương diện ẩm thực, thịt heo Babirusa ngon
không kém heo nhà, và dân Mã Lai thường dùng mỡ heo nầy thay dầu
và bơ.
Heo „có mục ở mặt“ Phacochoerus (Warzenschwein/warthhog).
Heo có tên như vậy vì mỗi bên mặt heo có một „cục thịt dư“
(Warzen/fleischiger Auswuchs) lồi ra. Mắt heo nhỏ và có lông bờm
cứng màu nâu nhạt chạy dài từ cổ đến lưng. Đặc biệt răng nanh
của lớn và cứng; ngược lại đuôi nhỏ, tận cùng bằng một chùm
lông. Quê hương của loài heo nầy ở Phi Châu với giống
(Arte/specie) P. africanus sống rải rác ở phía nam Sahara, qua
Mauretanien lần xuống Namibia và Nam Phi.Riêng giống P. aethiopecus, như tên gọi, có mặt ở vùng đông nam Äthiopien lần qua đông bắc Kenia và Somalia.
Heo „rừng khổng lồ“ Hylochoerus (Riesenwaldschweine/giant forest hog)
Heo nầy sống rải rác ở vùng xích đạo Châu Phi từ Guinea đến
Tansania. Đúng như tên gọi, heo Holochoerus là một loài heo thật
lớn. Thân heo có thể dài đến 2,10 m cộng thêm đuôi 45 cm. Heo
cao lên tới 1,10 m và nặng đến 275 kg. Đây là kích thước của
heo đực, heo cái tương đối nhỏ và nhẹ hơn. Lông heo cứng, dài
đến 28cm. Đầu heo lớn, rộng với răng nanh thật cứng. Heo sống
trong rừng sâu, từng đàn (từ 6 đến 14 thú) gồm một heo đực, một
đến bốn heo cái cùng với đám heo con, và được xem là nhút nhác,
tránh gặp người. Dầu vậy đối với một số bộ lạc ở Phi Châu heo
“rừng khổng lồ” là con thú đem đến bất hạnh và bịnh tật cho
người cũng như gia súc. Dân bộ lạc Bakonjo (Tây Uganda) tin rằng
chỉ một cộng lông duy nhất của heo rừng nầy cũng đủ làm chết cả
đàn bò.Khoa học hơn, theo B. Lundrigan và J.
Bidlingmeyer (Animal Diversity
Web), loại heo nầy mang trong mình siêu vi khuẩn gây bịnh dịch
“African Swine Fever” tai hại cho heo nhà,
dầu là cho
chính heo không gây triệu chứng gì cả.Ngoài ra heo còn mang độc
khuẩn Trypanosoma gây bịnh ngủ cho người
và thú được lây truyền đi bởi muổi Tse-Tse.
Heo Buschschweine (Potamochoerus/bush pigs)
Heo Potamochoerus cũng là loài heo có quê hương ở Phi Châu, sống
từng đàn từ 4 đến 20 thú, thường lưu trú gần nơi sông hồ, đầm
lầy.. Loài heo nầy có hai Giống (Arten/Species) Potamochoerus
larvatus và Potamochoerus porcus. Giống heo P. porcus còn được
gọi là “heo có tai như lông cọ” (Pinselohrschwein) hoặc là “heo
sông”
” (Flußschwein/Red River hog) vì cuối lỗ tai heo có chòm lông dài như cọ bút lông và lội nước rất giỏi.
Từ giã những anh em họ hàng tuy cùng thuộc Họ Heo (Familie Suidae) nhưng không cùng Loài (Gattung/Genus),
chúng ta trở về những heo quen thuộc của năm Đinh Hợi:
Heo rừng và heo nhà thuộc Loài Heo SUS (Gattung/Genus Sus)
Nếu những loài heo kể ở phần trên đa số ở Phi Châu thì nhóm heo
rừng và heo nhà thuộc Loài Heo Sus có quê hương nguyên thủy ở Âu
và Á Châu, dầu là hiện tại có mặt cùng nơi. Loài Heo SUS nầy
tuy có nhiều Giống (Arten/Species
à
khoảng 10 Giống, dựa vào hình dạng và nhất là ranh giới địa dư),
nhưng chung quy -tùy theo cách sống- có thể gom lại thành hai:
Đó là “heo rừng”, heo hoang (Sus scrofa scrofa/Wildschwein/ wild
boar)
và “heo nhà“
(Sus scrofa domestica/Hausschwein/domestic pig) sống quanh quẩn
sau vườn, trên bờ ruộng, trong những trại chăn nuôi…
Phân định giống
Loài (Gattung/Genus): Heo rừng/ heo nhà (Sus)
Giống (Arten/Species): Sus scrofa
·
Heo rừng Âu và Á (S. scrofa scrofa /Wildschwein/wild
boar)
·
Heo nhà (S. scrofa domestica/ Hausschwein/pig)
|
Heo rừng (Sus scrofa scrofa/Wildschwein/wild boar), như tên
gọi, sống hoang ở rừng rậm, rừng thưa… rải rác từ phía tây Âu
Châu lần sang Cận Đông, Ấn Độ đến tận phía đông Việt Nam, Nhật
Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương. Theo chân những người Âu Châu định
cư/chiếm thuộc địa, loài heo rừng nầy -thoạt đầu như là thú săn
dành cho giới trưởng giả, giàu có- lần lược cũng có mặt ở Mỹ
(khoảng 1500) và Úc Châu (1880).
Khác với heo nhà, heo rừng con có bộ lông với lằn sọc chạy dài
từ đầu đến đuôi màu nâu, vàng lợt, nhưng đến khi trưởng thành
mất đi lằn sọc và chuyển lần thành màu nâu, xám hoặc đen. Heo
rừng Âu Châu vào mùa hè mất đi bộ lông dày rậm và chỉ có lông
thưa thích ứng với sức nóng mùa hè.

Heo
rừng cái sống từng đàn (3-5) với đám con, khác với heo đực khi
càng già thích sống riêng rẻ một mình và chỉ đi tìm đến đàn heo
cái vào mùa giao hợp (tháng 11 đến tháng 1). Đối với người ta,
heo rừng ngay từ ’thời đồ đá giữa’ (Mesolithikum) đã là con thú
bị săn đuổi nhất, vì ngoài nhu cầu thịt việc giết heo rừng ở
nhiều quốc gia còn được xem là một hình thức chứng tỏ sự can
đảm, một trò giải trí vương giả của giới quý tộc, vua chúa.
Heo nhà (Sus scrofa domestica/Hausschwein/Domestic pig: Như
những gia súc khác, heo nhà hiện tại đã được thuần hóa từ thú
rừng, từ heo rừng. Theo tài liệu khảo cổ được công nhận, sự
thuần hóa heo đã được thực hiện trước bò, ở vùng Đông-Nam Thổ
Nhĩ Kỳ vào thời đồ đá mới (Frühneolithilum) khoảng đầu bán phần
thế kỷ thứ 8 trước Tây lịch (tTL), ở Irak và Âu Châu 7000 năm
tTL. Ở Trung Hoa bộ xương heo cổ nhất cho thấy heo nhà đã được
nuôi 6000 năm tTL và ở Thái Lan khoảng 4000 năm tTL. Ở đây cũng
nên nói thêm, sự biến đổi ngược lại cũng đã xãy ra: heo nhà đi
hoang, sống trong rừng, lần hồi da dày, lông cứng, răng nanh mọc
dài ra… thành heo rừng (feral pig). Trường hợp điển hình là heo
rừng Razorback ở Bắc Mỹ hoặc heo rừng “Captain Cookers” ở Tân
Tây Lan (New Zealand).
Qua
sự thuần hóa heo nhà mất lần tính nhút nhác, đáng điệu nặng nề
chậm chạp hơn, chân cũng như đầu và mỏ heo ngắn lại, đồng thời
lớp da dày mỏng ra và lông thưa đi. Tùy hoàn cảnh khí hậu, địa
dư, môi trường sống và sự lai giống, heo nhà hiện tại có rất
nhiều loại: heo trắng, heo đen, heo vá, heo quắn, heo dài mỏ,
ngắn mỏ, heo tai đứng, tai cụp,… và thường được dựa vào ranh
giới địa phương để phân loại (Rasse/race):
·
heo Đức với
Deutsche Landrasse, heo địa phương Bentheim, địa phương Angeln
(Angler Sattelschwein), địa phương Schwäbisch Hall
(Schwäbisch-Hallisches Landschwein),…
·
heo Đan Mạch
(Dänische Landrasse/Bacon pig)
·
heo Anh:
Cornwall (Large Black Schwein), Hampshire Anh (Wessex
Saddleback), Yorkshire (Large White), Berkshire,…
·
heo Pháp (Landrace francais): Cul Noir Limousin
(porc de Saint-Yrieix), Gascon, Bayeux, Normand,…
·
heo Mỹ Duroc, Hampshire Mỹ (Thin Rind
hog/Mackay), Yorshire Mỹ…
·
heo Bỉ Piétrain
·
heo Tây Ban Nha (Iberisches Schwein/Cerdo
Ibérico)
·
heo Hung Gia
Lợi Mangalica (Wollschwein/Mangaliza)
·
heo Trung
Hoa Meishan, Neijang,...
……………………................................
và
ở Việt Nam, chúng ta không lạ gì những con heo quanh quẩn sau
vườn mỏ ngắn, mặt nhăn, bụng xệ, loại heo mà đối với người Âu
Châu có lẽ được xem là “ngộ nghĩnh” và do đó được thấy ở các sở
thú dưới tên “heo Việt Nam bụng xệ” (Vietnamesisches
Hängebauchschwein/ vietnamese pot-bellied pig).

Trong lãnh vực chăn nuôi,
người ta chọn loài lựa giống dựa theo khả năng tăng trưởng,
chiều hướng sản xuất:
·
heo thịt với
tỉ lệ “thịt:mỡ -> Fleisch-Fett-Verhältnis”:
thấp
(--> heo mỡ/Fettschwein) như ở Đức với heo Angler Sattelschwein,
heo Bentheim và do đó trong thời gian qua không còn được dùng
nhiều trong việc chăn nuôi
trung bình
như các loại heo địa phương Deutsche Landrasse
cao như heo
Bỉ Piétrain
·
heo sinh sản
cho nhiều con như Meishan
·
heo với đặc
tính tốt: đối kháng với stress (stressresistenz), ít nhiễm bịnh,
thịt có phẩm chất cao (không nhờn, nhiều nước -> „PSE = pale,
soft, exudative“),...
|
Số lượng heo
chăn nuôi trong năm 2005 ở Việt Nam và một số quốc gia
khác
(đơn vị: triệu đầu
heo)
---------------------------------------
Trung
hoa 488,8
Mỹ
USA 60,4
Brasil 33,2
Việt Nam 27,0
Đức 26,9
Tây Ban Nha 25,3
Ba Lan 18,0
Pháp
15,0
Gia Nã Đại 14,7
Mễ Tây Cơ 14,6
Toàn thế giới 960,8
(Source: UN Food&Agriculture Organisation)
|
Thực tế, heo dùng trong
việc chăn nuôi có tính cách tân tiến kinh tế thường là giống lai
từ heo địa phương (Landrasse/Landrace) với heo Yorshire (Large
White), Piétrain, Duroc cũng như gần đây với heo Meishan sinh đẻ
sung túc. Chương trình lai giống (Zuchtprogramm/Breeding
programme) nhầm tạo loại heo thuần chủng/rặt nòi hay phối hợp
hai hoặc ba loại heo được thực hiện ở mọi nơi và những hãng cung
cấp heo trong việc chăn nuôi heo tân tiến thường nghe thấy là
BHZP (Chương Trình Lai Giống Hybrid Liên Bang Đức =
Bundeshybridzuchtprogramm), PIC (Pig Improvement Company, Anh),
DanBred (Đan Mạch), Cotswold (Mỹ), Dalland (Gia Nã Đại),..... Ở
Việt Nam -theo nguồn tin từ „Vietnamnet,
sokhoahoccn.angiang.gov.vn,...“ - vẫn có những trung tâm quản lý
và kiểm định giống heo. Hy vọng những chương trình cải tiến phẩm
chất heo giống ở quê nhà không phải chỉ là chuyện trên giấy tờ
và mong rằng những nhà chăn nuôi ở Việt Nam đạt được thành công
trong việc lai giống phối hợp tính dễ nuôi, ít bịnh, chịu đựng
được nóng nực miền nhiệt đới,... của heo địa phương với những
đặc điểm tăng trưởng nhanh, chỉ số tiêu thụ thực phẩm tốt, thịt
có phẩm chất cao,... của heo tân tiến. Được như vậy, những
chuyên gia lai giống sẽ đóng góp một công trình không nhỏ cho sự
phát triển ngành chăn nuôi heo ở quê nhà.
Năm
Đinh Hợi còn đó và chuyện heo vẫn có thể bàn tiếp dài dài, từ
chuyện „lợn lòng, heo hạm“ đến khoa học dinh dưỡng, chăn nuôi,
bịnh lý... nhưng bài đã nhiều trang, chúng ta có thể tạm ngừng ở
đây, mong lời sấm của Trạng Trình được thực hiện „Chó vẫy đuôi
mừng thánh chúa, Lợn ăn no ngủ kỹ cả ngày“ và cùng chúc nhau
Ủn ỉn heo về, năm Hợi
đến
Ăn
no, ngủ kỹ, sống an lành
Ước
mơ toại nguyện, người hoan hỉ
Hạnh phúc tròn năm, mộng đạt thành
Mong được như vậy!
Đức Quốc, mùa Xuân 2007
Trở về Trang Chính
|