Còn năm Hợi …còn chuyện Heo


Dr. Trần Thủ Danh

26 tháng 04 năm 2007

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

 Ăn như heo, ngủ như heo, dơ như heo… Tất cả những tính xấu người ta đều đổ dồn vào con thú nầy. Heo là tượng trưng cho mọi sự đê tiện: lòng heo nổi dậy là thuần phong mỹ tục tan hoang, hạm heo phát sinh là kinh tế lũng đoạn… Thật ra heo là một con vật hết sức hữu ích. Không có cái gì của heo là không dùng được. Lông heo dùng làm bàn chải. Mỡ heo là nhiên liệu điều chế mỹ phẩm. Xương heo, giò heo, để nấu súp, để hầm. Thịt heo cho đến ruột, gan, bao tử đều là vật liệu của những cao lương mỹ vị và địa vị cao quí của những ông tiên chỉ ngày xưa chẳng phải là được ngồi nhâm nhi bên  mâm cỗ với đầu heo đuôi lợn.

Ngoài sự hữu ích kể trên, heo là con vật dễ thích ứng với khí hậu, tăng trưởng nhanh chóng và sinh sản nhiều (sau thỏ, heo là gia súc sinh sản nhiều nhất). Sự hữu dụng và tính dễ nuôi nầy đã đưọc biết từ thời thượng cổ và heo là một trong những gia súc xưa nhất của loài người.

 

Heo qua các quốc gia và thời đại

Theo như thánh kinh Hồi và Do-Thái, năm 1491 trước Tây-lịch Moses (Moise) đã ra đạo luật cấm ăn thịt heo. Điều nầy chứng tỏ việc nuôi heo trước đó đã bành trướng rất mạnh. Nguyên nhân sự cấm đoán nầy, theo như kinh Mosis thứ 3, chương 11/7, vì „..heo tuy có móng chưn chẻ đôi (như  bò) nhưng ăn không nhai lại và do đó không sạch“. Dĩ nhiên nhất định không phải bởi heo không „nhai lại“ nên „thịt heo dơ“, mà đó chỉ là một cái cớ để buộc dân chúng thời đó ăn ở sạch, vì theo như Maimonides -triết gia đồng thời cũng là y sĩ Do-Thái nổi tiếng thời trung cổ  (1138-1204)- „ heo không phải chỉ dơ dáy thôi mà còn ăn mọi chất bẩn khác. Nếu sự nuôi heo được cho phép, tất cả những nơi công cộng, đường sá, nhà cửa sẽ bị ô uế hết“. Tacitus -sử gia đồng thời chính trị gia La-Mã (55-115)- thì cho rằng dân Do-Thái không ăn thịt heo vì dân nầy trước kia một lần mắc phải bịnh cùi và họ cho rằng do heo gây ra. Những lý thuyết khác như thịt heo nhiều mỡ, ăn khó tiêu cũng được đặt ra để giải thích điều cấm kị nầy, và lý lẽ được xem hữu lý nhất phải là việc heo mang và dễ truyền bịnh sên lãi. Những loại „heo gạo“ nầy, ở thời đại chúng ta hiện giờ, nhất là ở Việt-Nam, vẫn là một tai hại đáng sợ.

Sự cấm đoán không cho ăn thịt heo thời đó đã khiến những người sinh sống về nghề nuôi heo thành một giai cấp bị bạc đãi nhất trong xã hội. Họ không được quyền bước chân vào nhà thờ, và chỉ có thể lấy chồng, cưới vợ trong „giai cấp chăn heo“ của họ mà thôi. Riêng người Ai Cập chỉ được phép ăn thịt heo vào kỳ lễ trăng trong năm. Nếu lỡ ăn thịt heo vào ngày khác họ phải „rửa sạch“ bằng cách mặc nguyên quần áo xuống sông Nil tắm.

Ngược lại với những dân tộc theo đạo Hồi hay Do-Thái, thịt heo là một món ăn rất khoái khẩu đối với dân Hy-Lạp và dân La-Mã. Sự chăn heo được người La-Mã đặc biệt chú ý đến và ngành chăn nuôi nầy được họ gán cho tên „Porculatio“. Theo Plinius – bác học La-Mã (23-79)- để heo có bộ gan thật to, dân La-Mã cho heo ăn một loại bột khô trộn lẫn với rượu có pha mật, và đặc biệt là „heo thành Troie/Troja“ (Porcus trojanus), một món ăn đòi hỏi rất nhiều công phu nấu nướng đến nỗi về sau một đạo luật về món ăn nầy được thiết lập. Tên món ăn nầy hẳn là dựa vào chuyện thần thoại „ngựa thành Troie“. Món ăn gồm một nguyên một con heo lớn , được móc hết ruột ra, và -thay vì cho quân sĩ vào đó như ngựa thành Troie- người ta dồn vào bụng heo đủ loại cao lương mỹ vị từ sò, yến đến mọi loài chim; xong được nhúng vào rượu và hầm với một loại súp đặc biệt. Không cần nói nhiều, „heo thành Troie“ nầy dĩ nhiên ngon hơn gấp trăm lần thịt heo quay mà chúng ta vẫn có dịp nếm thử.

Ở Hy-Lạp việc chăn nuôi heo cũng được phổ biến từ xưa. Điều nầy có thể dựa vào việc Ulysse (Odysseus à một nhân vật trong quyển Odyssee của Homer sáng tác vào khoảng 900 trước Tây-Lịch), sau khi chiến thắng ở thành Troie, trên đường về quê đã đi tìm nơi ẩn náo của Eumaeus (Eumée), người tùy tướng trung thành của ông đang làm nghề chăn heo. Sự kiện nầy cho thấy nghề nuôi heo thời ấy ở Hy-Lạp không bị bạc đãi như về sau hay như ở những nước vừa kể, vì nếu nghề chăn heo bị khinh rẻ chắc chắn Eumaeus, một người xuất thân từ chốn quyền thế, không dễ gì hạ mình để làm nghề nầy. Riêng đối với dân Hy-Lạp vùng đảo Creta, bên cạnh việc cung cấp thịt, heo còn là vật linh thiêng dùng trong những việc cúng tế, đặc biệt cho nữ thần đồng án Ceres trước mùa gặt và thần lưu-linh Bacchus trước mùa hái nho. Có lẽ người ta dùng heo làm vật cúng tế vì heo là con vật phá hại lúa và nho nhiều nhất.

Ở Anh nhiều truyền thuyết cho thấy rằng trước đây 2700 năm, Anh-quốc đã có những đàn heo được chăn nuôi cẩn thận, điển hình là qua việc tìm ra suối nóng ở vùng Bath vào năm 863 trước Tây-Lịch. Nguyên Baldred, con của Hudibras vua nước Anh thời đó, sau 11 năm du học  ở Athen, trở về nhà mắc phải bịnh cùi và bị nhốt kín để tránh sự truyền nhiễm. Nhưng ông đã trốn thoát và tìm được một chân chăn heo ở Learwick, một làng nhỏ hẻo lánh cách Bath chừng 3 dậm. Ngày ngày ông phải đuổi heo từ nơi nầy sang nơi khác để heo ăn những quả sồi, quả dẻ rơi rụng. Một ngày mùa đông kia Baldred ngạc nhiên khi thấy đàn heo vụt đua nhau chạy xuống chân đồi, và  một lúc sau trở về mình dính đầy bùn. Ông ngạc nhiên vì nếu trong mùa hè heo tìm vũng nằm để đỡ nực là phải, nhưng bây giờ là mùa đông. Ông tò mò hấp tấp chạy đi tìm vũng heo nằm, và ngạc nhiên khi thấy nơi đó hơi nước nóng bốc lên mù mịt. Kỳ lạ hơn nữa những con heo da sần sùi ghẻ lở, sau nhiều lần trầm mình trong dòng nước nầy, da bỗng lành lặn trở lại. Tính hiếu kỳ thúc đẩy, Baldred vội cởi quần áo bắt chước đàn heo lội xuống tắm, và ông vô cùng mừng rỡ khi thấy những vết lở lói trên người biến mất. Ông đã khỏi bịnh cùi. Về sau Baldred trở lại triều đình thế ngôi cha, ông xây cất biến nơi đây thành những nhà tắm trị bịnh.

Ngày nay nói đến vấn đề ẩm thực ở nước Anh, người ta thường nghĩ đến thịt cừu, nhưng nếu xem lại những thực đơn thời xa xưa, người ta sẽ thấy đa số các món ăn không ít thì nhiều đều có chứa thịt heo.

Vì vấn đề heo quan trọng trong đời sống hằng ngày như vậy nên các nhà làm luật thời ấy cũng đã ra công soạn thảo những đạo luật về heo, xác định giá trị heo mẹ, heo con rõ ràng để tiện sự buôn bán, hay để làm tiêu chuẩn bồi thường trong những việc kiện tụng khi heo ủi đất, phá hại cây cối vườn tược. Một trong những điều luật có thể làm người đọc cười được là „…khi heo chạy vào nhà ai, phá lửa và gây hỏa hoạn thì nếu nhà cháy mà heo chạy thoát được chủ heo phải bồi thường cho chủ nhà cháy. Nhưng nếu heo cũng bị chết cháy luôn thì …huề, vì ‚heo và nhà đều ngu’, và bởi cả hai đều bị cháy hết nên chủ nhà và chủ heo không ai phải bồi thường ai“.  Thật là một điều luật quá đáng, và người làm luật chắc phải là Lobbyist của giới nuôi heo, vì heo đến phá lửa bị cháy, chớ lửa đâu có đi tìm đến heo mà cho chủ nhà cũng có lỗi.

Theo Sharon Turner dân Nhật-Nhĩ-Man cũng đặc biệt chú ý đến heo. Trong những di chúc, những tài liệu xưa về việc đổi chác, tặng quà, heo được được đề cập đến rất nhiều và trước cả những gia súc khác. Ở Đức những người chăn heo còn được gọi là „tướng heo“ (Schweinegeneral). Mỗi sáng ông đi lùa heo từ nhà các nông dân trong làng nhờ ông giữ, gom lại thành đàn lớn và đuổi heo đi ăn ở các đồi hay khu rừng lân cận. Thực phẩm mà heo thâu lượm được trong những „cuộc hành quân“ nầy là những rễ cây, chồi non hay quả sồi (Eichel/acorn), quả dẻ (Kastanie/chestnut) rơi rụng trong rừng. Và để điều khiển đàn heo đúng theo „quân luật“, ngoài một chú tiểu đồng theo phụ „tướng heo“ trang bị với một ngọn roi dài và đặc biệt một cái tù-và.

Việc dùng tù-và để chăn heo rất được thông dụng, không những chỉ ở Đức mà còn ở nhiều nơi khác, như ở vùng Calabrien và Toscana (Ý). Barna Goge kể rằng, một ngày kia có một toán cướp biển đến ăn hàng ở một làng cạnh bờ biển Toscana, và sau khi lùa được một đàn heo lên thuyền định chuồn đi thì người chăn heo cũng vừa nhận ra những con thú của mình canh giữ bị mất. Ông vội vã lấy tù-và ra thổi để gọi đàn heo về. Nghe tiếng tù-và quen thuộc, đàn heo trên thuyền vội cùng một lượt nhảy xuống nước lội vào bờ. Sự hỗn độn lúc heo nhảy xuống nước làm thuyền lật úp, và trong khi đàn heo an lành vào bờ theo chân người chăn thì bọn cướp biển chết đuối hết cả, vì có lẽ đây là cướp biển mới học nghề nên …chưa biết lội.

Ờ Mỹ việc nuôi heo cũng rất phồn thịnh. Đa số heo ở Mỹ được đem từ Âu-Châu và về sau từ Phi-Châu sang do những người Anh đến đây lập nghiệp. Thường heo được nuôi trong rừng bằng trái cây như bôm (táo), hạt sồi, hạt dẻ rơi rụng, và trước khi làm thịt heo được cho ăn bắp hay lúa mạnh xay nhuyển.  Theo Stuart trong thời xa xưa nầy, gần như nơi nào ở xứ nầy cũng đều có heo. Trong rừng cũng như ở các thành phố lớn, heo ung dung sống thảnh thơi, bất cần mọi sự. Đói đi kiếm ăn ở các đống rác, mệt nằm ngủ ở vĩa hè, heo sống chung đụng với người ít khi bị quấy rầy, trừ bởi những chú chó. Ở Nữu Ước heo được mệnh danh là „kẻ quét những ngõ hẻm“ (Gassenkehrer) vì không có hang ngách, mương rãnh nào mà heo không để mỏ tới. Ở Cincinatti việc chăn heo nhiều đến nỗi Trollope (văn sĩ Anh 1815-1822) phải viết:“…Chắn chắn tôi sẽ ở lại đây (Cincinatti), nếu dân chúng vùng nầy không lo về vấn đề heo thái quá. Nhu cầu về heo nầy quá đáng đến nỗi không ai có thể tin được, nếu không có lần chứng kiến tận mắt. Không bao giờ trên mặt báo không có những tin tương tợ: bán ngay 4000 heo mập, hay bán 2000 thùng thịt heo thật tốt,…. Và nếu đi dạo trên phố chính, không bao giờ người ta từ bên nầy sang bên kia đường mà không đụng phải một hay hai mỏ heo nhiễu nước lòng thòng (vừa mới rút ra khỏi cống rãnh). Nếu muốn trèo lên đồi để ngắm cảnh, để thở được không khí trong lành thì ngay trên đường đi, cảnh đẹp đâu chưa thấy, đã phải thấy con suối chạy bên cạnh đường đỏ lòm những máu phát sinh từ lò heo; mùi thơm của cỏ hoa chưa ngửi được thì mũi đã bị nghẹt vì mùi hôi thúi không thể tả; chân của chúng ta thay vì dẫm trên thảm hoa cỏ thì chỉ vấp phải toàn đuôi heo, xương heo,… Vậy thì còn gì đâu một cuộc du ngoạn hứng thú!“.

Trở về lục địa Á-Châu quen thuộc của chúng ta, những khu rừng nhiệt đới trùng điệp ở Đông Nam Á, chạy dài từ Miến Điện qua Thái Lan dến Việt Nam,… từ xưa đến giờ vẫn là tổ ấm của những đàn heo rừng đa dạng, những thú thuộc Họ Heo (Familie Suidae) thủy tổ của các giống heo nhà hiện tại. Những tài liệu về sự thuần hóa heo rừng (Sus crofa) thành heo nhà (Sus domesticus) vào thời đại nào và ra sao thì cũng như đối với mọi gia súc khác gần như không có gì rõ ràng chính xác.  Tuy nhiên dựa vào một vài sự kiện hiện tại người ta có thể chắc rằng heo là gia súc rất xưa và gần gũi, thân thiết nhất với loài người ở lục địa nầy.

 mái che với một con heo là đủ điều kiện cho một căn nhà ấm cúng. Điều nầy cho thấy rõ khi người ta rời khỏi hang đá, xuống đồng bằng định cư, thành lập xã hội, xây dựng nhà cửa là đã có bóng dáng con heo.

Heo ở Trung Hoa không phải chỉ thân thiết với người mà theo Tradescent Lan còn có „…một sự giống tướng mạo kỳ dị giữa người và thú. Người Trung Hoa thích gương mặt tròn (phúc hậu) và bụng (bệ vệ) phệ ra phía trước, thì heo Trung Hoa cũng được cấu tạo trong kiểu mẫu đó. Ngay từ lúc còn nhỏ heo đã có lưng cong, bụng thõng và bộ mặt có khuynh hướng tròn ra. Đáng ngạc nhiên hơn nữa, ngoài phần tướng mạo tánh tình của người và thú cũng có những điểm giống hệt nhau, đó là tánh cứng đầu bất trị,…“. Sự cho người Trung Hoa cứng đầu bất trị như …heo, theo nhận xét của Lan, có lẽ quá đáng nhưng tánh bất trị của heo thật chắc không ngoa, ít ra cũng trong trường hợp của heo Trư Bát Giái. Lão Trư nầy, có lẽ ai cũng biết, dầu đã đi tu, tánh mê gái không chừa; dầu bị anh (Tôn Ngộ Không) đánh, thầy (Đường Tam Tạng) rầy, tật lười biếng tham ăn vẫn không bỏ. Tánh tham lam bất trị nầy đến giờ vẫn còn tồn tại ở heo, nếu không ở loại heo bốn cẳng thì cũng ở các loại heo hai cẳng, mặc cho lời ta thán, mặc cho những chương trình bài trừ tham nhũng nầy nọ.

Trở lại chuyện heo thật, ở Việt Nam và Trung Hoa, ngoài việc cung cấp thịt hằng ngày, heo cũng như gà, còn là vật tối cần trong việc cúng tế. Đám giỗ, đám cưới thiếu heo là không thành. Những „ông đồng, bà bóng“, các vị thần nầy thần nọ sau khi hành hạ gia chủ đau yếu cũng chỉ đòi cho được cái đầu heo. Điều nầy đã được thi vị hoá trong văn chương Việt Nam qua lời biện hộ của heo trong Lục Súc Tranh Công mà chắc chúng ta ai cũng có lần nghe qua:

…Kìa những việc hôn nhân giá thú

Không heo ra tính đặng việc chi?

Dầu cho mời năm bảy chuyến đi,

Cũng chẳng thấy một người thấp thoáng.

Việc hoà giải heo đầu công trạng,

Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù…

Heo đúng là con vật trung gian hòa giải mọi chuyện, và tuy Đông và Tây đều cho heo dơ dáy, xấu xa, những cả hai đều công nhận heo là con vật dễ đem đến tiền tài. So với việc nuôi trâu, nuôi bò, heo với hai lứa trong năm, mỗi lứa chừng 10-12 heo con, là gia súc đem đến lợi tức nhiều và mau nhất. Vì vậy người ta không ngạc nhiên khi thấy Đông cũng như Tây tiền để dành, tiền bỏ ống phải „đầu tư“ vào heo mới được, dầu đó chỉ là heo đất, heo sành, heo plastic. Đối với người Đức „có/được heo = Schweine haben“ là hên, là may mắn, và đối với dân Việt Nam heo là tượng trưng cho sự phồn thịnh trên phương diện tiền bạc cũng như trên phương diện sinh sản. Trong ý nghĩ nầy hy vọng năm Đinh Hợi sẽ đem đến sự phong phú, thịnh vượng cho tất cả mọi người.

 

Heo dưới mắt nhà sinh-vật học

Phân định loài

Lớp (Klasse/class): Hữu nhũ (Säugetiere/ Mammalia)

Bộ (Ordnung/Order): Móng Đôi (Paarhufer/ Artiodactyla)

Họ (Familie/Family): Heo chính thống (Echte Schweine/Suidae/)

Loài (Gattung/Genus): 5 Loài bao gồm
  • Heo Babirusa „răng nanh như sừng nai“  (Babyrousa/Hirscheber)

  • Heo „có mục u ở mặt“ (Phacochoerus/ Warzenschweine)

  • Heo „rừng khổng lồ“ (Hylochoerus/ Riesenschweine)

  • Heo Buschschweine (Potamochoerus)

  • Heo rừng/ heo nhà (Sus/Wild- u. Hausschweine)

 

Theo Cuvier (1769-1832) heo thuộc Lớp Hữu nhũ (Klasse Mammalia), Bộ Da dày (Ordnung Pachydermata). Vì Bộ Da dày định bởi Cuvier quá tổng quát, bao gồm cả voi, trâu nước, ngựa rằn…nên theo cách phân định mới những „Thú như heo“ (Suoidea/Suina/Schweineartige) được xếp riêng vào Bộ Móng Đôi (Ordnung Artiodactyla/Paarhufer). Bộ Móng Đôi nầy bao gồm 9 Họ (Familien), phân chia ra làm 81 Loài (Gattungen/Genus) với khoảng 154 Giống (Arten/Species). Giới hạn trong đề tài heo nầy, sau đây chỉ đề cập về một vài con thú trong Họ Heo (Familie Suidae) bao gồm 5 Loài (Gattung/ Genus) với khoảng 20 Giống (Arten/Species).

Đặc điểm chung của thú Họ Heo là mỗi chân có bốn móng. Hai móng chân trước lớn tựa xuống đất để đi và hai móng chân sau nhỏ cao lủng lẳng không đụng mặt đất. Mặt heo rất dễ nhận ra với đôi mắt ti hí, mỏ dài như „vòi voi bị chặt cụt“ rất thích hợp để ủi đất. Chân heo ngắn nhưng mạnh. Da dày phủ lông thưa, đôi khi rậm và cứng. Cổ ngắn, thân mình nặng nề,

ăn tạp mọi thứ (omnivore) từ ngũ cốc, quả hạt, rễ củ, chồi lá, rau cải, đồ phế thải… cho đến thịt thú, động vật nhỏ như côn trùng, sâu bọ. Trước khi nói đến heo nhà (thuộc Loài „Heo Sus“), những con thú mà chắc ai cũng hình dung ra ra khi nói đến năm Hợi năm heo, chúng ta hãy thử làm quen một vài họ hàng gần gủi của gia súc nầy.

 

Heo Babirusa „có răng nanh như sừng nai“ (Babyrousa/Babirusa/Hirscheber/pig-deer)
Heo Barbirusa còn được gọi là heo Ấn độ/heo Nam Dương, sống rải rác ở các vùng nằm trong bán đảo Ấn độ, Nam Dương (Sumatra, Java, đặc biệt vùng đảo Sulawesi). So với thân nặng, chân heo tương đối nhỏ, mảnh mai. Da heo thường nhăn nheo, có lông thưa; và tùy vùng heo có màu xám, nâu, đen đậm hoặc nâu đỏ trên lưng và hơi vàng phía dưới bụng Điểm đặc biệt của loài heo nầy là răng nanh dài chĩa ra ngoài và cong lại về phía sau lưng. Chắc chắn Plinius đã gặp phải heo nầy khi ông kể đến một loại heo ở Ấn Độ có sừng giống như các móc trên mặt

Heo nầy không khác heo nhà bao nhiêu, cũng dáng điệu nặng nề, cổ to, mắt hí và kêu „ột ột“ như heo nhà. Tuy nhiên theo Sparrmann heo Babirusa Ấn Độ rất dữ tợn, khi gặp người ta nó phóng tới như tên bắn và chỉ trong chớp mắt nạn nhân sẽ bị cắn gảy chân, lòi ruột ra ngay . Sự hung tợn của heo nầy đã làm cho người dân bản xứ sợ hãi cho rằng thà đi bắt sư tử còn hơn là phải đụng chạm với con thú nầy.Trên phương diện ẩm thực, thịt heo Babirusa ngon không kém heo nhà, và dân Mã Lai thường dùng mỡ heo nầy thay dầu và bơ.

Heo „có mục ở mặt“ Phacochoerus (Warzenschwein/warthhog).
Heo có tên như vậy vì mỗi bên mặt heo có một „cục thịt dư“ (Warzen/fleischiger Auswuchs) lồi ra. Mắt heo nhỏ và có lông bờm cứng màu nâu nhạt chạy dài từ cổ đến lưng. Đặc biệt răng nanh của lớn và cứng; ngược lại đuôi nhỏ, tận cùng bằng một chùm lông. Quê hương của loài heo nầy ở Phi Châu với giống (Arte/specie) P. africanus sống rải rác ở phía nam Sahara, qua Mauretanien lần xuống Namibia và Nam Phi.
Riêng giống P. aethiopecus, như tên gọi, có mặt ở vùng đông nam Äthiopien lần qua đông bắc Kenia và Somalia.
 
 
Heo „rừng khổng lồ“ Hylochoerus (Riesenwaldschweine/giant forest hog)
Heo nầy sống rải rác ở vùng xích đạo Châu Phi từ Guinea đến Tansania. Đúng như tên gọi, heo Holochoerus là một loài heo thật lớn. Thân heo có thể dài đến 2,10 m cộng thêm đuôi 45 cm. Heo cao lên tới 1,10 m   và nặng đến 275 kg. Đây là kích thước của heo đực, heo cái tương đối nhỏ và nhẹ hơn. Lông heo cứng, dài đến 28cm. Đầu heo lớn, rộng với răng nanh thật cứng. Heo sống trong rừng sâu, từng đàn (từ 6 đến 14 thú) gồm một heo đực, một đến bốn heo cái cùng với đám heo con, và được xem là nhút nhác, tránh gặp người. Dầu vậy đối với một số bộ lạc ở Phi Châu heo “rừng khổng lồ” là con thú đem đến bất hạnh và bịnh tật cho người cũng như gia súc. Dân bộ lạc Bakonjo (Tây Uganda) tin rằng chỉ một cộng lông duy nhất của heo rừng nầy cũng đủ làm chết cả đàn bò.Khoa học hơn, theo B. Lundrigan và J. Bidlingmeyer (Animal Diversity Web), loại heo nầy mang trong mình siêu vi khuẩn gây bịnh dịch “African Swine Fever” tai hại cho heo nhà, dầu là cho chính heo không gây triệu chứng gì cả.Ngoài ra heo còn mang độc khuẩn Trypanosoma gây bịnh ngủ cho người
và thú được lây truyền đi bởi muổi Tse-Tse.
 
 
Heo Buschschweine (Potamochoerus/bush pigs)
Heo Potamochoerus cũng là loài heo có quê hương ở Phi Châu, sống từng đàn từ 4 đến 20 thú, thường lưu trú gần nơi sông hồ, đầm lầy.. Loài heo nầy có hai Giống (Arten/Species) Potamochoerus larvatus và Potamochoerus porcus. Giống heo  P. porcus còn được gọi là “heo có tai như lông cọ” (Pinselohrschwein) hoặc là “heo sông”
” (Flußschwein/Red River hog) vì cuối lỗ tai heo có chòm lông dài như cọ bút lông và lội nước rất giỏi.
Từ giã những anh em họ hàng tuy cùng thuộc Họ Heo (Familie Suidae) nhưng không cùng Loài (Gattung/Genus), 
chúng ta trở về những heo quen thuộc của năm Đinh Hợi:
 
 
Heo rừng và heo nhà thuộc Loài Heo SUS (Gattung/Genus Sus)
Nếu những loài heo kể ở phần trên đa số ở Phi Châu thì nhóm heo rừng và heo nhà thuộc Loài Heo Sus có quê hương nguyên thủy ở Âu và Á Châu, dầu là hiện tại có mặt cùng nơi.  Loài Heo SUS nầy tuy có nhiều Giống (Arten/Species à khoảng 10 Giống, dựa vào hình dạng và nhất là ranh giới địa dư), nhưng chung quy -tùy theo cách sống- có thể gom lại thành hai: Đó là “heo rừng”, heo hoang (Sus scrofa scrofa/Wildschwein/ wild boar)

heo nhà (Sus scrofa domestica/Hausschwein/domestic pig) sống quanh quẩn sau vườn, trên bờ ruộng, trong những trại chăn nuôi…

Phân định giống

 

Loài (Gattung/Genus): Heo rừng/ heo nhà (Sus)
Giống (Arten/Species): Sus scrofa

·         Heo rừng Âu và Á (S. scrofa scrofa /Wildschwein/wild boar)

·         Heo nhà (S. scrofa domestica/ Hausschwein/pig)

 

Heo rừng (Sus scrofa scrofa/Wildschwein/wild boar), như tên gọi,  sống hoang ở rừng rậm, rừng thưa… rải rác từ phía tây Âu Châu lần sang Cận Đông, Ấn Độ đến tận phía đông Việt Nam, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương. Theo chân những người Âu Châu định cư/chiếm thuộc địa, loài heo rừng nầy -thoạt đầu như là thú săn dành cho giới trưởng giả, giàu có- lần lược cũng có mặt ở Mỹ (khoảng 1500) và Úc Châu (1880).

Khác với heo nhà, heo rừng con có bộ lông với lằn sọc chạy dài từ đầu đến đuôi màu nâu, vàng lợt, nhưng đến khi trưởng thành mất đi lằn sọc và chuyển lần thành màu nâu, xám hoặc đen. Heo rừng Âu Châu vào mùa hè mất đi bộ lông dày rậm và chỉ có lông thưa thích ứng với sức nóng mùa hè.

Heo rừng cái sống từng đàn (3-5) với đám con, khác với heo đực khi càng già thích sống riêng rẻ một mình và chỉ đi tìm đến đàn heo cái vào mùa giao hợp (tháng 11 đến tháng 1).  Đối với người ta, heo rừng ngay từ ’thời đồ đá giữa’ (Mesolithikum) đã là con thú bị săn đuổi nhất, vì ngoài nhu cầu thịt việc giết heo rừng ở nhiều quốc gia còn được xem là một hình thức chứng tỏ sự can đảm, một trò giải trí vương giả của giới quý tộc, vua chúa.

Heo nhà (Sus scrofa domestica/Hausschwein/Domestic pig: Như những gia súc khác, heo nhà hiện tại đã được thuần hóa từ thú rừng, từ heo rừng. Theo tài liệu khảo cổ được công nhận, sự thuần hóa heo đã được thực hiện trước bò, ở  vùng Đông-Nam Thổ Nhĩ Kỳ vào thời đồ đá mới (Frühneolithilum) khoảng đầu bán phần thế kỷ thứ 8 trước Tây lịch (tTL), ở Irak và Âu Châu 7000 năm tTL. Ở Trung Hoa bộ xương heo cổ nhất cho thấy heo nhà đã được nuôi 6000 năm tTL và ở Thái Lan khoảng 4000 năm tTL. Ở đây cũng nên nói thêm, sự biến đổi ngược lại cũng đã xãy ra: heo nhà đi hoang, sống trong rừng, lần hồi da dày, lông cứng, răng nanh mọc dài ra… thành heo rừng (feral pig). Trường hợp điển hình là heo rừng Razorback ở Bắc Mỹ hoặc heo rừng “Captain Cookers” ở Tân Tây Lan (New Zealand).

Qua sự thuần hóa heo nhà mất lần tính nhút nhác, đáng điệu nặng nề chậm chạp hơn, chân cũng như đầu và mỏ heo ngắn lại, đồng thời lớp da dày mỏng ra và lông thưa đi. Tùy hoàn cảnh khí hậu, địa dư, môi trường sống và sự lai giống, heo nhà hiện tại có rất nhiều loại: heo trắng, heo đen, heo vá, heo quắn, heo dài mỏ, ngắn mỏ, heo tai đứng, tai cụp,… và thường được dựa vào ranh giới địa phương để phân loại (Rasse/race):

·        heo Đức với Deutsche Landrasse, heo địa phương Bentheim, địa phương Angeln (Angler Sattelschwein), địa phương Schwäbisch Hall (Schwäbisch-Hallisches Landschwein),…

·        heo Đan Mạch (Dänische Landrasse/Bacon pig)

·        heo Anh: Cornwall (Large Black Schwein), Hampshire Anh (Wessex Saddleback), Yorkshire (Large White), Berkshire,…

·        heo Pháp (Landrace francais): Cul Noir Limousin (porc de Saint-Yrieix), Gascon, Bayeux,  Normand,…

·        heo Mỹ Duroc,  Hampshire Mỹ (Thin Rind hog/Mackay), Yorshire Mỹ…

·        heo Bỉ Piétrain

·        heo Tây Ban Nha (Iberisches Schwein/Cerdo Ibérico)

·        heo Hung Gia Lợi Mangalica (Wollschwein/Mangaliza)

·        heo Trung Hoa Meishan, Neijang,...

……………………................................

và ở Việt Nam, chúng ta không lạ gì những con heo quanh quẩn sau vườn mỏ ngắn, mặt nhăn, bụng xệ, loại heo mà đối với người Âu Châu có lẽ được xem là “ngộ nghĩnh” và do đó được thấy ở các sở thú dưới tên “heo Việt Nam bụng xệ” (Vietnamesisches Hängebauchschwein/ vietnamese pot-bellied pig).

 

 

Trong lãnh vực chăn nuôi, người ta chọn loài lựa giống dựa theo khả năng tăng trưởng, chiều hướng sản xuất:

·        heo thịt với tỉ lệ “thịt:mỡ -> Fleisch-Fett-Verhältnis”:

      thấp (--> heo mỡ/Fettschwein) như ở Đức với heo Angler Sattelschwein, heo Bentheim và do đó trong thời gian qua không còn được dùng nhiều trong việc chăn nuôi

      trung bình như các loại heo địa phương Deutsche Landrasse

      cao như heo Bỉ Piétrain

·        heo sinh sản cho nhiều con như Meishan

·        heo với đặc tính tốt: đối kháng với stress (stressresistenz), ít nhiễm bịnh, thịt có phẩm chất cao (không nhờn, nhiều nước -> „PSE = pale, soft, exudative“),...

 

Số lượng heo chăn nuôi trong năm 2005 ở Việt Nam và một số quốc gia khác

(đơn vị: triệu đầu heo)

---------------------------------------

Trung hoa             488,8

Mỹ USA                60,4

Brasil                    33,2

Việt Nam              27,0

     Đức                                  26,9

Tây Ban Nha                    25,3

Ba Lan                  18,0

Pháp                                 15,0

Gia Nã Đại                      14,7

Mễ Tây Cơ                       14,6

 

Toàn thế giới                    960,8

 

(Source: UN Food&Agriculture Organisation)

 

Thực tế, heo dùng trong việc chăn nuôi có tính cách tân tiến kinh tế thường là giống lai từ heo địa phương (Landrasse/Landrace) với heo Yorshire (Large White), Piétrain, Duroc cũng như gần đây với heo Meishan sinh đẻ sung túc. Chương trình lai giống (Zuchtprogramm/Breeding programme) nhầm tạo loại heo thuần chủng/rặt nòi hay phối hợp hai hoặc ba loại heo được thực hiện ở mọi nơi và những hãng cung cấp heo trong việc chăn nuôi heo tân tiến thường nghe thấy là BHZP (Chương Trình Lai Giống Hybrid Liên Bang Đức = Bundeshybridzuchtprogramm), PIC (Pig Improvement Company, Anh), DanBred (Đan Mạch), Cotswold (Mỹ), Dalland (Gia Nã Đại),..... Ở Việt Nam -theo nguồn tin từ „Vietnamnet, sokhoahoccn.angiang.gov.vn,...“ - vẫn có những trung tâm quản lý và kiểm định giống heo. Hy vọng những chương trình cải tiến phẩm chất heo giống ở quê nhà không phải chỉ là chuyện trên giấy tờ và mong rằng những nhà chăn nuôi ở Việt Nam đạt được thành công trong việc lai giống phối hợp tính dễ nuôi, ít bịnh, chịu đựng được nóng nực miền nhiệt đới,... của heo địa phương với những đặc điểm tăng trưởng nhanh, chỉ số tiêu thụ thực phẩm tốt, thịt có phẩm chất cao,... của heo tân tiến. Được như vậy, những chuyên gia lai giống sẽ đóng góp một công trình không nhỏ cho sự phát triển ngành chăn nuôi heo ở quê nhà.

 

Năm Đinh Hợi còn đó và chuyện heo vẫn có thể bàn tiếp dài dài, từ chuyện „lợn lòng, heo hạm“ đến khoa học dinh dưỡng, chăn nuôi, bịnh lý... nhưng bài đã nhiều trang, chúng ta có thể tạm ngừng ở đây, mong lời sấm của Trạng Trình được thực hiện „Chó vẫy đuôi mừng thánh chúa, Lợn ăn no ngủ kỹ cả ngày“ và cùng chúc nhau

 

 

Ủn ỉn heo về, năm Hợi đến

Ăn no, ngủ kỹ, sống an lành

Ước mơ toại nguyện, người hoan hỉ

Hạnh phúc tròn năm, mộng đạt thành

 

Mong được như vậy!

 

Đức Quốc, mùa Xuân 2007

 

Trở về Trang Chính