|
Nếu vì rồng là một trong
tứ linh tượng trưng uy quyền của vua chúa, trâu mèo chó gà dê...
là những gia súc gần gũi với người ta, khỉ giống người, cọp rắn
là những thú dữ đáng sợ... nên người ta đã nghĩ ngay đến những
con thú nầy và chọn chúng để tượng trưng cho những con giáp thì
chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi nhận thấy chú chuột -một con
vật nhỏ bé không làm nên tích sự gì ngoài việc phá hại- lại được
các nhà tướng số, thiên văn Tàu chú ý đến và long trọng đặt lên
đứng hàng đầu để mở màn cho một niên kỷ mới.
Thật ra mọi sự điều có
nguyên nhân của nó. Theo như Thích Thiên Sách, khi bàn đến sự
tạo lập vạn vật thì “...Thái tuế tại Tý viết khốn đốn“, có ý
nói khi khí dương còn hỗn tạp chưa phân thì muôn loài ở trong
tình trạng hỗn độn, và đã nói đến hỗn độn thì không có hình dáng
biểu tượng nào thích hợp hơn là chú chuột chui rúc ở các hang
ngách cống rãnh. Như vậy hễ bắt đầu thì ắt hỗn độn, mà hễ hỗn
độn thì đúng là ... chuột. Do đó để bắt đầu chu kỳ “Thập nhị
chi“ -mười hai năm- không còn gì thích hợp hơn là lấy biểu tượng
con chuột.
Địa vị danh dự được sắp
đứng hàng đầu của chú chuột cũng có thễ giải thích một cách khác
không kém phần hữu lý. Số là trên vấn đề tôn sùng, người ta từ
Âu sang Á đều có một tâm lý chung: tôn sùng vì đối tượng tài ba
đức độ hoặc tôn sùng vì sợ, vì đối tượng dữ ác nhưng lại có
nhiều tài năng không thễ khắc trị được. Người ta cúng cô hồn, tà
ma phải chăng cũng chính vì lẽ đó và ở điểm nầy chú chuột với
khả năng phá hại mùa màng, gây bịnh dịch tàn khốc thật rất đáng
được nể sợ và đáng được đặt lên hàng đầu mười hai con giáp.
Nói đến khả năng phá hại
của chuột là người ta nghĩ ngay đến bộ răng chuột. Bộ răng bén
nhọn nầy đã làm người ta liên tưởng đến những tia chớp rạch trời
trong những cơn giông bão, và do đó chuột đối với dân Ấn Độ,
Nhật Nhĩ Man, Hy-Lạp là tượng trưng cho giông bão, là vật hộ vệ
của thần bão tố Rudra (Ấn), Wotan (Nhật Nhỉ Man), Apollo (Hy
Lạp). Sự đưa chuột lên địa vị thần linh có lẽ xảy ra vào khoảng
1400 trước Tây lịch. Trong những chuyện thần thoại của Homer
(1200 trước Tây lịch) thần chuột Apollo smintheus cũng đã được
đề cập đến, và những đền thờ thần chuột mãi đến năm 1902 hãy còn
được tìm thấy ở Pontis. Thời kỳ thịnh hành của sự tôn thờ chuột
ở Hy Lạp kéo dài đến gần 3000 năm và người ta đã gây giống chuột
trắng trong các đền thờ có lẽ để dùng chuột như một linh vật
trong việc bói toán, đoán điềm.
Tuy nhiên không phải dân
tộc nào sợ chuột cũng đều thờ chuột. Dân Ai Cập thực tế hơn,
thay vì thờ chuột họ thờ thần mèo Bubastis, kẻ thù bất đội trời
chung của chuột. Đối với họ, chuột cũng như ếch nhái rắn rít đều
được tạo ra từ bùn đất của sông Nil dưới sức nóng của mặt trời
và là con vật tai hại có một không hai của vùng tam giác sông
Nil, vùng Bast, vựa lúa quan trọng bật nhất của Ai Cập thời tiền
sử.
Về sự thành hình của
chuột, không phải chỉ có dân Ai Cập cho chuột đi từ bùn đất ra
mà dân Do Thái và những học giả thời ấy cũng đồng quan điểm như
vậy. Theo kinh sách Leveticus, dân Do Thái ở Palestine bị cấm
không được đụng đến rùa, chuột chết vì họ cho là loại thú nầy
phát sinh từ đất dơ dáy. Aristotoles (384-322 trước Tây lịch)
cũng cho rằng chuột được phát sinh từ đồ ô uế trong nhà và trên
tàu. Táo bạo hơn, Plinius (23-79 sau Tây lịch) dám quả quyết
rằng ở Ionien chuột phát sinh là do sự lụt lội của sông Meander
và ngưòi ta có thễ thấy những con chuột mà đầu, ngực, hai chân
trước đã được thành hình cử động lắt lư trong khi những phần
phía sau hãy còn là đất.
Hiện tại những nhà vạn vật
học không ai để ý đến huyền thoại xa vời chuột phát sinh từ bùn
đất hay rác rưới, vì chuyện gần nhất -vấn đề phân loại chuột-
cũng đã làm họ điên đầu rồi. Chuột được sắp vào bộ (Ordnung)
Gặm Nhấm (Rodentia), và theo Simpson (1945) gần một phần
mười thú hữu nhũ thuộc về ngành nầy. Trong ngành Gặm Nhấm chuột
được xếp vào một họ riêng: họ Chuột (Muridae). Tuy nhiên
trong họ Chuột nầy không phải chuột nào cũng giống chuột nào.
Chuột nhắt, chuộc cống, chuột đồng, chuột nhà, .... mỗi con đều
có sắc thái riêng biệt của nó, vì vậy người ta lại phải tìm các
đặc tính riêng của chúng và phân họ Chuột ra làm nhiều họ phụ
(Unterfamilie/Subfamily). Trong bản phân loại sau đây không ghi
đầy đủ họ hàng bà con gần xa của Thú Như Chuột (Muroidea) mà chỉ
tóm lược Họ-Loài-Giống những thú mà chúng ta luôn hình dung ra
khi nói đến Chuột trong năm Tý.
Cũng nên nói thêm, trong
họ Chuột Muridae với 5 Họ Phụ (Unterfamilie/Subfamily), 150 Loài
(Gattung/Genus), 750 Giống (Arten/Species) không kể thêm hàng
chục hàng trăm Giống Phụ (Unterarten/Subspecies=Varieties),
người ta không dễ gì đồng ý với nhau trong việc xác định vị trí
của con thú đứng trong nhóm nào. Chuột chũi (Wühlmaus/vole) sống
trong đất trước kia được xem thuộc về Họ Chuột Muridae, về sau
được sắp riêng vào họ Cricetidae chung với nhóm Bọ Hamster. Dầu
sao việc phân loài chi tiết chúng ta hãy để riêng cho những khoa
học gia phân loại (Taxonom/Taxonome); và bây giờ nếu hôm nào đó,
phát hiện được một chú chuột có mắt to, tai vểnh cao, đuôi dài
gần bằng thân mình (tính từ đầu mũi đến hậu môn), có vảy khoanh
tròn ít lông trông như chỉ có vảy sần sùi, các bạn có thễ tin
chắc là đã gặp chú chuột thuộc Họ phụ Murinae. Họ
phụ Chuột nầy bao gồm 71 loài (Gattung/genus) khác nhau và ngoài
dáng dấp kể trên, tất cả những chú chuột trong họ phụ nầy còn có
điểm chung đặc biệt là răng hàm có rễ sâu, mặt răng lồi lõm
những đỉnh men (Schmelzhöcker). Thuộc họ phụ chuột nầy là chuột
nhà (Hausmaus/house mouse; Hausratte/house rat), chuột cống,
chuột rừng (Waldmaus),... Ở đây phải nói, danh từ chuột trong
ngôn ngữ Việt không phân biệt được rõ ràng loại chuột Maus
(mouse/souris = Mus) và loại chuột Ratte (rat/rat = Rattus) như
ở ngôn ngữ Tây phương Đức (Anh/Pháp). Có người đề nghị gọi
„Maus/mouse“ là chuột nhà/chuột nhắt và „Ratte/rat“ là chuột
to/chuột cống, nhưng gọi như vậy không đúng hẳn vì chuột cống
theo nghĩa Ratte không hẳn chỉ phải sống ở cống rãnh mà vẩn có
thễ chui rút trong nhà (Hausratte/House rat=roof rat/Rattus
rattus), chạy rột rạt trên mái, thập thò ở nơi tích trữ thực
phẩm lương thực.

Về
hình dáng hai loại chuột nầy khác nhau qua độ lớn, và theo
Giraldus Cambrensis (1147-1223) chuột nhắt ở nhà (Hausmaus/house
mouse = Mus musculus) là sự phóng tác nhỏ lại của chuột cống
(Hausratte/House rat = Rattus rattus).
Hình dạng, kích thước chuột nhà
|
|
|
Chuột nhà/chuột nhắt
(Hausmaus/House
mouse=Mus musculus) |
Chuột to/chuột cống
(Hausratte/House
rat=Rattus rattus) |
|
Thân dài, cm |
7-10 |
16-24 |
|
Đuôi dài, cm |
7-10 |
18-25 |
|
Trọng lượng, g |
10-32 |
200-400 |
|
Màu lông |
xám nâu |
xám đen |
Tuy
nhiên sự khác biệt không phải chỉ ở kích thước mà còn ở nhiều
điểm khác. Chuột nhà/chuột nhắt có ít vảy khoang tròn
(Schuppenring) ở đuôi hơn chuột cống và ở đốc giọng có những nếp
lồi lõm (Falten) nằm cách rời, trong khi ở chuột cống những nếp
nầy liền san sát nhau. Ngoài ra ở loại chuột nhà, hai răng cấm
cuối cùng của hàm dưới thật nhỏ so với loại chuột cống.
Khác
với nhóm chuột mắt to, tai cao, đuôi dài kể trên, chuột thuộc
Họ phụ Microtinae có đuôi ngắn, mắt và tai nhỏ. Họ phụ chuột
nầy bao gồm 27 loài và chuột chũi (Wühlmaus/vole/campagnol),
chuột đồng (Feldmaus/field mouse/mulot = Microtus arvalis), ,...
đều thuộc nhóm chuột nầy. Đặc điểm đáng chú ý nhất của nhóm
chuột nầy là răng hàm không có rễ sâu và tiếp tục mọc lên khi
mặt trên bị cà mòn. Hầu hết chuột nhóm nầy đều ở hang ngách dưới
đất, sống bằng cây cỏ và -với bộ răng tăng trưởng vô hạn- được
coi như là con vật rất tai hại cho canh nông và lâm vụ.

Chuột
nhóm thứ ba thuộc Họ phụ Cricetinae (còn được xếp chung
vào họ phụ Microtinae) bao gồm 54 loài, có lẽ dễ thương hơn,
điển hình là những con bọ (Hamster) với bộ lông láng, đẹp đầy
màu sắc mà các em nhỏ thích nuôi làm thú „kiễng“ trong nhà.
Trong thiên nhiên chúng thường đào hang sâu dưới đất và ngủ suốt
muà đông.
Theo
thống kê 1972 trên thế giới có khoảng 6 tỉ chuột, tức theo tỉ lệ
một người hai chuột vào thời điểm đó. Hiện tại ở thành phố lớn
trung bình như Mannheim (Đức) tỉ lệ người/chuột là 1:30, ở những
thành phố lớn như Paris, Luân Đốn tỉ lệ người/chuột lên đến
1:100. Sự tai hại do chuột gây ra không phải chỉ vì số lượng
nhiều mà còn do sự sinh sản quá mau lẹ của giống thú nầy. Một
chuột cái với năm lứa mỗi năm sản xuất vào khoảng 70-80 chuột
con. Những chuột con nầy lớn lên chừng vài tháng là có thễ sinh
sản tiếp. Trung bình một cặp vợ chồng chuột hằng năm có thễ gầy
dựng một đại gia đình với khoảng 700-900 chuột con và chuột
cháu. Về khả năng ẩm thực, một chú chuột dài 20 phân, nặng 500 g
có thễ ăn 15-20 kg gạo trong năm. Theo tài liệu ở Đức thì một
nông trại bình thường không lớn lắm thường là nơi trú ẩn của
khoảng 80-120 chuột và hằng năm phải tốn một cách bất đắc dĩ vào
khoảng 300-400 Euro tiền gạo cho lũ chuột nầy. Dựa vào con số
trên chúng ta có thễ nhẩm tính, mỗi một cặp vợ chồng chuột với
tổng số 800 con cháu trong năm đã có thễ nuốt chửng gần 3500
Euro, số tiền đủ để nuôi một sinh viên ăn học nửa năm.
Dạ dày
của chuột gây tốn kém không ít như thế, nhưng chưa thấm vào đâu
so với những nguy hiểm do sự truyền bịnh, sự phá hại cây cối mùa
màng, làm hao tổn dơ dáy thực phẩm ngũ cốc của chuột.
Về khả
năng truyền bịnh có lẽ ít con thú nào qua mặt được chuột. Chuột
là nơi trú ẩn an toàn của đủ loại sinh vật từ ký sinh trùng thấy
được như rận, mạc (Milben), sên lãi đủ loại đến những nguyên
sinh động vật (Protozoen) nhỏ bé như Flagellata, Sporozoa,
Amoeba,... Chuột vì vậy có thễ truyền mọi bịnh từ bịnh cảm cúm
đến những bịnh phổi (Tuberkulose, Pseudotuberkulose,
Bronchopneumonien, Pneumonien), bịnh tiêu chảy, ứ huyết
(haemorrhagische Septikaemie), sẩy thai,... nhưng nguy hiểm nhất
là dịch tả (Cholera) và dịch hạch (Pest). Ở Âu Châu bịnh dịch
hạch được truyền nhiễm bởi chuột, vào thời trung cổ (1347-1353),
đã làm vong mạng khoảng 25 triệu người.
Là vật
chủ (Reservoirwirt/Reservoir host), là nơi trú ẩn an toàn của vi
trùng gây những chứng bịnh ngặt nghèo, chuột lại sinh sản mau và
nhiều, sống chung đụng với người ta trong nhà ngoài đường, ở
thùng gạo nơi uống nước, ... chuột đúng là một phương tiện
truyền bịnh thật nguy hiễm, gây tai họa thảm khốc cho loài
người. Quyển La Peste của Albert Camus lừng danh cũng là nhờ đề
tài chuột nầy.
Thực tế
chuột thật nguy hiểm trên vấn đề truyền bịnh nhưng không thiếu
gì người xưa lại dùng chuột làm phương pháp trị liệu. Theo
Plinius chuột có thễ trị được nọc rắn và chuột bầm nát ra đặt
lên trên chổ tên cắm vào có thễ làm mũi tên ... vuột ra khỏi vết
thương. Galen (130-200) cho rằng máu chuột trộn với gan gà và
sữa người có thễ trị được bịnh mắt kéo mây (Katarakt). Adam von
Lebenswalde kể rằng ở Nürnberg một người đã trị khỏi bịnh bứu ở
cổ bằng cách lấy chỉ xỏ qua mắt nhiều con chuột rồi dùng sợi chỉ
ấy đeo vào cổ. Theo sách Dược Luân đốn (Londoner Pharmacopocia)
1667, chuột phơi khô nghiền thành bột có thễ trị bịnh đái dầm và
tiểu đường. Ở vùng Böhmen người ta còn cho rằng bịnh sốt định kỳ
có thễ trị khỏi bằng cách bắt chuột để dưới giường bịnh nhân và
như vậy bịnh sẽ ... truyền hết sang chuột. Và đối với các bà La
Mã xa xưa, phương pháp hay nhất để trị bịnh chơi bời phóng túng
của các ông chồng là lén bôi ...phân chuột vào mình các ông. Một
điều may mắn cho y học là ông tổ Hippokrates (460-377) của ngành
nầy đã không đồng ý phương pháp dùng chuột để trị liệu, nhất là
việc dùng máu chuột để trị mục cóc ở da như các thầy lang đồng
thời của ông.
Sự tin
tưởng của người xưa vào khả năng trị liệu của chuột có lẽ vì
chuột là hiện thân của thần linh, là tượng trưng của sấm chớp
như đã kể và sấm chớp đối với người thời đó có uy lực mạnh mẽ
chống lại tà ma bịnh tật. Dầu vậy cũng không thiếu người xem
chuột như là sản phẩm của ma quỉ, của những phù thủy ác độc và
tính tốt xấu đó được thấy qua màu lông của chuột. Đối với dân
Nhật Nhĩ Man cũng như dân Nhật Bản, chuột đen là hình ảnh của sự
xấu xa, của quỉ Satan; chuột trắng là tượng trưng cho điều thiện
cho sự tốt lành, và đặc biệt đối với người Nhật còn là tượng
trưng cho sự thịnh vượng.
Trong
những hình thái tượng trưng, chuột còn được xem là biểu tượng
cho linh hồn người ta và chuột trắng được xem như là linh hồn
trong sạch của trẻ con. Sự kiện nầy đã khiến người ta có ý nghĩ
trước khi đi ngủ không nên để khát nước, vì như vậy linh hồn sẽ
xuất ra ngoài dưới hình thái chuột để ...đi tìm nước uống và có
thễ sẽ đi xa, đi lạc không biết đường trở về cơ thể. Mặt khác vì
chuột là linh hồn của người, do đó người chết cũng có thễ trả
thù dưới hình thái chuột. Theo truyền thuyết lúc ông Hatto làm
giám mục ở Mainz, một nạn đói hoành hành dữ dội vùng nầy. Khi
những người nghèo đói kéo đến ông để xin cơm gạo, ông đã không
cho mà còn ra lịnh bắt đem đốt tất cả; và trước những tiếng kêu
gào hãi hùng của những người bị đốt cháy, ông đã thản nhiên đùa
cợt „... chúng kêu la như lũ chuột ca“. Khi ông vừa dứt lời thì
từ trong đám lửa, chuột từng đàn bò ra, bao vây và nhảy lên cắn
ông. Sợ hãi, ông bỏ chạy đến Bingen, ra trốn ở một hòn đảo giữa
sông Rhein và cho xây một tháp chuột (Binger Mäuseturm) thật
cao. Dầu vậy chuột không tha, lội qua sông theo ông đến tận đảo,
trèo lên tháp chuột và cắn chết ông mới thôi.
Một câu
chuyện tương tợ như vậy cũng được nghe ở Ba Lan. Theo đó vua
Popiel II là một vị vua hết sức tàn ác, vì vậy dân chúng nổi lên
đòi ông phải từ ngôi. Ông bèn giả vờ truyền tin là bịnh nặng và
muốn thấy mặt bá quan văn võ, họ hàng thân thiết lần cuối. Khi
mọi người tụ tập đầy đủ bên ông, ông bỏ độc dược, ra lịnh bắt
tất cả những người chống đối và đem trấn nước chết hết ở hồ
Gobolo. Sau đó ông mở tiệc ăn mừng ngay trên đảo giữa hồ. Nhưng
bữa tiệc vui kéo dài không bao lâu thì linh hồn của những người
chết biến thành chuột kéo đến cả đàn cắn chết Popiel cùng toàn
thễ gia đình ông ta.
Ngày nay hình ảnh linh
thiêng của ông Tý đã giảm dần. Ngay cả tin tưởng của trẻ con khi
thận trọng liệng cái răng cửa vừa nhổ lên mái nhà hay dưới gầm
giường với lời cầu xin „răng cũ trả mầy, răng mới cho tao“ cũng
không còn nữa. Vai trò trị bịnh của chuột đã bị quên lãng từ lâu
và hiện tại nói đến chuột là ngưòi ta chỉ nghĩ đến hình ảnh của
con thú truyền bịnh tai hại đáng diệt trừ. Tuy nhiên không phải
không có ngoại lệ, đối với những nhà khảo cứu chuột trắng Albino
vẫn còn là một con vật vô cùng hữu ích. Với chuột nầy người ta
có thễ thực hiện những thí nghiệm chính xác, mau chóng và ít tốn
kém.
Một khía cạnh khác của
chuột có lẽ cũng sẽ không mất đi ý nghĩa với thời gian. Đó là
hình ảnh „chuột sa hũ nếp“ để diễn tả sự thụ hưởng những may mắn
bất ngờ, những cảnh các kỹ sư không học hầm mỏ vẫn đào đúng ...
mỏ. Nhưng hay hơn cả và có lẽ trong quá khứ cũng như trong tương
lai sẽ không có bối cảnh ...chuột nào đẹp, tình tứ hơn cảnh:
„Chuột kêu rúc rích
trong rương,
Anh đi cho khéo, đụng
giường mẹ hay“
Chuyện Chuột năm Tý nầy đến tay các bạn, hy vọng cũng vừa đúng
lúc năm Chuột -năm Mậu Tý- bắt đầu. Trong tình chuột nồng nàng
của ngày tháng đầu năm, các bạn hẳn vẫn không lạ tai khi nghe
lời chúc:
Một năm may mắn như
chuột sa hũ nếp và
tình đẹp, tình bền như
tiếng chuột rúc rích trong rương.
TTDanh
Đức Quốc, soạn lại
1/2008
Trở về Trang Chính
|