1. Mở Đầu
Vùng đất Nam Phần chạy dài từ nơi tiếp giáp với các cao
nguyên Bảo Lộc-Di Linh đến tận mũi Cà Mau, thường được
chia làm hai miền theo độ cao trên mực nước biển: vùng
đất hơi cao ở phía đông bắc gọi là Miền Đông Nam Phần và
vùng đất thấp, bằng phẳng với nhiều sông rạch ở phía tây
nam gọi là Miền Tây Nam Phần hay Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL). Miền Đông Nam Phần hiện nay có dân số độ
13,8 triệu người và diện tích 34.808 cây số vuông (Tổng
Cục Thống Kê, 2006), gồm nhiều ngọn đồi gợn sóng, ít
ngọn núi nằm rải rác như núi Chứa Chan, núi Bà Rá, núi
Bà Đen, núi Châu Thới… Miền đất này có độ cao trung bình
từ vài chục thước đến 100-200 m và có địa hình thấp dần
khi hướng ra biển, với sông ngòi, kinh rạch chằng chịt,
nhiều đầm lầy, rừng đước, bần ngập mặn, như Rừng Sác.
Đất đai cấu tạo bằng đất đỏ do lớp phún thạch núi lửa và
đất xám phù sa cổ, với các sông lớn như sông Đồng Nai,
sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông.
Ngành trồng lúa nước vẫn còn quan trọng, nhưng các loại
cây kỹ nghệ cũng không kém ưu thế, được phát triển liên
tục trong hai thập niên vừa qua, chủ yếu cây cao su, cà
phê, tiêu, điều, cây ăn quả. Ngoài ra, còn có lâm sản và
thủy hải sản và ngành công nghiệp đang phát triển mạnh ở
vùng này. Miền Đông hiện nay gồm các tỉnh Ninh Thuận,
Bình Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,
Bà Rịa-Vũng Tàu, và Sài Gòn.
Miền Tây Nam Phần
có độ cao thấp, trung bình độ 1-2 m trên mực nước biển,
có dân số độ 17,4 triệu người (2006) và diện tích 40.605
cây số vuông, được tạo thành do phù sa mới của sông Cửu
Long và một phần nhỏ của sông Đồng Nai, có những giồng
cát cao đến 5 m ở ven biển. Đất hơi cao ở biên giới
Việt-Miên và có chiều hướng thấp dần đến 0,5 m khi tiến
về biển. Đất đai bằng phẳng, nhiều đầm lầy ẩm thấp, sông
rạch chằng chịt. Có ít ngọn núi thấp, cao vài trăm thước
ở tận cùng xứ sở và giáp nối với nước Cao Miên, như dãy
núi Thất Sơn, gồm 7 núi: Núi Cấm, núi Tượng, núi Cô Tô,
núi Sam, núi Két, núi Nước và núi Dài Lớn. Ở nội địa, có
ba vùng trũng thấp rộng lớn là Đồng Tháp Mười (700.000
ha), khu Tứ Giác Long Xuyên (489.000 ha) (theo
Wikipedia) và vùng U Minh (270.000 ha) (Nguyễn Văn Ngưu,
2002). Ngoài nông nghiệp trồng lúa chủ yếu, còn có ngành
cây ăn quả, thủy hải sản, chăn nuôi, lâm sản... ĐBSCL
gồm 13 tỉnh và thành phố: Tiền Giang, Long An, Bến Tre,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Thành Phố Cần
Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, và Kiên
Giang.
Cách nay độ 4.000 năm (thời đại đồ đồng và sơ kỳ thời
đại đồ sắt), đã có sắc dân thuộc bộ tộc như Xtiêng,
Châu Ro, Mạ… sống theo lối du canh với nghề săn bắt và
hái lượm ở miền Đông Nam Phần. Vương quốc Phù Nam (từ
chữ Fu Nam của Tàu), gồm nhiều sắc tộc Malayo-Polynesian
xuất hiện ở miền nam của bán đảo Đông Dương từ thế kỷ
thứ II tr. CN đến đầu thế kỷ VII sau CN, với đế đô
Vyadhapura ở tỉnh Prey Veng của Cao Miên ngày nay.
Trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc Phù Nam trải rộng
từ Miền Nam Việt Nam đến châu thổ sông Menan của Thái
Lan, Miến Điện và xuống đến các nước Malaysia và
Indonesia. Người Phù Nam có nguồn gốc Úc-Á, chịu ảnh
hưởng văn hóa Ấn Độ nên người dân theo đạo Hồi, Ấn Giáo
và Phật Giáo. Đến giữa thế kỷ VII, nước Phù Nam suy tàn,
bị một vương quốc nhỏ gốc Khmer ở phía bắc của nước này
chiếm lấy và thành lập nước Chân Lạp. Trong thế kỷ thứ
IX và X, nước Chân Lạp bị phân chia bởi hai nhóm luôn
đối nghịch nhau, có lúc trở thành 2 vương quốc nhỏ: Lục
Chân Lạp là phần đất cao, nước Cao Miên bây giờ với đông
đảo cư dân gốc Khmer sinh sống, và Thủy Chân Lạp thuộc
vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, đất thấp với
nhiều sông rạch, đầm lầy, rừng rậm với dân cư thưa thớt
và sự cai trị của trung ương còn quá lỏng lẻo; cho nên
nhiều sắc dân khác dễ xâm nhập và sống lẫn lộn, nhứt là
người Việt Nam, Chàm và Tàu.
Tài liệu dưới đây được soạn thảo nhằm tìm hiểu nguồn gốc
và sự hình thành của vùng đất Nam Phần trong thời đại đá
cũ đến thời đại kim loại và nền văn hóa Óc Eo, cùng sự
tương quan giữa các thành quả khảo cổ học và nền nông
nghiệp cổ của cư dân sống trên phần đất này.
2. Khảo Cổ Học Miền
Nam
(Viện Khảo Cổ Học, 1999 và Võ Sĩ Khải, 2002)
Sau khi chiếm được Nam Kỳ, vào thập niên 1870, người
Pháp đã thu lượm được nhiều công cụ đá mài và công cụ
bằng đồng thau ở miền Đông Nam Phần. Năm 1878-1879,
Ông F. Caspar và M. Jugant (trong Viện Khảo Cổ Học,
1999) đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá mài nhẵn và rìu
đồng có họng tra cán ở chung quanh vùng Sài Gòn. Theo
Ông Võ Sĩ Khải (2002), một minh văn chữ Phạn được tìm
thấy tại chùa Prasad Pram Loven ở Gò Tháp, Đồng Tháp
Mười cũng vào năm 1878-1879 có ghi lại những nghi thức
thờ thần Visnu nhân dịp Thái Tử Gunavarman được giao
quyền cai trị vùng bùn lầy của Đồng Tháp Mười vào thế kỷ
VI sau CN. Minh văn này được đưa về Sa Đéc và được công
bố vào 1931.
Ông A. Corré (1880) đã báo cáo những
công cụ bằng đá đã được tìm thấy cùng với hai bản minh
văn chữ Phạn ở núi Ba Thê, tỉnh An Giang. Những khảo sát
về sau cho thấy vùng Ba Thê phát hiện nhiều phế tích
bằng đá, gạch, mi cửa, tượng Phật, linh vật, tượng thần…
Ông E. Hamy (1897)
đã công bố bộ sưu tập hơn 100 hiện vật bằng đá và 10 di
vật bằng đồng của 20 điểm di tích trong lưu vực sông
Đồng Nai.
Năm 1898,
Phái Bộ Khảo Cổ Học Đông Dương (Mission archéologique de
l'Indochine) được thành lập ở Sài Gòn, nhằm tạo cơ sở
phát triển cho các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu và khai
quật được mở rộng hơn. Chỉ 3 năm sau, 1901, Phái Bộ này
đã trở thành Trường Viễn Đông Bác Cổ và di chuyển ra Hà
Nội để bành trướng công tác khảo cổ cho cả Việt Miên
Lào, ngoài nghiên cứu nền văn minh của Ấn Độ và Nhựt Bổn
(EFEO, 2007).
Năm 1902, Ông D. Grossin thực hiện
khai quật đầu tiên ở sườn đồi phía tây Cù Lao Rùa của
sông Đồng Nai và kết quả được công bố trong tập san
Trường Viễn Đông Bác Cổ (Grossin, 1902). Sau đó, đại úy
F. Barthère (1911) đã có bộ sưu tập đồ đá Biên Hòa quan
trọng với 114 rìu có vai, 25 rìu tứ giác, lưỡi câu, vòng
trang sức, dọi xe sợi, bi gốm…
Năm 1937,
các nhà khảo cổ L. Malleret và O. Jansé (1958) tiến hành
một cuộc thám sát ở Cù Lao Rùa và tìm thấy 2 rìu có vai
và nhiều đồ gốm có hoa văn đường song song, gốm mỏng, có
màu nâu, đỏ và độ nung cao (Malleret, 1959 và 1963).
Vào năm 1944, Ông L. Malleret đã bắt
đầu khai quật khu di tích Óc Eo và núi Ba Thê để tìm
hiểu các tầng văn hóa, đưa đến một khám phá ngoạn mục
của vùng Đông Nam Á về nền "văn hóa Óc Eo".
Nhà khảo cổ E. Saurin (1963)
đã nghiên cứu hơn 10 di tích trong vùng Xuân Lộc, Hàng
Gòn và Dầu Giây và xếp các di chỉ này thuộc về một nền
"Văn hóa kim khí khu vực". Ông Saurin (1968 và 1973) đã
báo cáo 15 di vật ở một hố sâu 0,40 m tại đồn điền Hàng
Gòn, Xuân Lộc, liên quan đến sơ kỳ thời đại đá cũ. Ở Dầu
Giây, Ông cũng tìm thấy 1 rìu tay ở độ sâu 1,50m và 2
chiếc nạo, một mũi nhọn trên mặt đất.
Từ 1902 đến 1945,
hơn 300 địa điểm có di tích và di vật kiến trúc đã được
báo cáo ở Miền Nam, từ vùng Hà Tiên - Rạch Giá, núi Sam,
Thất Sơn, Ba Thê - Óc Eo, đồng Xà No, các vùng đất cao,
vùng cận biên Sóc Trăng, vùng U-Minh - Cạnh Đền, vùng
sông Tiền và sông Hậu, Đồng Tháp Mười cho đến thung lũng
sông Đồng Nai (Võ Sĩ Khải, 2002).
Từ 1945 đến 1975, ông H. Fontaine và
Hoàng Thị Thân (1975) thực hiện những cuộc đào tìm hiểu
về thời kỳ tiền sử và mộ chum chứa nhiều di vật gốm, đá,
đồng, sắt, đồ trang sức ở di chỉ Phú Hòa. Fountaine
(1972 và 1975) đã báo cáo một bộ sưu tập trên 4000 công
cụ bằng đá và hàng vạn mảnh gốm cho biết tầm quan trọng
của các di vật này đối với thời đại kim khí nơi đây.
Vùng Phước Tân có nhiều công cụ đá hơn hết (2596) so với
Bến Đò (1309 chiếc), Cù Lao Rùa (400 chiếc) nên Ông đã
đề nghị xếp các di tích này vào nền "Văn hóa Phước
Tân". Ông còn xác định niên đại C14 của các di vật
này từ 2300 đến 3100 năm (tính từ 1950).
Từ năm 1975 đến nay, Trung Tâm Nghiên
Cứu Khảo Cổ Học thuộc Viện Khoa Học Xã Hội ở Miền Nam đã
khảo sát, đào xới, kiểm chứng hơn 90 di tích và khai
quật hơn 20 di tích kiến trúc ở miền Nam, như khu di
tích An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Trà Vinh,
Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Giờ (rìu đá mài), Đồng Nai, Long
An, Tây Ninh, Lâm Đồng… Tuy nhiên, chưa có một công
trình nghiên cứu tổng hợp có hệ thống được thực hiện đầy
đủ, dù số di tích và di vật được tìm thấy khá lớn (Võ Sĩ
Khải, 2002). Hiện nay, ngành khảo cổ học Nam Phần đã tốn
nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm những bằng chứng
xác thực, đầy đủ hơn về giai đoạn sơ kỳ thời đại đá cũ,
làm sáng tỏ thời đại kim khí của Miền Đông Nam Phần và
tìm hiểu chi tiết hơn về chủ nhân, cội nguồn và quá
trình phát triển của nền văn hóa Óc Eo rực rỡ của đất
nước Miền Nam.
3. Hình Thành Vùng Đất Miền Nam
Theo các nhà địa chất, vào đầu Kỷ Thứ Ba (Pliocene) và
Thứ Tư , đồng bằng miền Nam hình thành một trũng rộng
lớn. Từ đó, các địa chất dần dần lấp đầy vùng trũng, tạo
thành một lớp trầm tích dày trên 2.000 m. Đó là đồng
bằng Nam Phần trù phú ngày nay. Ngoài ra, còn có giả
thuyết đất nước có hiện tượng sụt lún tạo
ra hai đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL vào thời đại đá cũ
Cánh Tân (Viện Khảo Cổ Học, 1998).
Miền Đông Nam Phần, đặc biệt hai tỉnh Đồng
Nai và Sông Bé là khu hoạt động của núi lửa xa xưa, để
lại các vết tích của thềm dung nham chảy bị cắt bởi hệ
thống suối rạch ở Xuân Lộc, và cao nguyên badan ở cao độ
150-200m ở An Lộc-Lộc Ninh. Tuổi của khu vực badan này
vào khoảng 640.000 năm (Carbonnell et Pompeau, 1969)
hoặc cuối thời kỳ Cánh Tân (Pleistocene) (Phạm Hùng,
1978).
Các hiện tượng biển tiến và biển lùi
do băng tan và đóng băng theo thứ tự, ảnh hưởng quan
trọng đối với địa bàn cư trú của người dân bản địa ở Nam
Phần. Biển tiến lần cuối cùng khoảng 5.000 năm trước,
nhưng mỗi thời kỳ biển tiến, tình trạng biển không hoàn
toàn ổn định liên tục, mà mực nước biển giao động lên
xuống, thấp nhứt không quá phạm vi đất liền hiện nay. Do
đó, nhiều nơi đất thấp của đồng bằng sông Hồng và đồng
bằng sông Cửu Long có lúc bị chìm sâu trong nước biển
một thời gian lâu dài.
Đa
số ý kiến cho rằng biển tiến cách đây 15.000 năm chỉ đạt
40m dưới mực nước biển hiện nay, khoảng 11.000-9.000 năm
trước đạt 10-15m dưới mực nước biển hiện nay và khoảng
5.000 năm trước đến được mực nước bây giờ. Nhưng khoảng
4.500-4.000 năm trước nước biển dâng lên cao đến +5-3m
trên mức hiện nay làm ngập lụt cả ĐBSCL và khoảng
3.000-2.500 năm chỉ còn +2m. Sau đó, biển tiếp tục rút
xuống đến mực nước biển ngày nay (Lưu Tỳ và đồng nghiệp,
1985). Cho nên, nhiều nơi đất thấp của ĐBSCL có thể
bị ngập lụt cách nay khoảng 4.500-3.000 năm, trong
khi Miền Đông Nam Phần không bị ảnh hưởng nào do biển
tiến, ngoại trừ khu vực gần biển Cần Giờ và cư dân có
thể sống lâu dài liên tục với nghề nông trên những vùng
đất cao. Các di vật khảo cổ được phát hiện trong di chỉ
Xuân Lộc cho biết sơ khởi người vượn có thể sinh hoạt
trên vùng đất này hàng trăm ngàn năm.
4. Thời Đại Sơ Kỳ Đá Cũ ở Miền Nam
Nhóm di tích Xuân Lộc (hay Gia Tân):
Nhà khảo cổ E. Saurin (1968 và 1973) đã phát hiện
15 di vật ở đồn điền Hàng Gòn, Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng
Nai liên quan đến thời đại sơ kỳ đá cũ và được phân loại
như sau: 3 rìu tay gần gũi với rìu tay Acheuléen điển
hình, 5 công cụ 3 mặt, 3 công cụ nhiều mặt, 1 mũi nhọn,
1 công cụ hình rìu và 1 hòn ném. Ở Dầu Giây, Ông cũng
tìm thấy 1 rìu tay ở độ sâu 1,50m và 2 chiếc nạo, một
mũi nhọn trên mặt đất. Những công cụ đá ở Hàng Gòn và
Dầu Giây gần gũi với các nhóm di vật miền Đông Campuchia
và có thể có niên đại Acheuléen.
Từ
năm 1975 trở về sau, các nhà khảo cổ kiểm tra lại 2 địa
điểm Hàng Gòn VI và Dầu Giây II do E. Saurin tìm thấy
trong năm 1968 và thám sát thêm khu vực đồi badan Xuân
Lộc và lưu vực cổ sông Đồng Nai thuộc tỉnh Đồng Nai và
Sông Bé. Các nhà khảo cổ học tìm thấy một công cụ chặt
thô, một chiếc rìu tay hình bầu dục khá gần gũi với rìu
tay Acheuléen (Nguyễn Đổng Chi, 1976, Nguyễn Văn Long và
Lê Trung Khá, 1977). Một cách tổng quát, các hiện vật
như rìu tay, công cụ hình rìu được tìm thấy có nguồn gốc
đá badan, ở ngoài mặt đất, còn khá ít, nhưng các tổ hợp
công cụ của Đồng Nai gần gũi với Núi Đọ, được xem có
thời đại đá cũ sơ kỳ (Viện Khảo Cổ Học, 1998).
Một số nhà khảo cổ học đang còn tranh luận về sự hiện
diện của con người trên một số địa điểm, như Xuân Lộc
(Đồng Nai) và Núi Đọ (Thanh Hóa). Rất nhiều công cụ
đặc biệt cho thời đại đá cũ đã được tìm thấy, nhưng các
di chỉ được thu thập rải rác trên mặt các đồi gò, thềm
sông. Trái lại, ở Miền Bắc một số di tích có cốt người
cổ, nhưng chưa phát hiện được các công cụ lao động, như
di chỉ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Hang Hùm (Viện Khảo Cổ
Học, 1998 và 1999). Do đó, cần có những cuộc nghiên cứu
khảo cổ mới, những khai quật mới để có đầy đủ thông tin
chính xác giúp xác nhận một nền văn hóa cổ xưa xuất hiện
ở hai nơi này, nếu thật sự có.

Hình 1: Đồ đá Nam Bộ
(Viện Khảo Cổ Học, 1998)
5. Thời Đại Kim Khí và
Ngành Nông Nghiệp Cổ
Miền Đông Nam Phần
(Viện Khảo Cổ
Học, 1999)
Trong thời kỳ Toàn Tân cách nay 10.000 năm, bậc thềm phù
sa cổ này thành lập một vòng cong từ Vũng Tàu đến Hà
Tiên. Đến thời đại đồng thau (cách nay 4.000 năm), tức
vào thời kỳ biển lùi, cư dân từ vùng đất cao, đồi núi
tiến xuống chiếm ngụ đồng bằng, trước tiên trên những
giồng đất cao để thành lập cứ địa cho bành trướng khắp
miền Tây Nam Phần sau này. Nhiều cuộc nghiên cứu khảo cổ
ở Miền Đông Nam Phần trước và sau 1975, với hàng trăm di
tích khảo cổ học và hàng vạn di vật khảo cổ thu lượm
được, đã cho thấy một nền văn hóa chung cho lưu vực sông
Đồng Nai - một trung tâm văn hóa lớn trong thời đại
kim khí của nước nhà. Có thể phân chia các di chỉ
khảo cổ học miền Đông Nam Phần theo khu vực địa lý như
sau:
(i) "Các di chỉ khảo cổ học
ở độ cao 100-200m, chủ
yếu ở Xuân Lộc với diện tích thường rộng, tích tụ văn
hóa dày, hiện vật phong phú, tập trung ở Hàng Gòn, Phú
Hòa, Dầu Giây, Long Giao, Suối Linh, Đồi Phòng Không,
Cầu Sắt, Đồi Mít, Đồi Xoài, Bình Xuân…
(ii) Các
di chỉ khảo cổ ở hạ lưu sông Đồng Nai với diện tích
rộng, tích tụ văn hóa dày như Dốc Chùa, Bình Đa, Phước
Tân, Mỹ Lộc…
(iii) Khu vực cận biển với
các di chỉ Cái Lăng, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Cái Vạn, Giồng
Phệt, Giồng Cá Vồ; và các vùng phù sa như Rạch Núi, An
Sơn, Rạch Rừng, Lộc Giang…"
5.1. Các đặc trưng chính
Qua nhiều thập niên thu lượm, thám sát, khai quật ở hàng
trăm các di chỉ khảo cổ, các di vật được phát hiện rất
phong phú và đa dạng, gồm những cổ vật làm bằng các chất
liệu đá, đồng, sắt, gốm, xương…, tạo nên bản sắc riêng
biệt cho miền Đông Nam Phần qua nhiều thời kỳ văn hóa.
Đồ đá:
Di vật đồ đá phát hiện với số lượng to lớn, làm ngạc
nhiên các nhà khảo cổ học liên hệ. Ở Gò Đá (Mỹ Lộc),
trong nửa tiếng đồng hồ, Ông Holbe đã nhặt được 100
chiếc rìu đá (Holbe, 1889). Ở địa điểm khảo cổ Phước Tân
có 3.000 di vật đá thu lượm được từ 1969 đến 1975. Nhiều
địa điểm khảo cổ khác cũng vậy. Sự phân bố các di vật ở
các di chỉ Miền Bắc thấp hơn các di chỉ Miền Nam (Phạm
Quang Sơn, 1978). Chất liệu chế tạo đồ đá thường là đá
badan và đá hoa cương (granite). Kỹ thuật ghè đẽo hình
dáng và mài hoàn chỉnh, vắng bóng kỹ thuật cưa.
Bộ
hiện vật đá Đồng Nai rất đa dạng, gồm có các loại rìu
vai, rìu không vai, rìu tứ giác dạng hình thang rõ rệt
(ở Miền Bắc và Trung có hình vuông), nhiều cuốc đá lớn
(dài trên 15 cm, vai vuông vắn, lưỡi được mài bén ở một
hoặc hai mặt), đục đá (có lưỡi sắc, hơi nhọn, chế tạo
khá sơ sài), dao hái (độc đáo, dài độ 10-15 cm, có đốc
thẳng, lưỡi cong hình cung, khá mõng), dao cắt hay cưa
đá, bàn mài (dạng hình lõm), mũi nhọn đá (gắn vào tre gỗ
làm vũ khí tự vệ, chọc lỗ hay săn bắn). Những dụng cụ
bằng đá này được sử dụng trong các hoạt động nông
nghiệp, một nghề chủ yếu của cư dân trước thời đại kim
khí còn sót lại. Miền Đông Nam Phần có thể có một hay
những nền văn hóa khác trong thời đại cuối đá cũ và đá
mới cần được nghiên cứu thêm để xác nhận.
Điểm đáng chú ý là trong tất cả các địa điểm khai quật,
các nhà khảo cổ hầu như không tìm thấy dụng cụ cày,
như đã thấy trong nền văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc. Cho
nên, nền nông nghiệp ở đây là nền nông nghiệp dùng
cuốc, nhưng đã có trình độ cao. Các cư dân đã dùng
rìu tứ giác chặt cây phá rừng, dùng cuốc đá để đào xới
đất, dùng mũi nhọn đá để chọc lỗ trồng trọt, dùng dao đá
để thu hoạch và bàn mài để bóc vỏ hạt, ngoài những chức
năng phụ khác.

Hình 2: Rìu đá,
công cụ đá Cầu Sắt, Nam Bộ
(Viện Khảo Cổ Học, 1999)
Ngoài ra, còn có đồ trang sức bằng đá như vòng đeo tay,
hạt chuỗi bằng đá quý, khuyên tai bằng đá ngọc xanh
(Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự, 1995). Còn có khuôn đúc
đồng dùng chế tạo rìu, giáo, lao, lưỡi câu, chuông nhỏ…
Đồ gốm:
Miền Đông Nam Phần có nhiều hệ thống sông ngòi, kinh
rạch, các gò đất đỏ Basalte, đầm lầy tạo điều kiện thuận
lợi phát triển đồ gốm. Đồng Tháp Mười là một vùng cung
cấp nguyên liệu cho sản xuất nhiều loại đồ gốm. Bộ đồ
gốm ở vùng này có sắc thái đặc biệt do ảnh hưởng con
người, hệ sinh thái của vùng.
Đồ đồng và sắt:
Bộ đồ đồng tìm thấy được tương đối ít hơn lưu vực sông
Hồng, sông Mã…, nhưng nhiều hơn đồ đồng ở ven biển của
nền văn hóa Sa Huỳnh. Đồ đồng được tìm thấy gồm có các
loại rìu, chủ yếu rìu cân, vai xuôi, một mặt phẳng, một
mặt lồi, lưỡi cong hình hyperbol, họng tra cán hình chữ
nhựt hay hình bầu dục. Ngoài ra, còn tìm thấy giáo hình
lá hay hình đa bút, đồ trang sức còn rất ít như vòng tay
có mặt cắt hình bán nguyệt hay dẹp. Trong giai đoạn muộn
như Suối Chồn, Dầu Giây, Hàng Gòn còn tìm thấy các công
cụ sản xuất và vũ khí bằng sắt được chế tạo bằng rèn
(thay vì đúc như ở miền Bắc) rất phong phú và hoàn chỉnh
hơn, như cuốc, rìu, dao, liềm, kiếm, vòng
tay, nhẫn... Nhờ các công cụ
sản xuất kim khí này, ngành nông nghiệp đã tiến lên một
tầng cao, với năng suất lao động và hoa màu tăng vượt
bực.
Đồ thủy tinh
gồm có loại vòng tay cắt hình tròn, chữ D, khuyên tai
hai đầu thú, khuyên tay có ba mấu, khuyên tai mặt cắt
hình tam giác và hạt chuỗi. Người ta còn tìm thấy đồ
trang sức mạ vàng và bằng vàng, bạc được tìm gặp ở các
di chỉ mộ chum có niên đại sơ kỳ thời đại sắt, Tiền Óc
Eo và Óc Eo.
Ngoài ra, người ta còn tìm thấy các trống đồng ở Bình
Phú (Thủ Dầu Một), Vũng Tàu (niên đại thế kỷ VI tr CN),
Lai Sơn (Kiên Giang), Lộc Tấn (Bình Phước).
5.2. Các giai đoạn phát triển hệ văn hóa Đồng Nai
Hiện nay, quá trình tiến hóa của hệ văn hóa Đồng Nai có
thể chia làm 5 giai đoạn (Phạm Đức Mạnh, 1997):
1) "Cầu
Sắt-Suối Linh: Giai đoạn đá-đồng, 4.500-4.000 năm
cách nay.
2) Núi
Gốm-Bình Đa-Cù Lao Rùa: Giai đoạn đồng thau sớm,
khoảng thiên niên kỷ II trước CN.
3) Dốc
Chùa-Bưng Bạc: Giai đoạn đồng thau muộn, khoảng nửa
đầu thiên niên kỷ I trước CN.
4) Suối
Chồn-Phú Hòa: Giai đoạn sớm của thời đại sắt, khoảng
nửa sau thiên niên kỷ I trước CN.
5) Cần Giờ (Giồng
Phệt-Giồng Cá Vồ)-Lộc Chánh: Giai đoạn phát triển mới
của thời đại sắt, khoảng 1-2 thế kỷ trước và sau CN."
Di chỉ khảo cổ Cầu Sắt - Suối Linh
được coi là biểu tượng cho giai đoạn phát triển sớm
nhứt của thời đại kim khí thuộc lưu vực sông Đồng
Nai, do vết tích của loại rìu đá có vai kích thước nhỏ
và trung bình với tỉ lệ lớn hẳn các công cụ khác và loại
dao hái nhỏ, ghè mài từ những mảnh tước nhỏ có mũi nhọn
để làm dụng cụ nông nghiệp. Đồ gốm có trình độ kỹ thuật
cao, chế tạo bằng bàn xoay và một số khác bằng tay, độ
nung cao, thành gốm mỏng… Chưa tìm được dấu vết kim loại
và mộ táng. Ngành nông nghiệp cuốc đá hiện diện rõ
nét. Do đó, niên đại của Cầu Sắt tương đương với
giai đoạn Phùng Nguyên ở phía Bắc, tức cách nay độ
4.500 năm - thời đại đồng. Giai đoạn phát triển sớm của
đồng thau tiếp theo là văn hóa Bến Đò (3040 ±
140), văn hóa Cù Lao Rùa (Khoảng thiên kỷ II tr.
CN) với các công cụ có kích thước lớn như cuốc, mai, rìu
có vai phát triển mạnh, cùng với các đồ trang sức hình
tam giác hoặc hình bầu dục. Kế tiếp là văn hóa Dốc
Chùa của thời đại kim khí (khoảng nửa đầu thiên kỷ I
tr. CN), với sự xuất hiện phong phú của rìu tứ giác,
giáo, lao, vòng trang sức, tượng động vật, nhiều khuôn
đúc đồng. Tiếp theo Dốc Chùa là Suối Chồn-Phú Hòa
(khoảng nửa sau thiên kỷ I tr. CN) và Cần Giờ-Lộc
Chánh (khoảng 1-2 thế kỷ trước và sau CN) với các
loại công cụ đa dạng và phong phú về hiện vật sắt, đồ
trang sức thủy tinh và kim loại quý như vàng, bạc, mộ
gốm. Ngành nông nghiệp đã phát
triển mạnh hơn với công cụ sản xuất kim khí.
5.3. Nền nông nghiệp cổ sơ
Sự
hiện diện dày đặc của các di vật đa dạng như đá, đồng,
sắt, gốm, xương, thủy tinh… ở nền văn hóa Đồng Nai cho
thấy cư dân sống khá đông đảo cách nay ít nhứt
5.000-4.000 năm. Họ sống chủ yếu bằng nghề
nông nghiệp cuốc với các công cụ sản xuất có số
lượng rất lớn như rìu có vai hay tứ giác, dao hái, dao
cắt khá độc đáo, cuốc đá rất phổ biến và nhiều đồ
đựng bằng gốm. Nông dân dùng những chiếc rìu đá (Hình 2)
không những để chế tạo dễ dàng hơn những vật bằng gỗ hay
tre, mà còn có thể chặt cây, phá rừng trồng trọt trên
đất cao, chủ yếu nông nghiệp nương rẫy, làm vườn. Rìu
đá rất đa dạng và phong phú, gồm có các loại rìu
vai, rìu không vai, rìu tứ giác. Rìu tứ giác có dạng
hình thang rõ rệt, rìu có phần đốc hẹp, lưỡi xòe rộng,
chiều dài có khi lớn gấp 2 hoặc 3 lần chiều rộng, giúp
khai thác nông nghiệp dễ dàng và hữu hiệu hơn.
Những chiếc cuốc đá
(Hình 2) được dùng trong phát triển nông nghiệp đất cao
và ruộng thấp, đặc biệt ruộng nước ở dọc bờ sông Đồng
Nai hoặc các vùng đất gần thôn xóm. Cuốc đá có kích
thước lớn, thường dài hơn 15 cm, vai vuông, lưỡi được
mài ở một mặt hoặc 2 mặt. Lưỡi thường xoè rộng và có
dạng cong lồi, giúp xới đất mau lẹ hơn dùng tay hoặc
chân ở thời kỳ trước đó.
Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn tìm được ở di chỉ Cầu Sắt
những chiếc dao hái bằng đá badan hình bán
nguyệt, lưỡi cong hình cung, sống thẳng được mài nhẵn
khá mỏng, mặt cắt ngang hình tam giác cân. Các nhà khảo
cổ cho rằng đó là các dao gặt lúa (Hình 2) được
tìm thấy ở Bến Đò, Phước Tân, Hội Sơn… Địa điểm Cầu Sắt
được tìm thấy đến 50 chiếc (Hoàng Xuân Chinh, 1978), địa
điểm Suối Linh 58 chiếc (Phạm Đức Mạnh, 1996). Dao
cắt (còn gọi là cưa đá) có dạng hình thang, rộng bản
thường được mài nhẵn toàn thân, lưỡi sắc hiện diện ở hầu
hết các di chỉ từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn. Sự
phát hiện các dao hái, dao cắt bằng đá - các công cụ thu
hoạch - cho thấy ngành trồng lúa nương và lúa nước
chiếm vị trí quan trọng trong nông nghiệp cuốc đá.
Các xưởng chế tạo công cụ đá có thể ở Suối Linh, Mỹ Lộc,
Bưng Bạc, Dốc Chùa…
Cách nay vào khoảng 5000-6000 năm, nhiều nhà nghiên cứu
biết rằng, các bộ lạc trồng lúa, chủ yếu lúa rẫy,
xuất hiện trên khắp nước và vùng Đông Nam Á (Nguyễn Phan
Quang và Võ Xuân Đàn, 2000). Do đó, sự hiện diện của các
di vật cuốc đá, dao hái, dao cắt khá phong phú ở nhiều
địa điểm khảo cổ chứng tỏ nghề trồng lúa rẫy xuất hiện
trước ở trên đất cao hoặc sườn đồi núi, sau đó lúa
nước có mặt ở nơi trũng thấp hoặc ven sông rạch và
trở nên nghề chủ yếu vì sản xuất cao hơn rẫy nương, bên
cạnh các hoạt động hái lượm và săn bắt truyền thống ở
Miền Đông Nam Phần. Nhờ đó, cư dân có đời sống ổn định
hơn, họ thành lập xóm làng lâu đời, với các di
vật phát hiện dày đặc là chứng tích. Vào thời đại kim
khí, các công cụ sản xuất bằng đồng và sắt đã phát
hiện ở di chỉ Dầu Giây, Hàng Gòn, gồm có rìu, cuốc, dao,
liềm… đã giúp cho nền nông nghiệp ở Miền Đông tiến bộ
thêm một tầng cao hơn để làm tăng hiệu năng sản xuất của
nông dân. Theo Saurin (1973), các đồ sắt ở Dầu
Giây, Hàng Gòn xuất hiện sớm nhứt ở Đông Dương vào độ
thế kỷ V tr CN đến thế kỷ I sau CN.
Ngoài ra, sự phát hiện các dọi xe sợi với số
lượng lớn, cho biết nghề thủ công nghiệp dệt vải xuất
hiện rộng rãi ở vùng Đồng Nai lúc bấy giờ. Điều này cho
biết ngành nông nghiệp trồng cây bông vải hoặc trồng dâu
nuôi tằm cũng phát triển mạnh lâu đời ở Miền Đông.
Trên đất nước Việt Nam vào thời đại kim khí,
có ba nền văn hóa xuất hiện gần đồng bộ vào 700-500 năm
tr CN; đó là văn hóa Đông Sơn ở Miền Bắc, văn hóa Sa
Huỳnh ở Miền Trung và văn hóa Dốc Chùa ở Miền Nam. Khi
nền văn hóa Đông Sơn bước vào thời kỳ đồng thau,
có hoạt động nông nghiệp khá tiến bộ với trồng lúa hai
mùa, dùng lưỡi cày kim loại và sức kéo trâu bò làm nền
tảng cho phát triển kinh tế của tộc Việt. Văn hóa Sa
Huỳnh bước vào thời kỳ đồng thau, có nền nông nghiệp
lớn mạnh, với trồng lúa nước và lúa rẫy, đánh bắt cá,
thương mại. Văn hóa Dốc Chùa đã bước vào thời sắt
sớm, có nền nông nghiệp phát triển cao, chủ yếu trồng
lúa rẫy và lúa nước, với sự phát hiện bộ nông cụ thu
hoạch - những chiếc liềm đồng và các khuôn đúc ở nhiều
nơi, bên cạnh nghề trồng dâu, bông vải, làm vườn rau quả
quanh nhà.
6. Văn Hóa Óc Eo và
Sinh Hoạt Nông Nghiệp
(cách nay 2.200-1.300 năm) (Viện Khảo Cổ Học, 2002)
Nước Phù Nam
có nền văn hóa Óc Eo cực thịnh chỉ xuất hiện trong
khoảng hơn 8 thế kỷ rồi suy tàn vào giữa thế kỷ thứ VII
và bị cư dân gốc Khmer chiếm lấy để thành lập nước Chân
Lạp. Một trong nhiều giả thuyết về sự suy yếu này được
đánh giá cao là hiện tượng biển tiến làm ngập lụt và bùn
biển chôn vùi các vùng thuộc văn hóa Óc Eo, và làm suy
yếu nền kinh tế và chính trị của nước Phù Nam. Khi biển
rút đi, những người còn sống sót ở các gò đất cao đã trở
nên kiệt quệ. Nước Phù Nam bị Chân Lạp mà đa số gốc
Khmer chiếm lĩnh. Sự suy tàn của nước Phù Nam có thể nói
lên gì về tương lai của vùng đất Nam Phần và cả Việt Nam
với những lần biển tiến trong các thập niên tới, mà hiện
tượng hâm nóng toàn cầu hiện nay đang tăng gia ở mức độ
đáng lo ngại? Và phải làm gì để chuẩn bị cho biến cố
này?
6.1. Lịch sử khảo cổ văn hóa Óc Eo
Vào 1944, Nhà khảo cổ học Louis Malleret đã thực hiện
cuộc khai quật địa điểm Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, tỉnh An
Giang, nhưng sau đó phải ngưng vì chiến tranh xảy ra.
Các di vật tìm được từ cuộc khai quật lần đầu tiên của
Malleret (1963) rất phong phú, chủ yếu gạch ngói, tượng,
đồ gốm với trình độ kỹ thuật, hoa văn rất cao; chứng tỏ
nền văn hóa Óc Eo có một thời kỳ rực rỡ. Nền thương mại
của nước Phù Nam phát triển rất mạnh và sung túc. Các di
vật tìm thấy cho biết nước này có giao thương rộng rãi
với Ấn Độ, Trung Hoa, Ba Tư và La Mã và bị ảnh hưởng sâu
đậm bởi nền văn hóa Ấn Độ, đặc biệt Phật Giáo và Ấn
Giáo.
Óc Eo,
Thủ đô của Vương quốc cận biển Phù Nam (Hình 3), có diện
tích gần 500 km2, là một thành phố hải cảng sầm uất, có
hệ thống thuế quan của nước Phù Nam được thành lập từ
thế kỷ II tr CN (thay vì thế kỷ III sau CN theo sử Tàu
trước đây) cho đến giữa thế kỷ VII (Stark, 1999). Thành
phố này được xây dựng bằng gạch ngói, nhà sàn có hệ
thống kinh rạch khắp nơi. Kiến trúc đô thị của nền văn
hóa Óc Eo cho thấy cư dân nơi đây có nền văn minh sớm,
có thể tiến bộ hơn cư dân đồng bằng sông Hồng trong cùng
thời đại.

Hình 3: Thành cổ
Óc Eo,
Vùng Núi Sập-Ba Thê
(Bảo Tàng tỉnh An Giang)
Theo báo cáo của Ông Malleret, các hiện vật
đã gây sự chú ý đặc biệt: 1311 gr vàng và 9283 hạt ngọc.
Ngoài ra còn thu lượm hàng ngàn di vật đồng, sắt, thiếc,
gỗ, đá, hàng vạn đồ gốm gồm nhiều loại khác nhau: bình,
vò, nồi, lọ, tô, tượng, chân đèn, chì lưới… nhiều di vật
do ngành luyện kim biến chế sắt, nghề kim hoàn. Đặc biệt
hơn hết nhiều di vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc,
Trung Á, Roma… có niên đại vào thế kỷ II và III (Viện
Khảo Cổ Học, 2002). Vì đặc điểm địa chất của vùng đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lầy lún, nên khó phân biệt
các tầng văn hóa như đã thấy ở đất cao, nhưng ông
Malleret cho biết có hai nền văn hóa Phù Nam và Chân
Lập.
Sau 1975, nhiều cuộc điều tra, khai quật
được tiến hành từ tỉnh Đồng Nai cho đến Kiên Giang. Cho
đến nay, di tích văn hóa Óc Eo được tìm thấy trong các
tỉnh: Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp,
Cửu Long, huyện Duyên Hải thành phố (Cần Giờ), Tiền
Giang, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Minh Hải… Nền
văn hóa Óc Eo bao gồm cả miền Đông và Tây Nam Phần,
ngoài địa điểm Óc Eo.
Gần đây các nhà khảo cổ học phân loại nền văn hóa của
ĐBSCL với ít nhứt 3 tầng văn hóa rỏ rệt:
-
Văn hóa tiền Óc Eo
(trước thế kỷ II tr. CN),
-
Văn hóa Óc Eo
(Phù Nam từ thế kỷ II tr. CN đến giữa thế kỷ VII sau
CN), và
-
Văn hóa hậu Óc Eo
(Chân Lạp).
6.2. Những đặc trưng chính
Những đặc tính của nền văn hóa Óc Eo gồm có di vật đồ
đá, đồ gốm, kim loại và các kiến trúc như sau (Viện Khảo
Cổ Học, 2002):
Đồ đá:
Cuộc khai quật ở gò Cây Tung, xã Thới Sơn, Tịnh Biên (An
Giang) đã thu được nhiều di vật đồ đá: 7 rìu mài trong
đó có 2 chiếc là bôn có mỏ, 2 mảnh vòng tay, vật liệu
trang trí bằng đá. Nhóm công cụ bằng đá này có niên đại
hậu kỳ đá mới đến sơ kỳ thời đại đồng thau. Các tượng đá
thuộc tín ngưỡng Bà La Môn và Phật Giáo: đầu tượng
Brahma được phát hiện ở Giồng Xoài và Ba Thê, tượng
Visnu (Hình 4), đầu Siva ở Gò Tháp (Đồng Tháp Mười).
Ngoài ra, còn có các vật dụng làm bằng đá như bàn
mài, bàn nghiền, cối, chày…, vật đá làm kiến trúc;
cho biết lúa gạo là thức ăn căn bản của cư dân Óc Eo.

Hình 4: Tượng Thần Visnu: Đầu và thân
(Văn Hóa Óc Eo)
(Viện
Khảo Cổ
Học,
2002)
Đồ gốm:
Gốm ở miền Tây có những sắc thái đặc biệt trong nền văn
hóa Óc Eo. Gốm Sông Hậu có màu xanh đen lẫn nhiều bã
thực vật. Gốm giữa sông Hậu và Sông Tiền mịn hơn, màu
xám đen. Gốm ven biển (Cần Giờ) làm bằng đất pha cát phù
sa, có độ nung cao, áo gốm màu hồng hoặc đen. Những di
tích bằng gốm và đất nung, đa dạng được tìm thấy ở hầu
hết các di chỉ Óc Eo. Di tích Nền Chùa và Ba Thê gồm có
nồi nấu thức ăn, cà ràng, chén, bát, bình, vò… Trong
di chỉ Thành Mới, Vũng Liêm, Vĩnh Long cho biết đây
là khu cư trú rộng lớn. Đồ gốm gồm gốm mịn cao, nhiều
hoa văn trang trí, độ nung thấp và cao, có niên đại từ
thế kỷ VI tr. CN đến thế kỷ V sau CN.
Đồ kim loại: Các di vật được
tìm thấy làm bằng đồng, thiếc, bạc, chì, sắt và vàng.
Tượng phật bằng đồng được tìm thấy ở Ba Thê, Cây Thị.
Ngoài ra, còn tìm thấy các đồ trang sức như nhẫn, hoa
tai, vòng tay bằng thiếc và các loại hợp kim; con dấu
chạm chìm hay nổi; đồng tiền vàng, bạc, thiếc; và vàng
trong đồ trang sức có hình người, động vật, thảo mộc…
Ngoài ra, nhiều dụng cụ chế tạo kim hoàn như nồi nấu
cũng được tìm thấy.
Kiến trúc: Vật liệu kiến trúc
gồm đá, gạch, đất nung và gỗ. Các loại đá làm kiến trúc
từ thô sơ (Nền Chùa) đến những phiến đá lớn được gọt đẽo
và trang trí (Ba Thê, Giồng Cát, Gò Tháp), những cột đá
lớn vuông có cạnh, có mộng và chốt để nối theo chiều cao
(Gò Tháp). Gạch gồm đủ loại từ gạch nung sơ sài
đến độ nung trung bình và nung cao cứng như đá. Màu gạch
gồm từ trắng, xám, hồng, đỏ, nâu…. Cọc gỗ được sử
dụng để làm nhà sàn ở các di chỉ cư trú, hoặc làm vật
thờ như Linga, sàn gỗ ghép… (Võ Sĩ Khải, 2002)
Những di vật dày đặc và đa dạng đã được tìm
thấy ở các địa điểm khai quật cho biết chắc chắn một
thời đô hội của các thành thị Óc Eo ở Miền Nam cách
đây hơn 2000 năm. Những vết tích dãy cọc gỗ dọc nhà sàn
ở di chỉ Nền Vua cho biết có những phố phường dọc theo
các kênh rạch với những nhà sàn dọc theo hai bờ.
Cư dân đô thị sinh sống bằng nghề thủ công như nghề gốm
(nhưng gốm men chưa xuất hiện), kim hoàn trang sức, thủy
tinh, thương mại, buôn bán trao đổi với người trong nước
và các tàu bè ngoại quốc.
6.3. Sinh hoạt nông nghiệp
Những dụng cụ sinh hoạt, sản xuất được tìm thấy ở các di
chỉ Óc Eo cho biết người Ốc Eo có nền nông nghiệp thâm
canh và trình độ cao với ruộng sâu, tưới tiêu, vườn trái
cây, đánh bắt cá và chăn nuôi. Ngành trồng lúa nước
vẫn là chủ yếu của cư dân này. Các di vật như nồi nấu
kim loại, dọi se sợi, chì lưới, cùng với các dụng cụ
bằng đá như rìu mài, bôn có mỏ, bàn mài, bàn nghiền,
cối, chày. Ngoài ra, các di tích sinh hoạt được ghi nhận
qua những thanh gỗ nhỏ có gia công, thanh củi cháy dở
bên cạnh nồi nấu và những phế thải như xương cá, xương
lợn, trâu bò, vỏ dưa, trái cây. Những hạt lúa cổ
cũng được tìm thấy ở di chỉ khảo cổ Nền Chùa, Kiên Giang
(Viện Khảo Cổ Học, 2002). Các mảnh vàng lá có trang trí
và khắc minh văn như hình động vật, hình thảo mộc… Điều
này cho thấy các cư dân Óc Eo sống ngoài các đô thị với
nghề nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước, dùng sức
kéo trâu bò, chăn nuôi, làm vườn, săn bắt, đi biển…
Do
ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, tôn thờ đạo Ấn Giáo và Đạo
Phật, những cuộc giao thương với các thuyền bè ngoại
quốc, gồm cả Việt Nam, Trung Hoa…, cư dân nền văn hóa Óc
Eo có trình độ trồng lúa nước tiến bộ cũng gần giống với
dân tộc Chăm, Ấn Độ và Việt Nam. Có lẽ phần lớn họ chỉ
trồng lúa nhờ nước trời và một số nơi trồng lúa tưới
tiêu khi có hệ thống thủy lợi. Khi mưa rơi vài đám,
ruộng bắt đầu ngập nước, cư dân dùng chiếc phảng dọn cỏ
lát, dùng sức kéo trâu bò hoặc dùng chân người và thú để
làm nhuyển đất trước khi gieo hạt lúa. Đây là vùng
nông nghiệp dùng phảng, đặc trưng của ngành trồng
lúa nước người Khmer bấy giờ. Họ chưa biết dùng phân hữu
cơ, nhưng biết chăm sóc ruộng lúa, đặc biệt nhổ cỏ dại
cho đến khi thu hoạch. Phần lớn họ trồng lúa một mùa mỗi
năm vào mùa mưa để cung cấp thực phẩm cho gia đình và
trao đổi hàng hóa khác ở đô thị. Tuy nhiên, nước Phù Nam
không những chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa của Ấn Độ, mà
họ còn học hỏi được kỹ thuật dẫn thủy nhập điền
của nước này. Di chỉ Óc Eo ở Ba Thê cho thấy nơi này có
nhiều kinh rạch, cho nên nông dân tại đây có thể biết
trồng lúa 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) vào những thế kỷ
đầu Công Nguyên, như đã thấy ở nền nông nghiệp thâm canh
lúa của Ấn Độ (Royal Exclusive Travel, 2007) và nước
Chiêm Thành.
Tóm lại, sau khi nước Phù Nam suy tàn từ giữa thế kỷ
VII, dân tộc Khmer chiếm lĩnh đất đai, ưa thích cư trú
và sinh hoạt trên các vùng đất cao (Lục Chân Lạp); trong
khi vùng đất thấp trũng, nhiều sông rạch và đầm lầy
(Thủy Chân Lập) bị bỏ hoang sau nhiều năm ngập lụt.
Ngành trồng lúa nước sâu ở một số vùng của nền văn
hóa Óc Eo (ĐBSCL) lần lượt biến mất, rừng hoang phát
triển theo thời gian cho đến khi phong trào Nam tiến
khai khẩn đất mới được Chúa Nguyễn đàng trong phát động
từ thế kỷ XVII. Các di dân (Việt Nam, Trung Hoa,
Chàm) thường dùng đường biển để đến cư trú và khai thác
đất mới, đầu tiên các vùng đất hoang ven biển thuộc Miền
Đông Nam Phần (Mô Xoài/Bà Rịa, Đồng Nai/Biên Hòa) và sau
đó các nơi khác ĐBSCL (Gò Công, Định Tường, Vĩnh Long,
Hà Tiên…).
Sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp không ngừng
phát triển hệ thống kinh rạch ở Miền Tây Nam Phần để
tăng gia sản xuất lúa gạo phục vụ xuất khẩu, mở rộng
đường giao thông và củng cố an ninh vùng. Đầu thế kỷ 20,
người Pháp mới bắt đầu khai thác một số khu vực Đồng
Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên để trồng lúa nổi sau khi
nhập nội trồng thành công các giống lúa Cao Mên và Thái
Lan.
7. Kết Luận
Các cuộc nghiên cứu khảo cổ học nhiều năm đã phát hiện
một số lượng lớn, phong phú những di vật với chất liệu
đá, đồng, sắt, gốm, xương… ở nhiều di chỉ khảo cổ khác
nhau, cho biết rằng cư dân đã đến cư ngụ khá đông đảo ở
Miền Đông Nam Phần cách nay ít nhứt 4000 năm. Họ gồm
nhiều sắc tộc đến chiếm lĩnh hoặc lập nghiệp. Ngoài ra,
các di vật bằng đá thô sơ cũng được tìm thấy, dù còn ít,
cho thấy vùng này đã trải qua giai đoạn thời đại sơ kỳ
đá cũ, nhưng cần có thêm các nghiên cứu và khai quật mới
để tìm các di vật chứng minh.
Vào thời đại kim khí, cư dân ở lưu vực sông Đồng Nai
đông đảo hơn, với đời sống ổn định, tập trung ở các làng
ấp, sống với nghề nông nghiệp dùng cuốc tiến bộ,
chủ yếu trồng lúa, làm vườn. Họ trồng lúa rẫy trên đất
cao, lúa nước ở đất thấp, chăn nuôi, đánh cá, săn bắt và
hái lượm, thủ công nghệ, thương mại…
Tiếp theo, nền văn hóa Óc Eo thịnh vượng xuất hiện khắp
Nam Phần, nhưng tập trung ở Miền Tây từ vài thế kỷ trước
CN và chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Ấn Độ. Họ
có đời sống văn minh sớm với các công trình kiến trúc
gạch đá ở đô thị, nhà sàn trên đất ngập nước, sống với
nghề nông nghiệp lúa nước, đánh bắt cá, làm vườn, chăn
nuôi và thương mại, đồng thời mở rộng giao dịch buôn bán
từ Á sang Âu. Nhiều di vật tìm thấy cho biết cư dân
nguồn gốc Đảo Biển đến ở ĐBSCL cách nay ít nhứt 2.600
năm, trước hết khai thác nông nghiệp trên các đất giồng
cao có nước ngọt quanh năm, sau tiến dần đến các đầm lầy
trũng thấp với nghề trồng lúa dùng phảng chủ yếu.
Trần Văn Đạt, Ph.D.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1)
Barthère, F. 1911. Sur quelques gisements de la province
de Bien Hoa. Notes pour servir à l'étude du
Préhistorique Indochinois. Mémoires de la Société
archéologique de la Provence, tome II. Suppl. No.
11. Marseille.
2)
Carbonnell et Pompeau, 1969. Premier élément de datation
absolu par traces de fission des basalts de l'Indochine
méridional. Earth and Planritary Science Letters 6,
Amterdam.
3)
Corré, A. 1880. Recherches relative à l'Âge de la Pièrre
polie. Reconnaissance, No. 1 et 3. Saigon.
4)
EFEO, 2007. École Française d'Extrême-Orient- History,
Paris (http://www.iias.nl/iiasn/iiasn2/general/ecole.txt)
5)
Fountaine, H. 1972. Nouveau champ de jarres dans la
province de Long Khanh, BSEI, tome XLVII, No. 3,
p. 397-486.
6)
Fountaine, H. 1975. Nouvelles récoltes d'objets
préhistoriques, BSEI, No. 1, p. 75-140.
7)
Fontaine, H. và Hoàng Thị Thân, 1975. Nouvelles notes
sur le champ de jarres funèraires de Phu Hoa avec une
remarque sur la crémation au Vietnam, BSEI, tome
I, No.1, Sai Gon, p. 7-50.
8)
Grossin, D. 1902. Note sur une feuille faite dans l'Ile
de Cu Lao Rua, près de Bien Hoa. BEFEO, No. 3, p.
282-284.
9)
Hamy, E. T. 1897. L'Âge de la Pièrre dans
l'arrondissement de Bien Hoa. Bulletin du Musée d'
Histoire Naturelle, tome III, p. 48-52.
10)
Hoàng Xuân Chinh, 1978. Thời đại đá ở các tỉnh phía Nam.
Khảo Cổ Học, số 1, tr. 29-34.
11)
Holbé, T.V., 1889. Station préhistorique de My Loc,
province de Bien Hoa (Cochinchine). BSA, No. 12,
p. 108-112.
12)
Jansé, O. 1958. Archaeological Research in Indochina.
Vols. I-II, Cambridge 1947, Vol. III, Bruges.
13)
Lưu
Tỳ, Nguyễn Thế Tiếp, Nguyễn Tú Dân và Ngô Thị Hồng.
1985. Đặc điểm địa mạo thềm lục địa Việt Nam và các vùng
kế cận. Khảo Cổ Học, sp 61 2-1985.
14)
Malleret, L. 1959. La civilization Dongsonien d'après
les recherches de M.O. Jansé. FA. No. 160-161:
9-10.
15)
Malleret, L. 1963. L'archéologie du delta du Mékong.
BEFEO, tome XLIII, 1959-1962. Paris.
16)
Nguyễn Đổng Chi, 1976. Về một hiện vật thuộc thời đại đá
cũ tìm thấy ở Xuân Lộc. NPHM, Viện Khảo Cổ Học.
17)
Nguyễn Phan Quang & Võ Xuân Đàn, 2.000. Lịch sử Việt
Nam - Từ nguồn gốc đến năm 1884. NXB T.P. Hồ Chí
Minh, 479 tr.
18)
Nguyễn Thị Kim Dung, Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền,
Nguyễn Thị Hậu và Trịnh Căn, 1995. Đồ trang sức trong mộ
chum ở Cần Giờ. Khảo Cổ Học, số 2, tr. 27-45.
19)
Nguyễn Văn Long và Lê Trung Khá, 1977. Về những hiện vật
đá cũ tìm được ở Vườn Dũ (Sông Bé) và Gia Tân (Đồng
Nai). Khảo Cổ Học, số 4 (1977).
20)
Nguyễn Văn Ngưu. 2002. Rice production in Viet Nam -
Historical, cultural and technical perspectives, pp 155
(manuscript).
21)
Phạm
Hùng, 1978. Kết quả khảo sát địa chất địa mạo các di
tích khảo cổ ở miền Đông Nam Bộ. Những phát hiện mới
về khảo cổ học miền Nam 1978. TP HCM.
22)
Phạm
Đức Mạnh, 1996. Những phát hiện mới về khảo cổ học tiền
sử và sơ sử. Trong NPHM, Viện Khảo Cổ Học, năm
1996, tr. 238-239.
23)
Phạm
Đức Mạnh, 1997. Tiền sử và sơ sử Đông Nam Bộ (Việt Nam)
- Những nhận thức quá khứ và hiện đại. Trong Một số
vấn đề khảo cổ học ở Miền Nam Việt Nam. NXB Khoa
Học Xã Hội, tr 242-292.
24)
Phạm
Quang Sơn, 1978. Bước đầu tìm hiểu sự phong phú văn hóa
hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ở lưu vực sông Đồng Nai.
Khảo Cổ Học, số 1, tr. 35-40.
25)
Royal Exclusive Travel, 2007. Influence of Indian
Civilization on Khmer: History of Cambodia (www.cambodia-travel.com/khmer/indian-civilization.htm).
26)
Saurin, E. 1963. La station préhistoriue de Hang Gon
près Xuan Lộc (Sud Viet Nam). BEFEO, tome LI.
Paris.
27)
Saurin, E. 1968. Station préhistorique à ciel-ouvert
dans le Passif du Pah Xieng Tong (Laos). Asian and
Pacific Archaeology Series, No. 2, ed. W.G. Solheim
II, University of Hawaii, Honolulu, p. 87-95.
28)
Saurin, E. 1973. Le Champ de jarres à Hang Gon près de
Xuan Loc (Sud Vietnam). BEFEO, tome LXI.
29)
Stark, M. 1999. Introduction to the lower Mekong
archaeological project.
http://www.btinternet.com/~andy.brouwer/aborei.htm.
30)
Tổng Cục Thống Kê (GSO). 2006. Số liệu
thống kê - Nông nghiệp.
http://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217
31)
Viện
Khảo Cổ Học. 1998. Khảo Cổ Học Việt Nam, Tập I: Thời
đại đá Việt Nam. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 457
tr.
32)
Viện
Khảo Cổ Học, 1999. Thời Đại Kim Khí Nam Bộ. Khảo Cổ
Việt Nam, Tập II. NXB Khoa Học Xã Hội, tr 349-398.
33)
Viện
Khảo Cổ Học, 2002. Khảo cổ học Óc Eo. Khảo Cổ Học
Việt Nam, Tập III, NXB Khoa Học Xã Hội, tr 369-405.
34)
Võ
Sĩ Khải. 2002. Văn hóa đồng bằng Nam Bộ (Di tích
kiến trúc cổ). NXB Khoa Học Xã Hội, 426 tr.
35)
Wikipedia. 2007. Acheuléen. (http://fr.wikipedia.org/wiki/Acheul%C3%A9en).