Vì thế, khi thế giới càng phát triển các
khâu công nghiệp, địa ốc, dịch vụ… ngành nông nghiệp
càng giảm bớt tầm quan trọng kinh tế, nhưng vẫn còn
thiết yếu về chính trị và xã hội, nhứt là an ninh lương
thực quốc gia. Theo tiến trình phát triển thế giới, sự
đóng góp của ngành nông nghiệp vào nền kinh tế quốc gia
giảm dần khi nền kinh tế trong nước lớn mạnh. Từ năm
1965 đến 2004, đóng góp nông nghiệp vào GDP (Gross
domestic product) của Trung Quốc giảm từ 37,9% xuống
13,1%, Ấn Độ từ 44,9% xuống 21,1%, Indonesia từ 56%
xuống 15,4%, Malaysia từ 28,8% xuống 9,5%, Đại Hàn từ
39,4% xuống 3,7%, Philippines từ 25,9% xuống 13,7%, Thái
Lan từ 31,9% xuống 10,1% và Brazil từ 18,7% xuống 10,4%.
Riêng nước Mỹ từ 1974 đến 2004 giảm từ 4,3% xuống dưới
1% và Việt Nam từ 1985 đến 2006 giảm từ 40,2% xuống
20,4% (WRI, 2007 và Tổng cục Thống kê, 2006).
Một điều hiển nhiên là ngành nông nghiệp thường mang lợi
tức đến nông dân kém hơn các ngành nghề khác vì sản xuất
kém hữu hiệu và do chính sách nhà nước; nhưng ngành này
cung cấp quan trọng nguồn thực phẩm, lợi tức, việc làm
và nguồn đầu tư cho đa số quần chúng nông thôn. Vì thế,
các nước tiến bộ đã có chính sách hỗ trợ nông nghiệp to
lớn để sản xuất lương thực giá rẻ cho giới tiêu thụ
trong nước, đồng thời hỗ trợ nông dân có lợi tức hàng
năm cao để san bằng giai cấp xã hội. Trong khi các nước
đang phát triển không có đủ khả năng tài chánh để làm
như vậy đến nơi đến chốn; cho nên thành phần nông dân
luôn có đời sống thấp kém hơn các ngành phi nông nghiệp.
Thách thức lớn nhứt cho các nước này là làm sao tăng
năng suất, lợi tức và sự bền vững cho nông nghiệp để góp
phần hữu hiệu cho nền kinh tế quốc gia, giảm thiểu nghèo
khó, bảo đảm an toàn lương thực căn bản, và sử dụng lâu
dài nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề bao cấp
nông nghiệp không công bình dù đã sản xuất lương
thực giá rẻ, nhưng đã tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo
giữa các nước trên thế giới ngày càng lớn thêm.
Ở
mỗi nước, chính sách bao cấp nông nghiệp luôn không minh
bạch, được che giấu dưới nhiều hình thức, ngay cả tại
các nước công nghiệp giàu có. Chánh sách nông nghiệp của
30 nước giàu trên thế giới, gọi là Tổ chức Hợp tác Kinh
tế và Phát triển OECD (Organization for Economic
Co-operation and Development), luôn tiếp tục chuyển một
số tiền khổng lồ đến các nhà sản xuất nông nghiệp để
giúp họ tồn tại, đồng thời sản xuất lương thực giá rẻ,
nâng cao đời sống nông dân để bắt kịp người đô thị, và
tạo nên phong cảnh thiên nhiên, không gian an lành cho
xã hội. Trong năm 2004, số tiền bao cấp cho nông nghiệp
thế giới lên đến 279,5 tỉ Mỹ kim (hay 30% tổng lợi tức
nông nghiệp), trong đó Liên Âu chi 133,4 tỉ (33% tổng
lợi tức nông nghiệp), Mỹ 46,5 tỉ (18%), Nhựt 48,7 tỉ
(56%), Đại Hàn 19,8 tỉ (63%) và Úc 1,1 tỉ Mỹ kim (4%
tổng lợi tức nông nghiệp) (Griswold et al.,
2005). Hơn nữa, nhờ chính sách hỗ trợ này nền nông
nghiệp của các nước giàu có trong khối OECD đã phát
triển liên tục về mặt kỹ thuật, quản lý và cải tiến hiệu
năng sản xuất cùng chất lượng.
Tại Hoa Kỳ,
chánh sách bao cấp nông nghiệp được thực hiện bởi các
luật lệ đặt ra kể từ năm 1933 (Agicultural Adjustment
Act), nhằm khuyến khích phát triển các nông trại lớn.
Từ 1996 đến 2002, số tiền bao cấp trung bình hàng năm độ
16 tỉ Mỹ kim theo báo cáo chính thức của chính phủ.
Chương trình hỗ trợ nông nghiệp của Mỹ đã cấp cho nông
dân một số tiền mặt, tín dụng bảo trợ và bảo đảm giá
sàn hay giá tối thiểu cho nông sản, không kể đến trợ
cấp xuất khẩu. Các nông sản được bao cấp gồm có ngũ cốc
chăn nuôi, lúa mì, lúa gạo, bông vải, thuốc lá, sữa,
thịt, đậu nành, cây có dầu, đậu phọng, đường, mật, lông
cừu, sản phẩm dầu thực vật và các hoa màu khác. Chẳng
hạn đối với lúa gạo, Mỹ đã chi 1,3 tỉ Mỹ kim cho hỗ trợ
lợi tức nông dân trong 1999 - 2000, khi trị giá tổng sản
lượng lúa gạo sản xuất trong thời gian này là 1,2 tỉ Mỹ
kim (Griswold et al., 2005). Kết quả của chương
trình này đã làm cho sản xuất nông phẩm dư thừa, nên giá
thức ăn hạ thấp, vì tiền trả cho nông dân luôn cao hơn
giá của thị trường tự do. Cho đến 2007, giới tiêu thụ
chi tiền cho lương thực hàng ngày ít hơn trước kia. Năm
1929, trước khi nông nghiệp được trợ cấp, người Mỹ dành
23,9% lương của họ cho thức ăn, đến 1997 chỉ còn 10,7%
mà thôi; nhưng họ phải chi tiêu nhiều hơn cho các dịch
vụ khác như nhà cửa, di chuyển, giải trí… (Wikipedia,
2007).
Liên Âu đã
thiết lập Chính sách Nông nghiệp chung còn gọi là CAP
(Common Agricultural Policy) từ đầu thập niên 1960s nhằm
bảo vệ biên giới và tạo ra cơ chế bao cấp cho ngành nông
nghiệp. Để tránh thiếu thực phẩm, Liên Âu thực hiện
chính sách tiến đến tự túc và bảo vệ thị trường nội địa
ổn định. CAP bảo trợ nông nghiệp qua ba hình thức: hỗ
trợ giá nội địa, bao cấp xuất khẩu và giúp đỡ trực tiếp
(cấp tiền) để đền bù lợi tức bị mất mát. Chẳng hạn, mỗi
con bò sữa nhận được bao cấp đến 2,70 Mỹ kim mỗi ngày,
nghĩa là hơn gấp đôi lương một ngày của một nông dân
nghèo. Do đó, Liên Âu sản xuất sữa bột dư thừa nên phải
xuất khẩu với giá rẻ, làm ảnh hưởng không ít đến ngành
sản xuất sữa bột ở một số nước đang phát triển như Ấn
Độ, Jamaica… (Sharma, 2003). Cũng vậy đối với trường hợp
mía đường và một số nông sản khác (Oxfam, 2002).
Nhựt Bổn và Đại Hàn
có chương trình bao cấp nông nghiệp lớn không ngờ. Họ hỗ
trợ cho ngành nông nghiệp lớn hơn sự đóng góp của ngành
này vào nền kinh tế quốc gia. Trong năm 2000, tổng số
tiền bao cấp cho nông nghiệp tại Nhựt Bổn chiếm 1,4%
GDP, khi ngành này chỉ góp vào 1,2% GDP (Griswold et
al., 2005). Chẳng hạn, chính phủ mua lúa gạo từ nông
dân với giá gấp 7-8 lần cao hơn giá thế giới. Vì thế,
mọi người đua nhau sản xuất lúa, nhưng đa số nông dân
chỉ là những người thành thị làm nghề nông bán thời
gian. Chính sách bao cấp của Nhựt không làm giảm các hộ
nông dân nhỏ, ngược lại còn gia tăng thêm. Khi đến xứ
Nhựt chúng ta vẫn còn thấy những ruộng lúa nhỏ độ vài
trăm m2 và có khi nằm rải rác trong các thung
lũng cao, trên đồi núi ở các vùng xa xôi.
Một nghiên cứu của IMF (Paiva,2005) cho biết những nước
giàu có với lợi tức mỗi đầu người lớn hơn 10.000 Mỹ kim
mỗi năm có khuynh hướng ít nhập khẩu hàng hóa nông
nghiệp hơn mong đợi, vì họ điều tiết các giao dịch
thương mại. Hơn nữa, các nước thuộc NAFTA (North
American Free Trade Agreement) và Liên Âu còn xuất khẩu
nông sản nhiều hơn các nước đang phát triển vì sự hỗ trợ
to lớn cho các hoạt động nông trại. Các nước kỹ nghệ lại
có khuynh hướng trao đổi các nông sản với nhau, qua các
thỏa hiệp cho hàng rào quan thuế thấp hoặc miễn thuế,
đặc biệt ở các nước Liên Âu.
Những nước đang phát triển thường có chương trình bao
cấp cho nông nghiệp chỉ độ 10% trị giá tổng sản lượng
nông nghiệp quốc gia hoặc ít hơn. Theo báo cáo trong
1996, Brazil trợ cấp 3.235 triệu Mỹ kim, Thái Lan 2.616
triệu Mỹ kim, Venezuela 1.450 triệu Mỹ kim, Nam Phi
1.179 triệu Mỹ kim và Colombia 723 triệu Mỹ kim (Centad,
2007).
Do
các chương trình hỗ trợ nông nghiệp vĩ đại, giá lương
thực tại các nước công nghiệp luôn ở mức thấp. Chẳng hạn
ở Mỹ, theo thống kê của Tổ chức FAO, giá (người
sản xuất) của một số nông phẩm chủ yếu trong thời gian
15 năm qua (1991-2005) tăng tương đối thấp, như thịt bò
(24%), thịt gà (38%), sữa (23%), khoai tây (39%), lúa mì
(15%), và táo (8%); nhưng không thay đổi hoặc có khuynh
hướng giảm đôi chút như: bắp, gạo, đậu nành, cam và
đường. Ở các nước đang phát triển, cũng có cùng khuynh
hướng giá cả như thế. Tại Thái Lan, giá của một
số nông sản như thịt bò, thịt gà, sữa, bắp, gạo, đậu
nành, đường dường như không thay đổi nhiều; nhưng đậu
nành, khoai tây, cam có khuynh hướng thuyên giảm chút ít
(FAOSTAT, 2008). Nếu kể thêm yếu tố lạm phát mỗi năm,
sản xuất của nông dân tại các nước đang phát triển bị
thiệt thòi rất lớn khi so sánh với các ngành nghề khác,
vì họ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết của chính phủ
để theo kịp với người thành thị như các nước tiến bộ
đang làm.
Giả thử nếu không còn bao cấp ở các nước phát triển, nền
nông nghiệp của họ sẽ ra sao? Hoạt động ngành này sẽ
giảm bớt dần đến mức tối thiểu, vì không thể cạnh tranh
với sản phẩm giá rẻ của các nước đang phát triển do giá
nhân công thấp, đồng thời giá thực phẩm sẽ cao hơn mức
hiện nay. Nông nghiệp là nguồn kinh tế chủ lực của các
nước đang phát triển, cho nên họ đã và đang phản
đối chương trình trợ cấp nông nghiệp to lớn của các nước
giàu mạnh trên diễn đàn quốc tế. Theo nghiên cứu
của Ngân Hàng Thế giới, nếu bao cấp hoàn toàn bị bãi bỏ
ở các nước giàu có, thương mại nông nghiệp sẽ tăng 17%
và xuất khẩu nông nghiệp của các nước có lợi tức thấp và
trung bình có thể tăng 24%; cho nên, tổng số lợi tức
hàng năm của các nước này có thể tăng đến 60 tỉ Mỹ kim
hay độ 6% (Centad, 2007).
Vì
thế, Thỏa hiệp Tổng thể Mậu dịch và Thuế khóa còn gọi
GATT (General Agreement on Trade and Tariffs) đã
được khởi sự từ năm 1947 về các vấn đề trao đổi thương
mại thế giới, nhưng việc thảo luận chỉ thật sự bắt đầu
tại xứ Uruguay, Nam Mỹ từ năm 1986, được gọi là “Vòng
Uruguay” và cuối cùng đồng ý chấp thuận vào 1992. Thỏa
hiệp này được 117 quốc gia ký kết ở Marakette, Ma rốc
vào ngày 15-4-1994, với mục đích chính giảm thiểu bao
cấp nội địa, cải thiện thương mại, giảm bớt cạnh tranh
xuất khẩu và chấp nhận biện pháp kiểm tra vệ-sinh thảo
mộc. Nay Thỏa hiệp GATT đã trở thành Tổ chức Thương mại
Thế giới WTO (World Trade Organization).
Vào tháng 11 năm 2001, cuộc Họp cấp Bộ Trưởng lần Thứ Tư
ở Doha, xứ Qatar (hay Vòng Đàm Phán Doha) đã chấp
thuận cuộc thương thuyết về một số vấn đề, trong đó có
nông nghiệp và dịch vụ đã khởi sự từ 2000. Tại Doha, các
Bộ Trưởng cũng nhận thức những vấn đề khó khăn xảy đến
cho các nước đang phát triển trong khi thi hành các thỏa
hiệp WTO. Sau đó, vấn đề bao cấp nông nghiệp được các
cuộc Họp cấp Bộ Trưởng thảo luận tiếp theo rất gay go ở
Cancún (Mexico) trong 2003, Geneva (Thụy Sĩ) trong 2004,
và Hồng Kông trong 2005; nhưng chưa đạt được kết quả
mong muốn.
Ba
nước Brazil, Trung Quốc và đặc biệt Ấn Độ đã đứng ra đại
diện cho thế giới đang phát triển để đòi hỏi các nước
công nghiệp giảm bớt bao cấp trong ngành nông nghiệp
nhằm tạo thế cạnh tranh công bằng quốc tế; nhưng các
nước giàu mạnh này chống đối mãnh liệt. Hội đồng Khoáng
đại của WTO vào ngày 27-28 tháng 7 năm 2006 đã đồng ý đề
nghị của Tổng Giám Đốc Pascal Lamy tạm ngưng Vòng đàm
phán Doha vì các bất đồng trong vấn đề nông nghiệp còn
quá lớn. Đến nay, cũng chưa có quyết định ngày tái họp
để thảo luận.
Hiện nay “công thức Thụy Sĩ” về bao cấp
nông nghiệp đang được nhiều nước chú ý và thảo luận,
trong đó trợ cấp nội địa giảm xuống đến mức bằng 5% trị
giá của tổng sản xuất nông nghiệp cả nước. Mỹ đã hứa sẽ
tiến đến công thức này, còn Liên Âu và Nhựt Bổn còn cố
bảo vệ bao cấp qua cổ súy giá trị đa năng của nền
nông nghiệp. Riêng Liên Âu có đề nghị (còn các hội
viên chấp thuận) giảm trả tiền trực tiếp cho nông dân 3%
mỗi năm cho đến tổng cộng 20%. Đề nghị này cũng chỉ nhằm
ấn định trả tiền trực tiếp đến 300.000 euros cho mỗi
nông trại!
Nhưng, thế giới xảy đến cuộc khủng hoảng tín
dụng, làm suy thoái sức mạnh nền kinh tế Mỹ và đồng Mỹ
kim; vì thế giá dầu thô tăng cao không phanh, lạm phát
hoành hành nhiều nơi, làm tăng giá các khu vực liên hệ,
trong đó có các loại thực phẩm chủ yếu. Kể từ 2007, giá
lương thực lên cao không được bình thường, tăng nhanh
trong 3 tháng đầu 2008 và đột biến nhảy vọt gấp 2-3 lần
giá đầu năm vào cuối tháng tư 2008, do tâm lý hoảng hốt
của giới tiêu thụ và nạn đầu cơ thương mại, tạo ra cuộc
khủng hoảng lương thực hiếm thấy trên thế giới. Chẳng
hạn, giá gạo thế giới tăng từ 334 Mỹ kim trong 2007 lên
575 trong tháng 2-2008, 602 trong tháng 3 và trên 1.000
mỹ kim/tấn vào cuối tháng 4. Tương tự, giá các loại
lương thực khác như lúa mì, bắp, đậu nành; các loại phân
hóa học như Urea, Kali cũng tăng cao không kém.
Với sự can thiệp của cộng đồng quốc tế và các biện pháp
xử lý mạnh tạm thời trong nhiều nước, đồng thời vụ lúa
đang thu hoạch vào tháng 5-6 ở Ấn Độ, Bangladesh,
Brazil, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và Uruguay, giá
gạo không còn tăng cao đột ngột mỗi ngày, có vẻ chậm lại
để trở về giá trị hợp lý của chúng theo phản ứng kinh tế
thị trường. Tuy nhiên, giá lương thực có thể không trở
lại ngay vị trí cũ của năm qua, vì các nhập lượng trợ
nông đều tăng giá do giá dầu phi mã và nạn lạm phát còn
đó. Ngoại trừ trường hợp có sự can thiệp mạnh của các
nước giàu với các biện pháp hỗ trợ tích cực, hoặc nếu
ngành nông nghiệp được mùa trong nhiều năm liên tiếp sắp
tới. Thời đại lương thực giá rẻ vẫn còn nằm trong tay
các nước phát triển và tùy thuộc vào chính sách, quản lý
thị trường của các nước đang phát triển đối với quyền
lợi nông dân và giới tiêu thụ nghèo (đa số là nông dân).
Theo tiên đoán sơ khởi của Tổ chức FAO, sản lương lúa
thế giới trong 2008 có thể tăng 1,8% so với 2007 (1%).
Do đó, giá gạo thế giới sẽ hạ nhiệt phần nào vào những
tháng tới.
Giá gạo ở các siêu thị vùng Little Saigon, Cali (Mỹ) đã
tăng độ 80-100% so với đầu năm và còn giữ ở mức này vào
đầu tháng 5-2008, sau một đợt biến động ngắn. Tại Việt
Nam, do tin đồn đãi giá gạo bổng nhiên tăng đột biến
trong 2 ngày vào cuối tháng 4-2008, sau đó với sự can
thiệp mạnh của nhà nước và vụ lúa Đông - Xuân đang được
thu hoạch, giá gạo giảm xuống ít nhiều, nhưng chưa trở
lại giá trước khi có cuộc khủng hoảng lương thực thế
giới. Giá gạo thông dụng trước là 8.500-9.000$/kg, nay
ổn định lên 12.000-13.000$, gạo thơm Thái Lan Khao Dawn
Mali từ 15.000 lên 20.000$ hoặc hơn (liên lạc với anh
Trần Cảnh Thu ở Sài Gòn, 4-5-08). Tuy nhiên giá phân
nhập nhứt là phân Urea và Kali vẫn còn lên cao. Do đó,
cần phải có cơ chế ấn định hệ số cân bằng giữa giá
phân và giá lúa khi có biện pháp bình ổn giá cả thị
trường để bảo vệ lợi tức nông dân và giới tiêu thụ nghèo.
Cũng cần nhắc lại vào tháng 10-1973, thế
giới xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trầm trọng do
khối OPEC Ả Rập không xuất khẩu dầu thô đến Mỹ và các
nước Tây Âu vì ủng hộ Do Thái, làm giá dầu thô tăng quá
cao, gây nạn lạm phát hai con số và giá lương thực thế
giới tăng lên như hiện nay (Horton, 2004). Chẳng hạn,
giá gạo Thái bình quân tăng lên cao nhứt là 750 Mỹ kim
mỗi tấn (gạo thơm trên 1.000 Mỹ kim). Tại Bangladesh,
nạn đói kém đã gây thiệt mạng đến 1,5 triệu người trong
1974 (Quddus and Becker, 2000). Nhưng khi cuộc khủng
hoảng đi qua, giá thực phẩm trở về vị trí cũ - thấp và
rẻ cho đến năm 2007 mặc dù giá dầu thô tiếp tục lên cao
(từ 30 cents lên trên 1$US), vì vào lúc đó cuộc Cách
Mạng Xanh đang bành trướng, sản xuất nông sản tăng mạnh
trên thế giới, đồng thời các nước công nghiệp tiếp tục
đẩy mạnh chính sách trợ cấp nông nghiệp cho đến nay. Giá
gạo trở lại khoảng 250-350 Mỹ kim/tấn cho đến 2007.
Hy
vọng rằng sau cuộc khủng hoảng lương thực thế giới này,
các nước công nghiệp sẽ thay đổi phần nào quan niệm về
một nền nông nghiệp thế giới công bình hơn trong thời
đại toàn cầu hóa hợp lý. Hiện nay, thế giới chưa thấy
xuất hiện cuộc Cách Mạng Xanh khác và chính sách trợ cấp
nông nghiệp của các nước giàu này đang bị cộng đồng thế
giới chỉ trích. Vì thế, ngày 29-4-2008, Ông Jacques
Diouf, Tổng Giám Đốc Tổ chức FAO đã kêu gọi “thế
giới phải biết tận dụng cơ hội này để trợ giúp nông dân
ở các nước đang phát triển, những đối tượng từng phải
gánh chịu tình trạng giá lương thực rẻ mạt, tránh rơi
vào hoàn cảnh tương tự trong tương lai. Đây là thời điểm
thích hợp để khởi động ngành nông nghiệp và thế giới
đừng để lỡ mất cơ hội này.”
Cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay có thể
đánh thức lương tâm các nhà làm chính sách của các nước
tiến bộ, đặc biệt khi họ quan tâm đến nền nông nghiệp
bản xứ cũng không nên quên còn có một thế giới khác mà
nông nghiệp là thế mạnh, đang có đời sống xã hội quá
thấp kém, cần có điều kiện cho thế đứng cạnh tranh công
bình để cùng tiến bộ bắp kịp các nước giàu mạnh đi
trước. Chính phủ của các nước đang phát triển cần chú
trọng nhiều hơn đến ngành nông nghiệp bản xứ, qua nỗ lực
đầu tư nhiều hơn và cung cấp hỗ trợ phù hợp với đòi hỏi
WTO, bao gồm phát triển hạ tầng cơ sở nông nghiệp (đường
sá, điện, thủy lợi), ứng dụng công nghệ mới, khảo cứu,
khuyến nông, cung cấp thông tin thị trường, và phát
triển nguồn nhân lực nông thôn hiện còn quá yếu kém.
Trần Văn Đạt, Ph. D.
7-5-2008
Tài liệu tham khảo:
1)
Centad (Centre for Trade and Development), 2007.
Agricultural subsidies:Facts and figures. Newsletter,
March 22, 2007, http://www.centad.org/relatedinfo9.asp.
2)
FAOSTAT, 2008. FAO statistics: Production
(http://faostat.fao.org/site/339/default.aspx).
3)
Griswold, D., Slivinski, S. and Preble, C. 2005. Ripe
for reform: Six good reasons to reduce US farm subsidies
and trade barriers. Trade Policy Analysis No. 30, CATO
Institute, 19 pages.
(http://www.freetrade.org/node/31).
4)
Horton, S. 2004. The 1973 oil crisis.
(http://www.ccds.charlotte.nc.us/History/MidEast/04/horton/horton.htm)
5)
Oxfam, 2002. Stop the dumping! How EU agricultural
subsidies are damaging livelihoods in the developing
world. Oxfam Briefing Paper, No. 31
(advocacy@oxfaminternational.org).
6)
Paiva, C. 2005. Assessment protectionism and subsidies
in agriculture: A gravity approach. IMF Workig Paper,
WP/05/21, 17 pages.
7)
Quddus, M. and Becker, C. 2000. Speculative price bubble
in the rice market and the 1974 Bangladesh famine. J. of
Economic Development, vol. (2) Dec. 2000.
8)
Sharma, D. 2003. Protecting agriculture:
“Zero-Tolerance” on farm subsidies. Global Policy Forum,
New York, gpf@globalpolicy.org.
9)
Tổng
cục Thống kê (GSO). 2006.
(http://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217).
10) Wikipedia. 2007. Agricultural subsidy. Wikipedia,
the free encyclopedia
(www.en.wikipedia.org/wiki/Agricultural_subsidies
(19/3/2007).
11) WRI (World Resources Institute). 2007. GDP: Percent
GDP from agriculture. Earth
Trends: Economics, Business, and the Environment,
http://earthstrends.wri.org/searchable_db/.