Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới:

Thời Đại Lương Thực Giá Rẻ và

Trợ Cấp Nông Nghiệp Còn Tiếp Tục?


 

Trần Văn Đạt, Ph.D.

15 tháng 05 năm 2008

Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thế giới với giá tương đối thấp và rẻ trong nhiều thập niên qua, so với các lãnh vực khác như công nghiệp, địa ốc, vận chuyển, dịch vụ…; nhờ đó, mang nhiều lợi ích cho giới tiêu thụ, nhứt là thành phần nghèo trong xã hội và người sống ở đô thị. Đó là do chính sách lương thực của các chính phủ gồm cả bao cấp, nhằm giữ giá thực phẩm căn bản ổn định và thấp để tránh những cơn xáo trộn, bất ổn xã hội như đã thấy trong cuộc khủng hoảng lương thực thế giới hiện nay. Trong khi đó, thành phần bị thiệt thòi nhứt khi các chính phủ thi hành chính sách này, là thành phần nông dân, những người sản xuất thực phẩm phục vụ con người, ngoại trừ nông dân tại các nước tiến bộ trở nên giàu có với chính sách trợ cấp to lớn của chính phủ họ. Còn nông dân ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Việt Nam chẳng hạn, đa số vẫn còn sống nghèo khó, cơ cực vì thiếu hỗ trợ thích đáng nhà nước; cho dù quốc gia họ xuất khẩu nông sản lâu đời. Đó là nghịch lý trong thời đại toàn cầu hóa hay khu vực hóa, mà các nước phát triển hiện nay cổ võ không ngừng.

 

            Vì thế, khi thế giới càng phát triển các khâu công nghiệp, địa ốc, dịch vụ… ngành nông nghiệp càng giảm bớt tầm quan trọng kinh tế, nhưng vẫn còn thiết yếu về chính trị và xã hội, nhứt là an ninh lương thực quốc gia. Theo tiến trình phát triển thế giới, sự đóng góp của ngành nông nghiệp vào nền kinh tế quốc gia giảm dần khi nền kinh tế trong nước lớn mạnh. Từ năm 1965 đến 2004, đóng góp nông nghiệp vào GDP (Gross domestic product) của Trung Quốc giảm từ 37,9% xuống 13,1%, Ấn Độ từ 44,9% xuống 21,1%, Indonesia từ 56% xuống 15,4%, Malaysia từ 28,8% xuống 9,5%, Đại Hàn từ 39,4% xuống 3,7%, Philippines từ 25,9% xuống 13,7%, Thái Lan từ 31,9% xuống 10,1% và Brazil từ 18,7% xuống 10,4%. Riêng nước Mỹ từ 1974 đến 2004 giảm từ 4,3% xuống dưới 1% và Việt Nam từ 1985 đến 2006 giảm từ 40,2% xuống 20,4% (WRI, 2007 và Tổng cục Thống kê, 2006).

 

Một điều hiển nhiên là ngành nông nghiệp thường mang lợi tức đến nông dân kém hơn các ngành nghề khác vì sản xuất kém hữu hiệu và do chính sách nhà nước; nhưng ngành này cung cấp quan trọng nguồn thực phẩm, lợi tức, việc làm và nguồn đầu tư cho đa số quần chúng nông thôn. Vì thế, các nước tiến bộ đã có chính sách hỗ trợ nông nghiệp to lớn để sản xuất lương thực giá rẻ cho giới tiêu thụ trong nước, đồng thời hỗ trợ nông dân có lợi tức hàng năm cao để san bằng giai cấp xã hội. Trong khi các nước đang phát triển không có đủ khả năng tài chánh để làm như vậy đến nơi đến chốn; cho nên thành phần nông dân luôn có đời sống thấp kém hơn các ngành phi nông nghiệp. Thách thức lớn nhứt cho các nước này là làm sao tăng năng suất, lợi tức và sự bền vững cho nông nghiệp để góp phần hữu hiệu cho nền kinh tế quốc gia, giảm thiểu nghèo khó, bảo đảm an toàn lương thực căn bản, và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề bao cấp nông nghiệp không công bình dù đã sản xuất lương thực giá rẻ, nhưng đã tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước trên thế giới ngày càng lớn thêm.

 

Ở mỗi nước, chính sách bao cấp nông nghiệp luôn không minh bạch, được che giấu dưới nhiều hình thức, ngay cả tại các nước công nghiệp giàu có. Chánh sách nông nghiệp của 30 nước giàu trên thế giới, gọi là Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD (Organization for Economic Co-operation and Development), luôn tiếp tục chuyển một số tiền khổng lồ đến các nhà sản xuất nông nghiệp để giúp họ tồn tại, đồng thời sản xuất lương thực giá rẻ, nâng cao đời sống nông dân để bắt kịp người đô thị, và tạo nên phong cảnh thiên nhiên, không gian an lành cho xã hội. Trong năm 2004, số tiền bao cấp cho nông nghiệp thế giới lên đến 279,5 tỉ Mỹ kim (hay 30% tổng lợi tức nông nghiệp), trong đó Liên Âu chi 133,4 tỉ (33% tổng lợi tức nông nghiệp), Mỹ 46,5 tỉ (18%), Nhựt 48,7 tỉ (56%), Đại Hàn 19,8 tỉ (63%) và Úc 1,1 tỉ Mỹ kim (4% tổng lợi tức nông nghiệp) (Griswold et al., 2005). Hơn nữa, nhờ chính sách hỗ trợ này nền nông nghiệp của các nước giàu có trong khối OECD đã phát triển liên tục về mặt kỹ thuật, quản lý và cải tiến hiệu năng sản xuất cùng chất lượng.

 

Tại Hoa Kỳ, chánh sách bao cấp nông nghiệp được thực hiện bởi các luật lệ đặt ra kể từ năm 1933 (Agicultural Adjustment Act), nhằm khuyến khích phát triển các nông trại lớn. Từ 1996 đến 2002, số tiền bao cấp trung bình hàng năm độ 16 tỉ Mỹ kim theo báo cáo chính thức của chính phủ. Chương trình hỗ trợ nông nghiệp của Mỹ đã cấp cho nông dân một số tiền mặt, tín dụng bảo trợ và bảo đảm giá sàn hay giá tối thiểu cho nông sản, không kể đến trợ cấp xuất khẩu. Các nông sản được bao cấp gồm có ngũ cốc chăn nuôi, lúa mì, lúa gạo, bông vải, thuốc lá, sữa, thịt, đậu nành, cây có dầu, đậu phọng, đường, mật, lông cừu, sản phẩm dầu thực vật và các hoa màu khác. Chẳng hạn đối với lúa gạo, Mỹ đã chi 1,3 tỉ Mỹ kim cho hỗ trợ lợi tức nông dân trong 1999 - 2000, khi trị giá tổng sản lượng lúa gạo sản xuất trong thời gian này là 1,2 tỉ Mỹ kim (Griswold et al., 2005). Kết quả của chương trình này đã làm cho sản xuất nông phẩm dư thừa, nên giá thức ăn hạ thấp, vì tiền trả cho nông dân luôn cao hơn giá của thị trường tự do. Cho đến 2007, giới tiêu thụ chi tiền cho lương thực hàng ngày ít hơn trước kia. Năm 1929, trước khi nông nghiệp được trợ cấp, người Mỹ dành 23,9% lương của họ cho thức ăn, đến 1997 chỉ còn 10,7% mà thôi; nhưng họ phải chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ khác như nhà cửa, di chuyển, giải trí… (Wikipedia, 2007).

 

Liên Âu đã thiết lập Chính sách Nông nghiệp chung còn gọi là CAP (Common Agricultural Policy) từ đầu thập niên 1960s nhằm bảo vệ biên giới và tạo ra cơ chế bao cấp cho ngành nông nghiệp. Để tránh thiếu thực phẩm, Liên Âu thực hiện chính sách tiến đến tự túc và bảo vệ thị trường nội địa ổn định. CAP bảo trợ nông nghiệp qua ba hình thức: hỗ trợ giá nội địa, bao cấp xuất khẩu và giúp đỡ trực tiếp (cấp tiền) để đền bù lợi tức bị mất mát. Chẳng hạn, mỗi con bò sữa nhận được bao cấp đến 2,70 Mỹ kim mỗi ngày, nghĩa là hơn gấp đôi lương một ngày của một nông dân nghèo. Do đó, Liên Âu sản xuất sữa bột dư thừa nên phải xuất khẩu với giá rẻ, làm ảnh hưởng không ít đến ngành sản xuất sữa bột ở một số nước đang phát triển như Ấn Độ, Jamaica… (Sharma, 2003). Cũng vậy đối với trường hợp mía đường và một số nông sản khác (Oxfam, 2002).

 

Nhựt Bổn và Đại Hàn có chương trình bao cấp nông nghiệp lớn không ngờ. Họ hỗ trợ cho ngành nông nghiệp lớn hơn sự đóng góp của ngành này vào nền kinh tế quốc gia. Trong năm 2000, tổng số tiền bao cấp cho nông nghiệp tại Nhựt Bổn chiếm 1,4% GDP, khi ngành này chỉ góp vào 1,2% GDP (Griswold et al., 2005). Chẳng hạn, chính phủ mua lúa gạo từ nông dân với giá gấp 7-8 lần cao hơn giá thế giới. Vì thế, mọi người đua nhau sản xuất lúa, nhưng đa số nông dân chỉ là những người thành thị làm nghề nông bán thời gian. Chính sách bao cấp của Nhựt không làm giảm các hộ nông dân nhỏ, ngược lại còn gia tăng thêm. Khi đến xứ Nhựt chúng ta vẫn còn thấy những ruộng lúa nhỏ độ vài trăm m2 và có khi nằm rải rác trong các thung lũng cao, trên đồi núi ở các vùng xa xôi.

 

Một nghiên cứu của IMF (Paiva,2005) cho biết những nước giàu có với lợi tức mỗi đầu người lớn hơn 10.000 Mỹ kim mỗi năm có khuynh hướng ít nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp hơn mong đợi, vì họ điều tiết các giao dịch thương mại. Hơn nữa, các nước thuộc NAFTA (North American Free Trade Agreement) và Liên Âu còn xuất khẩu nông sản nhiều hơn các nước đang phát triển vì sự hỗ trợ to lớn cho các hoạt động nông trại. Các nước kỹ nghệ lại có khuynh hướng trao đổi các nông sản với nhau, qua các thỏa hiệp cho hàng rào quan thuế thấp hoặc miễn thuế, đặc biệt ở các nước Liên Âu.

 

Những nước đang phát triển thường có chương trình bao cấp cho nông nghiệp chỉ độ 10% trị giá tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia hoặc ít hơn. Theo báo cáo trong 1996, Brazil trợ cấp 3.235 triệu Mỹ kim, Thái Lan 2.616 triệu Mỹ kim, Venezuela 1.450 triệu Mỹ kim, Nam Phi 1.179 triệu Mỹ kim và Colombia 723 triệu Mỹ kim (Centad, 2007).

 

Do các chương trình hỗ trợ nông nghiệp vĩ đại, giá lương thực tại các nước công nghiệp luôn ở mức thấp. Chẳng hạn ở Mỹ, theo thống kê của Tổ chức FAO, giá (người sản xuất) của một số nông phẩm chủ yếu trong thời gian 15 năm qua (1991-2005) tăng tương đối thấp, như thịt bò (24%), thịt gà (38%), sữa (23%), khoai tây (39%), lúa mì (15%), và táo (8%); nhưng không thay đổi hoặc có khuynh hướng giảm đôi chút như: bắp, gạo, đậu nành, cam và đường. Ở các nước đang phát triển, cũng có cùng khuynh hướng giá cả như thế. Tại Thái Lan, giá của một số nông sản như thịt bò, thịt gà, sữa, bắp, gạo, đậu nành, đường dường như không thay đổi nhiều; nhưng đậu nành, khoai tây, cam có khuynh hướng thuyên giảm chút ít (FAOSTAT, 2008). Nếu kể thêm yếu tố lạm phát mỗi năm, sản xuất của nông dân tại các nước đang phát triển bị thiệt thòi rất lớn khi so sánh với các ngành nghề khác, vì họ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết của chính phủ để theo kịp với người thành thị như các nước tiến bộ đang làm.

 

Giả thử nếu không còn bao cấp ở các nước phát triển, nền nông nghiệp của họ sẽ ra sao? Hoạt động ngành này sẽ giảm bớt dần đến mức tối thiểu, vì không thể cạnh tranh với sản phẩm giá rẻ của các nước đang phát triển do giá nhân công thấp, đồng thời giá thực phẩm sẽ cao hơn mức hiện nay. Nông nghiệp là nguồn kinh tế chủ lực của các nước đang phát triển, cho nên họ đã và đang phản đối chương trình trợ cấp nông nghiệp to lớn của các nước giàu mạnh trên diễn đàn quốc tế. Theo nghiên cứu của Ngân Hàng Thế giới, nếu bao cấp hoàn toàn bị bãi bỏ ở các nước giàu có, thương mại nông nghiệp sẽ tăng 17% và xuất khẩu nông nghiệp của các nước có lợi tức thấp và trung bình có thể tăng 24%; cho nên, tổng số lợi tức hàng năm của các nước này có thể tăng đến 60 tỉ Mỹ kim hay độ 6% (Centad, 2007).

 

Vì thế, Thỏa hiệp Tổng thể Mậu dịch và Thuế khóa còn gọi GATT (General Agreement on Trade and Tariffs) đã được khởi sự từ năm 1947 về các vấn đề trao đổi thương mại thế giới, nhưng việc thảo luận chỉ thật sự bắt đầu tại xứ Uruguay, Nam Mỹ từ năm 1986, được gọi là “Vòng Uruguay” và cuối cùng đồng ý chấp thuận vào 1992. Thỏa hiệp này được 117 quốc gia ký kết ở Marakette, Ma rốc vào ngày 15-4-1994, với mục đích chính giảm thiểu bao cấp nội địa, cải thiện thương mại, giảm bớt cạnh tranh xuất khẩu và chấp nhận biện pháp kiểm tra vệ-sinh thảo mộc. Nay Thỏa hiệp GATT đã trở thành Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (World Trade Organization).

 

Vào tháng 11 năm 2001, cuộc Họp cấp Bộ Trưởng lần Thứ Tư ở Doha, xứ Qatar (hay Vòng Đàm Phán Doha) đã chấp thuận cuộc thương thuyết về một số vấn đề, trong đó có nông nghiệp và dịch vụ đã khởi sự từ 2000. Tại Doha, các Bộ Trưởng cũng nhận thức những vấn đề khó khăn xảy đến cho các nước đang phát triển trong khi thi hành các thỏa hiệp WTO. Sau đó, vấn đề bao cấp nông nghiệp được các cuộc Họp cấp Bộ Trưởng thảo luận tiếp theo rất gay go ở Cancún (Mexico) trong 2003, Geneva (Thụy Sĩ) trong 2004, và Hồng Kông trong 2005; nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn.

 

Ba nước Brazil, Trung Quốc và đặc biệt Ấn Độ đã đứng ra đại diện cho thế giới đang phát triển để đòi hỏi các nước công nghiệp giảm bớt bao cấp trong ngành nông nghiệp nhằm tạo thế cạnh tranh công bằng quốc tế; nhưng các nước giàu mạnh này chống đối mãnh liệt. Hội đồng Khoáng đại của WTO vào ngày 27-28 tháng 7 năm 2006 đã đồng ý đề nghị của Tổng Giám Đốc Pascal Lamy tạm ngưng Vòng đàm phán Doha vì các bất đồng trong vấn đề nông nghiệp còn quá lớn. Đến nay, cũng chưa có quyết định ngày tái họp để thảo luận.

 

Hiện nay “công thức Thụy Sĩ” về bao cấp nông nghiệp đang được nhiều nước chú ý và thảo luận, trong đó trợ cấp nội địa giảm xuống đến mức bằng 5% trị giá của tổng sản xuất nông nghiệp cả nước. Mỹ đã hứa sẽ tiến đến công thức này, còn Liên Âu và Nhựt Bổn còn cố bảo vệ bao cấp qua cổ súy giá trị đa năng của nền nông nghiệp. Riêng Liên Âu có đề nghị (còn các hội viên chấp thuận) giảm trả tiền trực tiếp cho nông dân 3% mỗi năm cho đến tổng cộng 20%. Đề nghị này cũng chỉ nhằm ấn định trả tiền trực tiếp đến 300.000 euros cho mỗi nông trại!

 

            Nhưng, thế giới xảy đến cuộc khủng hoảng tín dụng, làm suy thoái sức mạnh nền kinh tế Mỹ và đồng Mỹ kim; vì thế giá dầu thô tăng cao không phanh, lạm phát hoành hành nhiều nơi, làm tăng giá các khu vực liên hệ, trong đó có các loại thực phẩm chủ yếu. Kể từ 2007, giá lương thực lên cao không được bình thường, tăng nhanh trong 3 tháng đầu 2008 và đột biến nhảy vọt gấp 2-3 lần giá đầu năm vào cuối tháng tư 2008, do tâm lý hoảng hốt của giới tiêu thụ và nạn đầu cơ thương mại, tạo ra cuộc khủng hoảng lương thực hiếm thấy trên thế giới. Chẳng hạn, giá gạo thế giới tăng từ 334 Mỹ kim trong 2007 lên 575 trong tháng 2-2008, 602 trong tháng 3 và trên 1.000 mỹ kim/tấn vào cuối tháng 4. Tương tự, giá các loại lương thực khác như lúa mì, bắp, đậu nành; các loại phân hóa học như Urea, Kali cũng tăng cao không kém.

 

Với sự can thiệp của cộng đồng quốc tế và các biện pháp xử lý mạnh tạm thời trong nhiều nước, đồng thời vụ lúa đang thu hoạch vào tháng 5-6 ở Ấn Độ, Bangladesh, Brazil, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và Uruguay, giá gạo không còn tăng cao đột ngột mỗi ngày, có vẻ chậm lại để trở về giá trị hợp lý của chúng theo phản ứng kinh tế thị trường. Tuy nhiên, giá lương thực có thể không trở lại ngay vị trí cũ của năm qua, vì các nhập lượng trợ nông đều tăng giá do giá dầu phi mã và nạn lạm phát còn đó. Ngoại trừ trường hợp có sự can thiệp mạnh của các nước giàu với các biện pháp hỗ trợ tích cực, hoặc nếu ngành nông nghiệp được mùa trong nhiều năm liên tiếp sắp tới. Thời đại lương thực giá rẻ vẫn còn nằm trong tay các nước phát triển và tùy thuộc vào chính sách, quản lý thị trường của các nước đang phát triển đối với quyền lợi nông dân và giới tiêu thụ nghèo (đa số là nông dân). Theo tiên đoán sơ khởi của Tổ chức FAO, sản lương lúa thế giới trong 2008 có thể tăng 1,8% so với 2007 (1%). Do đó, giá gạo thế giới sẽ hạ nhiệt phần nào vào những tháng tới.

 

Giá gạo ở các siêu thị vùng Little Saigon, Cali (Mỹ) đã tăng độ 80-100% so với đầu năm và còn giữ ở mức này vào đầu tháng 5-2008, sau một đợt biến động ngắn. Tại Việt Nam, do tin đồn đãi giá gạo bổng nhiên tăng đột biến trong 2 ngày vào cuối tháng 4-2008, sau đó với sự can thiệp mạnh của nhà nước và vụ lúa Đông - Xuân đang được thu hoạch, giá gạo giảm xuống ít nhiều, nhưng chưa trở lại giá trước khi có cuộc khủng hoảng lương thực thế giới. Giá gạo thông dụng trước là 8.500-9.000$/kg, nay ổn định lên 12.000-13.000$, gạo thơm Thái Lan Khao Dawn Mali từ 15.000 lên 20.000$ hoặc hơn (liên lạc với anh Trần Cảnh Thu ở Sài Gòn, 4-5-08). Tuy nhiên giá phân nhập nhứt là phân Urea và Kali vẫn còn lên cao. Do đó, cần phải có cơ chế ấn định hệ số cân bằng giữa giá phân và giá lúa khi có biện pháp bình ổn giá cả thị trường để bảo vệ lợi tức nông dân và giới tiêu thụ nghèo.         

 

            Cũng cần nhắc lại vào tháng 10-1973, thế giới xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trầm trọng do khối OPEC Ả Rập không xuất khẩu dầu thô đến Mỹ và các nước Tây Âu vì ủng hộ Do Thái, làm giá dầu thô tăng quá cao, gây nạn lạm phát hai con số và giá lương thực thế giới tăng lên như hiện nay (Horton, 2004). Chẳng hạn, giá gạo Thái bình quân tăng lên cao nhứt là 750 Mỹ kim mỗi tấn (gạo thơm trên 1.000 Mỹ kim). Tại Bangladesh, nạn đói kém đã gây thiệt mạng đến 1,5 triệu người trong 1974 (Quddus and Becker, 2000). Nhưng khi cuộc khủng hoảng đi qua, giá thực phẩm trở về vị trí cũ - thấp và rẻ cho đến năm 2007 mặc dù giá dầu thô tiếp tục lên cao (từ 30 cents lên trên 1$US), vì vào lúc đó cuộc Cách Mạng Xanh đang bành trướng, sản xuất nông sản tăng mạnh trên thế giới, đồng thời các nước công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh chính sách trợ cấp nông nghiệp cho đến nay. Giá gạo trở lại khoảng 250-350 Mỹ kim/tấn cho đến 2007.

 

Hy vọng rằng sau cuộc khủng hoảng lương thực thế giới này, các nước công nghiệp sẽ thay đổi phần nào quan niệm về một nền nông nghiệp thế giới công bình hơn trong thời đại toàn cầu hóa hợp lý. Hiện nay, thế giới chưa thấy xuất hiện cuộc Cách Mạng Xanh khác và chính sách trợ cấp nông nghiệp của các nước giàu này đang bị cộng đồng thế giới chỉ trích. Vì thế, ngày 29-4-2008, Ông Jacques Diouf, Tổng Giám Đốc Tổ chức FAO đã kêu gọi “thế giới phải biết tận dụng cơ hội này để trợ giúp nông dân ở các nước đang phát triển, những đối tượng từng phải gánh chịu tình trạng giá lương thực rẻ mạt, tránh rơi vào hoàn cảnh tương tự trong tương lai. Đây là thời điểm thích hợp để khởi động ngành nông nghiệp và thế giới đừng để lỡ mất cơ hội này.”   

 

            Cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay có thể đánh thức lương tâm các nhà làm chính sách của các nước tiến bộ, đặc biệt khi họ quan tâm đến nền nông nghiệp bản xứ cũng không nên quên còn có một thế giới khác mà nông nghiệp là thế mạnh, đang có đời sống xã hội quá thấp kém, cần có điều kiện cho thế đứng cạnh tranh công bình để cùng tiến bộ bắp kịp các nước giàu mạnh đi trước. Chính phủ của các nước đang phát triển cần chú trọng nhiều hơn đến ngành nông nghiệp bản xứ, qua nỗ lực đầu tư nhiều hơn và cung cấp hỗ trợ phù hợp với đòi hỏi WTO, bao gồm phát triển hạ tầng cơ sở nông nghiệp (đường sá, điện, thủy lợi), ứng dụng công nghệ mới, khảo cứu, khuyến nông, cung cấp thông tin thị trường, và phát triển nguồn nhân lực nông thôn hiện còn quá yếu kém.

 

Trần Văn Đạt, Ph. D.

7-5-2008

Tài liệu tham khảo:

1)      Centad (Centre for Trade and Development), 2007. Agricultural subsidies:Facts and figures. Newsletter, March 22, 2007, http://www.centad.org/relatedinfo9.asp.

2)      FAOSTAT, 2008. FAO statistics: Production (http://faostat.fao.org/site/339/default.aspx).

3)      Griswold, D., Slivinski, S. and Preble, C. 2005. Ripe for reform: Six good reasons to reduce US farm subsidies and trade barriers. Trade Policy Analysis No. 30, CATO Institute, 19 pages.

(http://www.freetrade.org/node/31).

4)      Horton, S. 2004. The 1973 oil crisis.

(http://www.ccds.charlotte.nc.us/History/MidEast/04/horton/horton.htm)

5)      Oxfam, 2002. Stop the dumping! How EU agricultural subsidies are damaging livelihoods in the developing world. Oxfam Briefing Paper, No. 31 (advocacy@oxfaminternational.org).

6)      Paiva, C. 2005. Assessment protectionism and subsidies in agriculture: A gravity approach. IMF Workig Paper,  WP/05/21, 17 pages.

7)      Quddus, M. and Becker, C. 2000. Speculative price bubble in the rice market and the 1974 Bangladesh famine. J. of Economic Development, vol. (2) Dec. 2000.

8)      Sharma, D. 2003. Protecting agriculture: “Zero-Tolerance” on farm subsidies. Global Policy Forum, New York, gpf@globalpolicy.org.

9)      Tổng cục Thống kê (GSO). 2006.  (http://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217).

10) Wikipedia. 2007. Agricultural subsidy. Wikipedia, the free encyclopedia

(www.en.wikipedia.org/wiki/Agricultural_subsidies (19/3/2007).

11) WRI (World Resources Institute). 2007. GDP: Percent GDP from agriculture. Earth Trends: Economics, Business, and the Environment, http://earthstrends.wri.org/searchable_db/.

 

Trở về Trang Chính