|
1. MỞ ĐẦU
Nhu cầu
năng lượng của loài người đã hiện diện cách nay hàng trăm ngàn
năm, khi con người biết dùng lữa trong hoạt động hàng ngày để
nướng thịt, đuổi thú dữ, đốt rừng làm rẫy. Kể từ đó, nguồn năng
lượng từ vật rắn như gỗ cây ngày càng trở nên quan trọng,
có hơn hai tỉ người trên thế giới đang dùng chất rắn trong gia
đình để nấu nướng và sưởi ấm mùa đông. Vào thế kỷ 19, gỗ là
nguồn năng lượng làm máy chạy bằng hơi nước phổ thông trong
ngành chuyên chở, giúp phát triển mạnh công nghiệp cơ giới. Sau
dó, con người chế tạo máy phát điện cung cấp nguồn điện
năng mới có nhiều công dụng cho đời sống hàng ngày và thay thế
dần những máy chạy bằng hơi nước. Khi tìm thấy nguồn nhiên
liệu trầm tích như than đá, dầu hỏa và khí đốt, con người
tăng tốc sử dụng loại năng lượng không tái tạo này để chạy máy
nổ, chủ yếu trong ngành vận tải, nhiệt và điện năng. Loại nhiên
liệu thể lỏng (xăng dầu) trở nên thông dụng hơn trong ngành
chuyển vận, vì có tỉ trọng năng lượng cao, dễ sử dụng hơn loại
nhiên liệu khí và rắn, và từ đó nguồn năng lượng rắn được sử
dụng giảm dần.
Mức cung
cầu năng lượng lỏng ngày càng trở nên không bền vững khi dân số
thế giới bành trướng không ngừng và các biến cố thường xảy ra,
nhứt là những nơi sản xuất dầu khí. Trong khi giá dầu thô tăng
gia liên tục từ 10 Mỹ kim/thùng trong 1999 lên 20 Mỹ kim trong
2002 và 115 Mỹ kim vào tháng 4/2008. Nếu không có giải pháp kịp
thời, sự chênh lệch cung cầu khuếch đại và giá nhiên liệu tăng
cao sẽ đưa đến các cuộc khủng hoảng tai hại khôn lường. Đó là
chưa kể mức cung cầu và giá cả còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
khác, như chính sách năng lượng, chiến tranh ở vùng sản xuất
dầu, vấn đề đầu cơ trục lợi, và nguồn năng lượng thiên nhiên
không được khai thác kịp thời, bị cạn dần.
Trong bối
cảnh đó, nhiều cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới không thể
tránh đựợc, đã bắt đầu từ nhiều năm qua và còn tiếp tục trong
tương lai, đặc biệt đối với các nước tiến bộ và các nước không
sản xuất dầu hỏa. Càng trở thành vấn đề sinh tử cho các nước
công nghiệp lớn tùy thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu nhập. Cho nên,
không ngạc nhiên lắm khi những vùng có nhiều dầu hỏa trên thế
giới thường không có được tình trạng yên bình lâu dài. Ngoài ra,
các nhiên liệu trầm tích còn thải ra các chất khí nhà kính,
nhứt là khí CO2 trong bầu khí quyển, làm hâm nóng
toàn cầu đến mức độ báo động hiện nay.
Do đó,
nhiều nước đã và đang tìm kiếm, khai thác các nguồn năng lượng
thay thế: năng lượng nguyên tử, điện năng, hơi nước, thủy triều,
sức gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học…, với quan tâm
đặc biệt đến các nguồn năng lượng có thể tái tạo và thân
thiện môi trường, trong khi tạo ra cơ hội mới làm tăng lợi tức
nông dân và cải thiện đời sống nông thôn ở các nước đang
phát triển. Trong bài tham khảo này, năng lượng sinh học ảnh
hưởng trực tiếp đời sống hàng ngày được đề cập đến.
2. CÁC LOẠI NĂNG LƯỢNG SINH HỌC
Năng lượng
sinh học là loại có thể tái tạo và được sản xuất từ nguồn
sinh khối (biomass) dưới dạng nhiên liệu lỏng, khí và rắn;
nhiệt lượng; điện năng; chất hóa học và những vật dụng khác.
Nhiên liệu sinh học lỏng đã được dùng đến từ thuở ban sơ của nền
công nghiệp ô tô. Trong thế kỷ 19, ông Nikolaus August Otto,
người Đức, nhà phát minh động cơ (do sức ép đốt cháy bên trong)
đã biết dùng chất ethanol để chạy máy. Ông Rudolf Diesel, nhà
sáng chế máy Diesel Đức, đã phát họa máy chạy bằng dầu đậu
phụng. Ông Henry Ford ở Mỹ sáng chế xe FORD kiểu T dùng nhiên
liệu từ cây gai (hemp) trong thời gian từ 1903 đến 1926. Nhưng
sau đó dầu hỏa được khám phá, rẽ tiền nên được sử dụng rộng rãi
hơn. Tuy nhiên, trong Thế Chiến I, dầu hỏa thiếu hụt trầm trọng,
nên có nhiều phát minh dùng nhiên liệu sinh học để thay thế phần
nào xăng dầu. Ở Đức, xăng được trộn với rượu làm từ khoai tây,
gọi là “Reichskraftsprit”. Ở Anh, dầu được trộn với rượu ngũ
cốc, có tên Discol (National Geographic Magazine, 10-2007).
Trong thời
hậu Thế chiến, dầu hỏa là loại nhiên liệu rẽ tiền, được tìm thấy
ở Trung Đông và các nơi khác trên thế giới được sử dụng ngày
càng tăng, làm giảm tầm mức quan trọng kinh tế của các nhiên
liệu sinh học. Sau đó, nhiều cuộc khủng hoảng năng lượng thỉnh
thoảng xảy ra làm thiếu hụt xăng dầu, giá cả tăng cao do tác
động bên ngoài (chiến tranh, hối đoái thay đổi, chính sách năng
lượng…) và nội tại (ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường do thải ra
nhiều chất khí CO2). Từ đầu thế kỷ 21, nhiều nước đã
hỗ trợ và tăng mức đầu tư để tái khai thác nguồn nhiên liệu sinh
học, đặc biệt ở Brazil, Mỹ, Liên Âu và châu Á. Nhiên liệu sinh
học được bắt đầu xem như phương tiện làm giảm chất khí thoát nhà
kính, an ninh năng lượng và góp phần cải tiến nông thôn đang
phát triển mạnh ở nhiều quốc gia; nhưng cũng có nhiều tranh luận
về diện cung cấp thực phẩm trên thế giới và vấn đề môi trường.
Nguồn
nhiên liệu sinh học được sản xuất từ khối sinh học hay sinh
khối, đó là các loài thảo mộc, rong rêu được cấu tạo và phát
triển bằng chất hữu cơ, qua hiện tượng quang hơp giữa nước và
khí CO2 trong diệp lục tố dưới năng lượng ánh sáng
mặt trời, và có thể tái tạo.
Do đó,
năng lượng sinh học thường được sản xuất từ:
-
Sản phẩm nông nghiệp: củ, hạt, dầu, mỡ động vật ;
-
Các chất thải dư thừa của nông nghiệp (gỗ, rạ rơm…), và
-
Các loại bèo, rong rêu.

2.1. Nhiên liệu sinh học từ nông sản
Đây là
loại nhiên liệu sinh học được sản xuất từ các sản phẩm nông
nghiệp như: đường, tinh bột, dầu rau cải và mỡ động vật (heo,
cá…) bằng các công nghệ lên men thông thường hay dùng chuyển hóa
ester (cho dầu mỡ). Sau đây là các loại nhiên liệu sinh học
thường thấy trên thị trường hiện nay:
2.1.1. Rượu sinh học
Các loại
rượu sinh học phổ thông nhứt gồm có rượu butanol, ethanol và
propanol, được sản xuất do các vi sinh vật hoặc các giếu tố
(enzyme) qua tác động lên men các chất đường, tinh bột và chất
mộc cellulose.
Butanol được sản xuất do lên men ABE
(acetone, butanol, ethanol). Rượu butanol sinh hoc được xem như
loại xăng dầu có thể dùng chạy xe trực tiếp, vì sản xuất nhiều
năng lượng, nhưng giá thành sản xuất cao hơn. Hảng Dupont và BP
đang nghiên cứu và phát triển loại cồn butanol.
Ethanol
là loại thông dụng nhứt trên thế giới, đặc biệt dùng làm nhiên
liệu sinh học cho vận chuyển. Trong năm 2003, độ 5% ethanol trên
thế giới là nhiên liệu dùng cho xe ô tô
(http://www.meti.go.jp/report/downloadfiles/
g30819b40j.pdf). Ethanol được sản xuất từ cây mía, bã mía, bắp,
thân và hạt lúa miến, củ cải đường, lúa mạch, đai, bố, khoai
tây, khoai lang, trái quả, hoa hướng dương, rơm rạ và các loại
sinh khối khác. Trước khi lên men, các enzyme được dùng thủy
phân các chất tinh bột, chất mộc cellulose thành phân tử đường.
Từ đó, chất đường glucose được phân tích thành 2 phân tử:
ethanol và carbon dioxide (Wikipedia: ethanol fuel):
C6H12O6 → 2C2H6O
+ 2CO2
Rượu
ethanol (C2H6O) được dùng làm nhiên liệu ô
tô sẽ bị đốt cháy với hòa trộn oxygen trong động cơ để sản xuất
carbon dioxide, nước và nhiệt lượng:
C2H6O
+ 3O2 → 2CO2 + 3H2O
Tổng hợp
hai công thức trên như sau:
C6H12O6
+ 6O2 → 6CO2 + 6H2O + nhiệt
lượng
Nhiệt
lượng dùng chạy máy, còn carbon dioxide là loại khí thải làm hâm
nóng bầu không khí.
Quá trình
sản xuất rượu ethanol làm nhiên liệu sinh học sạch gồm có 3 giai
đoạn:
(i)
Lên men chất đường với chất men (microbial yeast). Hiệu năng
sản xuất ethanol của mía đường cao gấp 6 lần so với bắp.
(ii)
Cất rượu: Rượu ethanol dùng để làm nhiên liệu cho xe ô tô
phải chứa rất ít nước bằng phương pháp cất rượu, nhưng rượu
thuần chỉ đạt đến giới hạn 95-96%. Loại rượu này có thể dùng
chạy máy, nhưng không thể hòa trộn với dầu xăng.
(iii)Làm
khô: Đây là phương pháp làm ròng rượu ethanol bằng cách dùng
sàng phân tử ZEOCHEM Z3-03, hoặc thêm chất hydrocarbon benzene
hoặc dùng chất calcium oxide như là chất làm khô để khử nước
trong rượu.
Các loại
rượu ethanol có thể dùng riêng rẽ hoặc hòa trộn với xăng dầu, và
các nhà chế tạo xe ô tô hiệân nay sản xuất nhiều loại xe có thể
chạy bằng chất hỗn hợp một cách an toàn. Nếu chỉ dùng ethanol để
chạy xe thì độ thuần rượu phải tối thiểu 71% (Aakko and Nylund,
2004). Dĩ nhiên, càng ít chất ethanol và nhiều nước công suất
của máy càng giảm. Hơn nữa, rượu ethanol có năng lượng kém hơn
xăng dầu. Một cách tổng quát, rượu ethanol khô (không chứa nước)
cung cấp 1/3 năng lượng thấp hơn cho mỗi đơn vị thể tích, so với
xăng; vì thế cần có bình chứa to hơn và cần rượu ethanol nhiều
hơn để xe chạy cùng khoảng cách so với xăng. Rượu ethanol thường
có đặc tính làm xói mòn các vật chứa trong hệ thống nhiên liệu,
từ bình chứa đến bộ phận nổ của đầu máy. Do đó, tùy theo mỗi
nước, nhà sản xuất thường hòa trộn rượu ethanol với xăng dầu ở
mức độ nào đó. Ở Brazil, xăng trộn với 23% ethanol kể từ 2006, ở
Mỹ 10%. Hiện nay, có nhiều loại xe được chế tạo để sử dụng loại
xăng trộn này với động cơ có hệ thống vi tính điều khiển pha
trộn hiệu quả cao cho các tỉ lệ ethanol/xăng khác nhau, từ 0 đến
100% ethanol.
2.1.2. Diesel sinh học
Đây là
loại dầu sinh học được dùng nhiều nhứt ở Liên Âu, được sản xuất
từ các loại dầu hay mỡ bằng cách dùng “transesterification”, có
hợp chất tương đương với dầu diesel khoáng chất. Các chất dầu
(còn gọi là fatty acid methyl (hay ethyl) ester (FARME)) trộn
với sodium hydroxide and methanol (hay ethanol) tạo ra phản ứng
hóa học sản xuất dầu diesel sinh học hay glycerol. Một phần
glycerol được sản xuất cho mỗi 10 phần dầu diesel sinh học. Các
loại xe ô tô có thể chỉ dùng dầu diesel sinh học hay trộn với
xăng mà không có vấn đề gì. Một số hảng xe giới hạn mức hòa trộn
15%, nhưng 5% hỗn hợp được dùng nhiều nhứt ở các nước Liên Âu. Ở
Mỹ, hơn 80% xe hàng và các xe bus thành phố chạy bằng diesel; do
đó, sử dụng dầu diesel sinh học tăng rất nhanh, từ 25 triệu
gallon mỗi năm cho đến 2004 tăng lên 1 tỉ triệu gallon vào cuối
năm 2006 (Thurmond, 2007).
2.2. Nhiên liệu sinh học từ chất thải dư
thừa
Hiện nay,
các nhà làm chính sách, quản lý môi trường khuyến khích sử dụng
các vật liệu phế thải hoặc dư thừa trong nông nghiệp để chế tạo
ra các loại nhiên liệu sinh học, vừa có thể thay thế dầu hỏa vừa
giảm ô nhiễm môi trường. Nguyên liệu dùng sản xuất loại nhiên
liệu này thường gồm các sinh khối phế thải, rơm rạ của lúa gạo,
lúa mì, thân bắp, gỗ, các loại cây đặc biệt dùng làm nhiên liệu…
qua công nghệ hóa lỏng, gồm cả nhiên liêu sinh học cellulose từ
các màu không có thực phẩm. Hiện đang có nhiều công nghệ phát
triển loại nhiên liệu này, như hydrogen sinh học, methanol sinh
học, diesel hydrogen sinh học, rượu hỗn hợp, diesel gỗ…
Rượu
Ethanol từ chất mộc hay cellulose được sản xuất từ các hoa màu
không còn thực phẩm (rơm rạ, gỗ, thân cây…). Đó là những thành
phần chất thải sau khi thu hoạch các bộ phần làm thực phẩm, cho
nên sử dụng dầu sinh học làm từ các nguyên liệu này không làm
ảnh hưởng đến vấn đề sản xuất thức ăn thế giới. Trái lại, còn
giúp giải quyết phần nào ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, quá
trình sản xuất rượu ethanol sinh học khó khăn và tốn kém hơn, vì
phải thêm công đoạn dùng các giếu tố để tiêu hóa các chất mộc
cellulose thành chất đường. Hiện nay, công nghệ sinh học có thể
chế tạo các loại giếu tố GM có khả năng phân hóa nhanh các chất
mộc cellulose, nhưng một số chuyên gia lo ngại các loại giếu tố
này có thể trở thành một loại phá hại môi trường không lường
trước được khi chúng lan truyền trong các loài thảo mộc.
2.3. Nhiên liệu sinh học từ rong rêu, bèo
Nhiên liệu
rong rêu được chế tạo từ các loài rong rêu trong nước, trên đất
ẩm. Rong rêu dùng ít nhập lượng trợ nông, nhưng sản xuất nhiều
năng lượng (30 lần) hơn thực phẩm gia súc để sản xuất nhiên liệu
sinh học. Ngoài ra, loài rong rêu bị thoái hóa sinh học không
làm hư hại môi trường xung quanh. Hiện nay rất nhiều giới chú ý
đến loại nhiên liệu này vì giá dầu hỏa cao. Theo ước tính của Bộ
Năng Lượng Mỹ, nước này cần một diện tích đất đai lớn độ 38.849
km2 để trồng loại rong thay thế tất cả nhu cầu dầu hỏa hiện nay
trong nước (Hartman, 2006).
2.4. Khí sinh học (biogas)
Khí sinh
học như methane được sản xuất bằng qui trình tiêu hóa các
chất hữu cơ bằng các loài vi sinh vật yếm khí. Loại khí này có
thể sản xuất từ các chất thải dễ bị hủy hoại hoặc dùng năng
lượng của các màu nuôi các vi sinh vật yếm khí để sản xuất ra
chất khí. Chất thải rắn dễ bị tiêu hóa có thể dùng làm nhiên
liệu hoặc làm phân mục compost.
Khí tổng hợp (syngas) được chế tạo từ các
nhiên liệu sinh học bằng các qui trình hỗn hợp như phân giải
(pyrolysis), đốt cháy (combustion) và hóa khí (gasification).
Nhiên liệu sinh học được biến đổi thành carbon monoxide và năng
lượng bằng phân giải, sau đó qua giai đoạn đốt cháy với ít oxy
và tiếp theo giai đoạn khí hóa dưới nhiệt độ tối thiểu 700o
C để biến đổi chất hữu cơ thành chất khí hydrogen và thêm phân
tử carbon. Chất khí tổng hợp này là một loại nhiên liệu có nhiều
hiệu quả đốt cháy trực tiếp trong máy xe so với các nhiên liệu
sinh học nguyên thủy, và có nhiều năng lượng chứa trong nhiên
liệu. Chất khí tổng hợp có thể dùng để chế tạo ra chất methanol
và khí hydrogen, hay được biến đổi qua qui trình Fisher-Tropsch
để sản xuất loại xăng tổng hợp thay thế (Wikipedia: Biofuel).
2.5. Nhiên liệu sinh học rắn
Chẳng hạn
như gỗ, than và các loại phân thú khô mà các nước đang phát
triển sử dụng hàng ngày trong công việc nấu nướng hay sưởi ấm.
3. CÁC NƯỚC SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC
Các nhiên
liệu sinh học hiện đang được nhiều quốc gia chú ý đến như là một
giải pháp khả thi để thay thế xăng dầu, vì khủng hoảng năng
lượng thường xảy ra, giá cả leo thang không ngừng và hiện tượng
hâm nóng toàn cầu đang được khoa học xác nhận. Từ 1970, Bazil là
nước có quyết tâm nhiều hơn hết trong chính sách sản xuất rượu
ethanol để thay thế phần nào xăng dầu sử dụng trong nước. Sau
đó, các nước tiến bộ và các nước đang phát triển tham gia tích
cực hơn. Trong năm 2006, 5 nước đứng đầu sản xuất ethanol trên
thế giới là Mỹ (4,855 tỉ gallons/year), Brazil (4,491 tỉ
gallons/year), Trung Quốc (1,017 tỉ gallons/year), Ấn Độ (0,502
tỉ gallons/year) và Pháp (0,251 tỉ gallons/year). Mỗi gallon
bằng 3,785 lít. Sản xuất ethanol tại hai nước Mỹ và Brazil chiếm
hơn 90% ethanol thế giới
(http://www.ethanolrfa.org/industry/statistics/#E).
3.1. Brazil
Brazil sản
xuất ethanol từ mía đường nên hiệu năng năng lượng cao
hơn so với bắp gấp 6 lần, vì bắp cần thêm giai đoạn phân giải
tinh bột thành chất đường trước khi biến chế thành rượu ethanol.
Chương trình này được đánh giá thành công và lớn nhứt thế giới,
nay đã cung cấp được 30% nhu cầu nhiên liệu vận chuyển trong
nước. Trước đây, Brazil là một nước nhập khẩu dầu rất lớn, nhưng
nay đã tự túc hoàn toàn về năng lượng, nhờ sản xuất ethanol và
số dầu mỏ nội địa (Washington Post, 2006). Trong năm 2004, nước
này sản xuất 16,4 tỉ lít ethanol trên diện tích 2,7 triệu hecta
đất đai, hay độ 4,5% diện tích canh tác của nước này. Trong số
này, độ 12,4 tỉ lít ethanol được dùng làm nhiên liệu cho xe ô
tô. Hiện nay, tất cả xe sản xuất bản xứ là loại xe dành cho sử
dụng xăng pha trộn với ethanol và thích ứng với loại ethanol có
chứa nước đến 4,4% (ethanol 95,6%). Trong 2008, Chính phủ mở
rộng chương trình sản xuất diesel sinh học phải chứa 2% diesel
sinh học, và tăng lên 5% trong 2013.
Tuy nhiên,
chương trình sản xuất và tiêu thụ rượu ethanol được thực hiện
với bao cấp lớn của nhà nước dưới hình thức (American Council
for an Energy-Efficient Economy, 1999):
- Lãi
suất thấp cho xây cất các nhà máy nấu rượu,
- Bảo
đảm giá thu mua ethanol bởi các các công ty dầu quốc doanh với
giá hợp lý,
- Giá
ethanol ngoài thị trường có sức cạnh tranh cao, và
- Giảm
thuế trong thập niên 1980s để khuyến khích loại xe dùng ethanol.
Các biện
pháp hỗ trợ giá và bảo đảm nêu trên giảm bớt dần, đến nay đã
chấm dứt hoàn toàn và kết quả rất tích cực. Ở tiểu bang São
Paulo đã thiết lập thành công một trung tâm nghiên cứu và phát
triển trồng mía và sản xuất rượu ethanol hiệu quả cao.

3.2. Hoa Kỳ
Hàng năm
Hoa Kỳ tiêu dùng khoảng 142 tỉ gallon xăng dầu và giá cả tăng
gia từ độ 30-40 cent trong đầu 1970s lên 3,5 Mỹ kim/gallon trong
tháng 3-2008. Nước này hiện tiêu thụ độ 25% tổng số dầu thế
giới. Cho nên, họ có nỗ lực lớn nhằm thay thế phần nào loại
nhiên liệu chất khoáng này. Hiện nay, hầu hết các loại xe ở nước
Mỹ có thể chạy bằng xăng pha trộn với 10% ethanol được chế tạo
từ bắp. Một số hảng xe như Ford, Daimler-Chrysler và GM
đã bán loại xe có thể dùng xăng trộn với ethanol từ zero đến 85%
ethanol (E85). Đến giữa 2006, có đến 6 triệu chiếc xe chạy E85
(America energy, 2006). Trong 2007, thành phố Portland, bang
Oregon là thành phố đầu tiên bắt buộc tất cả các loại xe chạy
trong giới hạn thành phố phải dùng xăng trộn tối thiểu 10%
ethanol (Murphy, 2007)). Kể từ tháng giêng 2008, các bang
Missouri, Minnesota và Hawaii đòi hỏi xe ô tô chạy xăng trộn với
ethanol.
Trong
tháng 1-2006, trước Quốc hội lưỡng viện, Tổng Thống George W.
Bush tuyên bố Hoa Kỳ “đã nghiện dầu hỏa” nên cần phải thay thế
75% dầu nhập bằng những nguồn năng lượng hữu hiệu khác vào 2025,
gồm cả nhiên liệu sinh học. Ngày 19-12-2007, (Energy
Independence and Security Act of 2007) đòi hỏi những nhà sản
xuất xăng dầu phải dùng ít nhứt 36 tỉ gallons nhiên liệu sinh
học trong 2022, hay tăng gấp 5 lần mức dùng hiện nay.
Chương trình khuyến khích dùng xăng trộn với ethanol
ở Mỹ đang bị chỉ trích vì dựa vào hỗ trợ của nhà nước, làm tiêu
thụ nhiều nhiên liệu hơn bình thường. Sự hỗ trợ này đã khuyến
khích nông dân biến đổi đất đai trồng bắp để sản xuất ethanol
đáng kể và sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc sát trùng hơn
những đất đai dùng sản xuất các màu khác. Chính phủ Liên bang đã
hỗ trợ cho riêng chương trình này 7 tỉ Mỹ kim mỗi năm (tương
đương 1,90 Mỹ kim/gallon)! Trong 2007, độ 90% diện tích màu di
truyền biến đổi GM dành cho năng lượng sinh học được trồng ở Mỹ:
7 triệu ha bắp GM cho sản xuất rượu ethanol và 3,4 triệu ha đậu
nành dành cho sản xuất dầu diesel sinh học (James, 2007).

3.3. Liên Âu
Những nước
dùng nhiều nhiên liệu ethanol sinh học trong Liên Âu là Đức,
Thụy Sĩ, Pháp và Tây Ban Nha. Trong 2006, lục địa này sản xuất
loại nhiên liệu sinh học tương đương đến 90% nhu cầu. Đức quốc
sản xuất gần 70% nhu cầu, Tây Ban Nha 60% và Thụy Sĩ 50%. Tại
Đức quốc có đến 792 trạm xăng có E85, Pháp 131 E85 và với 550
trạm khác đang được xây cất (EUBIA, 2007). Liên Âu đã thông qua
luật đòi hỏi các nước hội viên phải sử dụng nhiên liệu không có
khoáng chất tối thiểu 5,75% tổng số thể tích nhiên liệu tiêu thụ
trong năm 2010 và 10% trong 2020. Do đó, họ có thể thay thế
diesel hay xăng bằng bất cứ nguồn nhiên liệu sinh học nào. Hiện
nay, có ít trạm xăng E85 ở nhiều nước Liên Âu. Nhiên liệu sinh
học bị đánh thuế tương đương với xăng khoáng chất.
3.4. Á Châu
Trung
Quốc có chính sách khuyến khích sử
dụng nhiên liệu sinh học tại các vùng sản xuất dư thừa ngũ cốc
để giảm bớt dùng xăng dầu. Đầu tiên, nước này chọn năm thành phố
thí điểm ở các vùng trung bộ và đông bắc, gồm có Zhengzhou,
Luoyang and Nanyang ở tỉnh trung bộ Henan và Harbin, Zhaodong ở
tỉnh Heilongjiang ở miền đông bắc. Trong chương trình này, tỉnh
Henan đang cổ động sản xuất nhiên liệu sinh học E10 khắp nơi
trong tỉnh, với mục đích làm ổn định giá ngũ cốc, tăng lợi tức
nông dân và giảm ô nhiễm môi trường do xăng dầu gây ra. Nước này
cũng dự tính dùng E15 trong năm 2010.
Ấn Độ
phát động chương trình nhiên liệu sinh học với mía đường trên
toàn quốc cho E5, và đặt chỉ tiêu tăng lên E10 và sau đó E20. Ấn
Độ cũng mở rộng các đồn điền trồng cây jatropha, một loại cây
sản xuất dầu để sản xuất diesel sinh học.
Thái
Lan có một chương trình tham vọng cao
khuyến khích dùng xăng trộn với nhiên liệu sinh học 10% ethanol
từ 2007. Cũng vậy, kỹ nghệ dầu cọ có kế hoạch sản xuất diesel
sinh học ở Malaysia và Indonesia.
Nhựt
Bổn đang nghiên cứu sử dụng rơm rạ để
sản xuất nhiên liệu sinh học.
Việt
Nam có vài nỗ lực trong sản xuất các
loại nhiên liệu sinh học, nhằm thay thế phần nào dầu mỏ và tăng
an ninh năng lượng trong nước. Vài dự án thành lập nhà máy sản
xuất loại nhiên liệu này đang được xây cất ở tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi và Đồng Nai. Tại Quảng Nam, chính quyền tỉnh đang hợp
tác với Nhật Bản dự trù khai triển xây dựng dự án nhà máy sản
xuất rượu ethanol, với tiêu thụ nguyên liệu độ 1 triệu tấn
sắn/năm và cần khoảng 300.000 ha đất ở các huyện phía tây của
tỉnh để trồng sắn nguyên liệu phục vụ cho nhà máy (Hải - Nguyên,
2008). Một nhà máy sản xuất bio-ethanol khác tại khu kinh tế
Dung Quất, Quảng Ngãi sẽ được xây dựng khai thác bởi công ty
Dịch vụ Dầu khí (Petrosetco) và công ty Bronzeoak (Anh) với tổng
số vốn đầu tư 2.200 tỉ đồng. Nhà máy có công suất 150 triệu lít
ethanol/năm, với nguồn nguyên liệu là sắn lát (A. Phương,
2008).
Đây là một cơ hội tốt cho Việt Nam góp phần vào nỗ
lực cải thiện đời sống nông thôn, xóa đói giảm nghèo và thu hẹp
khoảng cách đời sống giữa nông thôn và thành thị. Cho nên, cần
có một chính sách và quy hoạch quốc gia nhằm vừa hỗ trợ phát
triển ngành sản xuất các loại nhiên liệu sinh học, vừa tạo thêm
việc làm ở nông thôn, tăng gia lợi tức nông dân và bảo đảm an
ninh năng lượng trong nước. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu từng
vùng sinh thái về đất đai, khí hậu và điều kiện kinh tế-xã hội
để khoanh vùng sản xuất nguyên liệu đầy đủ cho các nhà máy nhiên
liệu sinh học cũng như bảo đảm giá cả đầu ra. Ở đồng bằng
sông Cửu Long, cần khuyến khích nhiều hơn hết về đầu tư sản
xuất ethanol dựa vào mía đường, loại ethanol cellulose dựa vào
rơm rạ, thân lúa miến, bắp…, hoặc cây kỹ nghệ, cây ăn quả và các
loại mỡ động vật như mỡ cá chẳng hạn. Các nhà máy đường hiện hữu
cần được thêm chức năng, bằng cách trang bị thêm các công nghệ
và thiết bị cần thiết sản xuất ethanol làm nhiên liệu sinh học.
4. CÂN BẰNG NĂNG LƯỢNG VÀ HIỆU NĂNG SẢN XUẤT
ETHANOL
Rượu
ethanol chứa năng lượng cho mỗi đơn vị thể tích ít hơn xăng dầu
độ 34%, cho nên có thể dùng để chạy một khoảng đường ngắn hơn
34% cho cùng số lượng nhiên liệu sử dụng (EERE, DOE). Đối với
loại nhiên liệu hòa trộn E10 (10% ethanol và 90% săng), ảnh
hưởng dùng bioethanol rất ít chỉ 3% hoặc ít hơn. Nhưng nhiên
liệu E85 (85% ethanol) có ảnh hưởng nhiều hơn, nghĩa là phải
dùng số lượng xăng nhiều hơn để chạy cùng một khoảng đường và
phải đổ xăng nhiều lần hơn. Trong tháng 7/2007, tại một trạm
xăng ở Mỹ giá E85 là 2,63 Mỹ kim/gallon, hay điều chỉnh cùng
năng lượng với xăng là 3,71 Mỹ kim/gallon, so sánh với giá xăng
3,03 Mỹ kim/gallon. Nhiên liệu E85 là loại nhiên liệu được xem
là hảo hạng, tương đương với xăng premium ở Mỹ (Bourne and
Clark, 2007). Ở Brazil, ethanol (100%) có giá 3,88 đối với 4,91
Mỹ kim cho loại E25. Để cải tiến sử dụng chất nhiên liệu sinh
học hiệu quả hơn, cần phải nâng cao mức cân bằng năng lượng và
hiệu năng sản xuất nhiên liệu này.
● Cân
bằng năng lượng
Hiện nay,
tùy theo điều kiện địa phương, nguồn nguyên liệu dùng để sản
xuất nhiên liệu sinh học khác nhau: Brazil sử dụng mía đường, Mỹ
dùng bắp, Liên Âu dùng các cây có dầu, Nhựt đang chú ý đến rơm
rạ… Do đó, sự cân bằng năng lượng giữa đầu vào và đầu ra của sản
xuất rượu ethanol khác nhau trong mỗi quốc gia. Tất cả những
sinh khối dùng cho sản xuất ethanol sinh học đều trải qua nhiều
giai đoạn: canh tác, thu hoạch, sấy và biến chế. Nên cần dùng
xăng dầu để cày bừa, chuyên chở; phân hóa học; thuốc sát trùng;
thuốc diệt cỏ… để sản xuất nguyên liệu cho rượu ethanol (đầu
vào), được đốt cháy trong đầu máy nổ, và tạo ra năng lượng chạy
máy (đầu ra).
Nước Mỹ
dùng ethanol bắp có năng lượng cân bằng là 1,3, nghĩa là mỗi đơn
vị năng lượng dầu khoáng sản cần thiết để tạo ra 1,3 đơn vị năng
lượng từ rượu ethanol. Brazil sản xuất ethanol mía đường có cân
bằng năng lượng 8, Đức sản xuất diesel sinh học 2,5. Còn sản
xuất ethanol cellulose có năng lượng cân bằng từ 2 - 36 tùy theo
công nghệ áp dụng (Bourne and Clark, 2007). Như vậy, dùng nguyên
liệu mía đường có hiệu suất năng lượng cao hơn bắp, vì bắp phải
tiêu hủy bớt một số năng lượng cho giai đoạn phân giải chất tinh
bột thành đường trước khi tạo ra rượu ethanol.
● Hiệu
năng sản xuất ethanol sinh học
Hiện nay,
tất cả các chương trình sản xuất ethanol sinh học thế giới đều
được các chính phủ hỗ trợ tích cực, vì giá thành sản xuất rất
cao, trong khi họ không muốn tùy thuộc hoàn toàn vào loại xăng
dầu khoáng chất. Vì vậy, các nhà sản xuất cố gắng cải tiến năng
suất ethanol cho mỗi đơn vị bắp hay màu khác, bằng các công nghệ
hiệu quả hơn, đồng thời làm tăng trọng lượng sinh khối mỗi đơn
vị diện tích, qua sử dụng các công nghệ sinh học, lai tạo, và
quản lý canh tác hữu hiệu. Nếu được như thế, sản xuất rượu
ethanol sẽ có lợi tức kinh tế cao hơn. Ngoài ra, khi giá dầu còn
tiếp tục tăng, sử dụng các chất dư thừa cellulose, như rơm rạ,
thân cây sau khi thu hoạch có thể được dùng để chế biến rượu
ethanol. Các chuyên gia còn để ý đến các loại cây tăng trưởng
nhanh như poplar, cây sử dụng ít đầu vào (low input) như cỏ
switchgrass, sawgrass, miscanthus, lúa miến ngọt… để sản xuất
nhiên liệu sinh học rẻ tiền.
5. CÁC LỢI ÍCH VÀ THÁCH THỨC CỦA NHIÊN LIỆU
SINH HỌC
Phát triển
nhiên liệu sinh học là một trong các biện pháp tốt không những
giúp đối phó với cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới mà còn tạo
cơ hội hiếm có cho cải tiến đời sống nông thôn; nhưng đồng thời
cũng có một số vấn đề tiềm ẩn về khả năng thiếu hụt thực phẩm
cho những vùng thiếu đất canh tác, cũng như gây ảnh hưởng môi
trường không kém gì các loại xăng dầu trong quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, các vấn đề này hiện đang còn tranh cải trên diễn đàn
quốc tế. Các chuyên gia tin tưởng rằng công nghệ, kỹ thuật và
quản lý sản xuất sẽ giúp giải quyết các khó khăn nêu trên nếu
xảy ra.
5.1. Giảm bớt dầu nhập
Mục tiêu
đầu tiên của các chương trình sản xuất nhiên liệu sinh học là
nhằm giảm bớt hoặc không lệ thuộc hoàn toàn vào dầu nhập, và bảo
đảm an ninh năng lượng quốc gia. Người ta ước lượng nguồn dầu
hỏa thế giới chỉ còn có thể sử dụng trong thế kỷ 21. Hơn nữa,
kinh nghiệm thế giới cho thấy mỗi khi giá dầu tăng cao, vật giá
các khâu liên hệ cũng leo thang, ngoại trừ những nước có chính
sách hỗ trợ để ổn định giá cả và thị trường. Nguồn nhiên liệu
sinh học còn là nhu cầu cấp bách tại các nước đang có nền kinh
tế phát triển mạnh như Việt Nam. Tình trạng mất quân bình
cung-cầu về năng lượng đang đe dọa sự bành trướng các ngành công
kỹ nghệ và phát triển kinh tế trong nước.
5.2. Tạo việc làm mới và nông sản biến chế mới
ở nông thôn
Nhiều nhà
nghiên cứu tin rằng nhiên liệu sinh học có thể làm giảm mức độ
nghèo khó ở nông thôn nếu có quy hoạch và chương trình thực hiện
hữu hiệu, vì tạo ra nhiều việc làm với nông sản biến chế mới, mở
ra kỷ nguyên kinh tế nông thôn mới, sống động do ảnh hưởng của
giá nhiên liệu này. Sản phẩm mới đó có giá trị kinh tế cao hơn
các nông sản truyền thống. Nhưng viễn ảnh này sẽ gặp trở ngại
nếu không có các chính sách hỗ trợ hợp lý để vượt qua các khó
khăn như đã gặp trong nền nông nghiệp truyền thống mang lại
nghèo khó cho nông thôn. Hướng phát triển này có thể đưa đến
thành lập các dự án khu công nghiệp hay đô thị nông thôn khép
kín, trong đó các chất thải từ nông nghiệp được dùng để tạo
ra năng lượng sinh học, và đồng thời mang sinh hoạt mới, nếp
sống mới đến nông thôn.
5.3. Đe dọa nguồn thực phẩm thế giới?
Vấn đề này
tùy thuộc vào tình trạng sản xuất thực phẩm dư thừa hay thiếu
của mỗi quốc gia. Với nền kinh tế thị trường, giá năng lượng hấp
dẫn có thể khuyến khích nông dân dùng đất và nước để sản xuất
nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học thay vì trồng cây thực phẩm;
do đó, có thể làm thiếu nước canh tác và khan hiếm thực phẩm
trên thị trường, kéo theo giá cả tăng vọt quá khả năng thu mua
của giới nghèo. Đến nay, chỉ có nước Mỹ đang chuyển động mạnh cơ
cấu cây trồng, thay thế trồng thực phẩm (bắp và đậu nành) bằng
sản xuất nguyên liệu cho ethanol vì giá cả hấp dẫn. Hy vọng
các nước công nghiệp chú trọng vào nông nghiệp sản xuất năng
lượng sinh học và dành công việc sản xuất thực phẩm cho các nước
đang phát triển nhằm san bằng cách biệt xã hội giữa hai thế giới
này trong thời đại toàn cầu hóa hợp lý. Đặc biệt các nước công
nghiệp cần giảm bớt bao cấp nông nghiệp to lớn và mở cửa nhập
khẩu nông sản từ các nước đang phát triển để nâng cao đời sống
nông thôn tại các nước này.
Sau gần 40
năm, nước Brazil đã đạt đến tự túc nhiên liệu trong nước mà
không hề gặp phải tình trạng đói kém, chỉ nhờ vào sản xuất cồn
ethanol sinh học. Những nước đông dân và đất khả canh giới hạn
như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia (Java)… có thể quan tâm nhiều
hơn về vấn đề sản xuất thực phẩm. Ngoài ra, phát triển
loại ethanol cellulose và các chất thải để sản xuất nhiên liệu
sinh học sẽ giúp giải quyết nỗi lo âu thiếu lương thực và vấn đề
môi trường trên thế giới.
Ở Việt
Nam cũng như Thái Lan, vấn đề sản
xuất lương thực tương đối đầy đủ, vã lại còn dư thừa để xuất
khẩu như lúa gạo, thủy sản, cây ăn quả, cây kỹ nghệ; nhưng nông
dân vẫn còn nghèo khó so với thành thị. Cho nên, chỉ cần giảm
bớt phân nửa chỉ tiêu số lượng gạo xuất khẩu hàng năm (gần 5
triệu tấn/năm), đất nước có thể để dành ít nhứt nửa triệu hecta
đất cho các ngành sản xuất khác có lợi ích kinh tế cao hơn, như
Trung Quốc đã làm trong gần 4 thập niên qua (giảm độ 7 triệu
hecta trồng lúa, từ 36,5 triệu trong 1975 xuống còn 29,4 triệu
ha trong 2006). Một nước càng chú trọng nhiều về nông nghiệp,
thành phần nông dân đa số càng nghèo, ngoại trừ ở các
nước công nghiệp có chế độ bao cấp lớn!
Ở các vùng
ôn đới, đất canh tác bị giới hạn vì chỉ canh tác một vụ mỗi năm
và mùa đông bị lạnh hoặc tuyết phủ; nhưng không có giới hạn
nhiều ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới vì nông dân có thể trồng
trọt quanh năm.
5.4. Ảnh hưởng môi trường
Các nghiên
cứu đầu tiên cho biết các loại nhiên liệu sinh học là loại nhiên
liệu thân thiện môi trường. Xăng sản xuất 2,44 CO2
tương đương kg/l trong khi ethanol chỉ sinh ra 1,94, nên sẽ làm
giảm rất nhiều khí thải CO2 trong bầu khí quyển. Năm
2006, nghiên cứu của trường Đại học California, Berkley ước
lượng khí thải nhà kính của ethanol bắp là 13%, sau giảm xuống
còn 7,4% thấp hơn so với xăng dầu (Bourne and Clark, 2008). Tạp
chí National Geographic ghi nhận 22% ít khí thải CO2
hơn cho ethanol bắp và 56% cho ethanol mía. Hảng chế tạo xe Ford
báo cáo đã sản xuất một loại xe có thể chạy xăng hoặc rượu
ethanol hoặc hòa trộn có thể giảm bớt 70% khí thải CO2
(EUBIA, 2007).
Nhưng vài
nghiên cứu gần đây cho kết quả trái ngược, nghĩa là nhiên liệu
sinh học cũng sản xuất khí thải nhà kính trong chu kỳ sản xuất
khép kín. Sản xuất nguyên liệu để tạo ra nhiên liệu sinh học
cũng đòi hỏi một số lượng lớn xăng dầu trong hoạt động vận
chuyển ở ngoài đồng và hậu thu hoạch. Tháng 10-2007, nhà Nobel
hóa học Paul Crutzen đã báo cáo khí thải nitrous oxide (N2O)
từ sản xuất dầu hột cải (rapeseed, họ Mù tạt) và bắp tạo ra chất
khí làm ấm trái đất hơn khai thác dầu khoáng, vì quá trình canh
tác sản xuất hai màu này cũng dùng nhiều phân hóa học và nhiên
liệu chuyên chở trong hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu
trồng các loại cây và cỏ đòi hỏi ít phân sẽ gây ít ảnh hưởng
đến môi trường. Nhiều nhà nghiên cứu cho biết sử dụng
các loại ethanol cellulose làm bằng các chất thải thảo mộc có
lợi cho môi trường hơn.
Ở Malaysia
và Indonesia, nông dân đã khai phá hàng ngàn hecta rừng nhiệt
đới để trồng dầu cọ sản xuất nhiên liệu sinh học và xuất khẩu
qua châu Âu, đã làm xáo trộn môi trường thiên nhiên và làm ô
nhiễm không khí do tệ nạn đốt phá rừng bừa bãi để khai thác
trồng trọt.
6. KẾT LUẬN
Nhiều nước
đang phát triển trong đó có Việt Nam có lợi thế về nông nghiệp,
nhưng chưa được phát huy tối đa. Nông thôn có “mỏ dầu” năng
lượng sinh học từ lâu, nhưng tiềm năng của nơi này chưa biết đến
để khai thác. Rõ ràng nhiên liệu sinh học rất cần thiết cho
những nước thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cuộc khủng
hoảng năng lượng thế giới xảy ra, góp phần đảm bảo an toàn năng
lượng trong nước và tạo ra một ngành biến chế mới, loại sản phẩm
mới, và việc làm mới ở nông thôn. Đặc biệt ngành sản xuất nhiên
liệu sinh học còn mở ra hướng đi mới có thể nâng cao đời sống
thôn xã, qua hình thành các cụm công nghiệp và đô thị sinh thái,
nếu có quy hoạch và được chính phủ khuyến khích và hỗ trợ thích
đáng. Các kỹ thuật tân tiến, công nghệ sinh học và quản lý canh
tác sẽ giải quyết các khó khăn về thực phẩm, môi trường, và hiệu
năng sản xuất nhiên liệu sinh học của từng quốc gia.
Trần Văn Đạt, Ph. D.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO:
1)
A. Phương,
2008. Xây dựng nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học trị giá
2.200 tỉ
đồng
(http://www.sggp.org.vn/trithuccongnghe/3008/3/145447/)
2)
Aakko, P.
and Nylund, N., 2004. Technical view on biofuels for
transportation – Focus on ethanol end-use aspects
(http://www.virtual.vtt.fi/inf/julkaisut/muut/2004/Etoh_VTT51000_03.pdf)
3)
American
energy, 2006. The renewable path to energy security
(http://www.images1.americanprogress.org/il80web20037/americanenergynow/AmericanEnergy.pdf)
4)
American
Council for an Energy-Efficient Economy, 1999. Policies for a
more
sustainable energy future
(http://www.aceee.org/store/proddetail.cfm?)
5)
Bourne, J.K and Clark, R., 2007. Green dreams.
National Geographic
Magazine, Oct. 2007, p. 41
(http://www.magma.nationalgeographic.comngm/2007-10/biofuels/biofuels-interactive.html)
6)
China
promotes ethanol-based fuel in five cities
(http://www.english.people.com.cn/200206/17/en020617_98009.shtml
7)
Crutzen, P.,
2007. N2O release from agro-biofuel production negates
global
warming reduction by replacing fossils fuels
(http://www.atmos-chem-phys-discuss.net/7/11191/2007/acpd-711191-2007.html)
8)
EERE, DOE
(Energy Efficiency and Renewable Energy, US Department of
Energy).
2007. Ethanol Production Plant, Fuel Stock e85, Cellulosic Corn
Ethanol, Prices
(http://www.
eere.energy.gov/afdc/progs/ddown.cgi?afdc/FAQ/5/0/0/).
9)
Etanol
combustível: Balanco E Perspectivas
(http://www.nipeunicamp.org.br/proalcool/Palestras/16/Antonio%20de% 20Padua%2020Rodrigues.ppt)
10)
European
Biomass Industry Association (EUBIA), 2007. Bio-ethanol
production and use creating markets for renewable energy
technologies
(http://www.eubia.org/fileadmin/template/main/res/pics/projects/RESTMAC_-Gioethanol_Production_Use.pdf,
EU, RES Technology Marketing Campaign)
11)
freetheplant.net (http://freetheplant.net/)
12)
Hải-Nguyên,
2008. Quảng Nam: 150 triệu USD đầu tư nhà máy sản
xuất cồn ethanol
(http://www.sggp.org.vn/kinhte/3008/3/144991/)
13)
Hartman, A.,
2006. A promising oil alternative: Algae energy. Washington
Post
(http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2008/01/03AR2008010303907.html)
14)
Introduction: The clean tech opportunity
(http://www.cleanedge.com/book/Introduction_The_Clean_Tech_Revolution.pdf
p.21 (in Wikipedia).
15)
James, C.
2007. Global status of commercialized Biotech/GM crops: 2007.
ISAAA Briefs 37-2007: Excecutive Summary, ISAAA: Ithaca,
N.Y.
(http://www.isaaa.org/Resources/Publications/briefs/37/executivesummary/default.html
16)
Murphy, T.,
2007. In Biodiesel we trust
(http://www.postcardboncities.net/node/192). Portland tribune.
17)
Thurmond,
W., 2007. In the July-August 2007 issue of The Futurist magazine
(http://.www.wfs.org/futcontja07.htm)
18)
Washington
Post, 2006. New rig brings Brazil oil self-sufficiency
(hppt://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2006/04/21/AR2006042100139.html)
19)
Wikipedia,
2008. Biofuel
(http://www.en.wikipedia.org/wiki/Ethanol_fuel).
20)
Wikipedia,
2008. Etahanol fuel
(http://www.en.wikipedia.org/wiki/Ethanol_fuel).
Trở về Trang Chính
|