|
1.
Ngoại trừ các Sinh Viên Việt Nam đi du học
tại Mỹ, còn lại đại đa số chúng ta đều là dân đi tị nạn chính
trị hay tị nạn kinh tế tại Mỹ. Chắc chắn, không ít thì nhiều,
chúng ta gặp phải những khó khăn trong cuộc sống gọi là “nhập
gia tùy tục” theo người Mỹ trong những ngày đầu tiên mới hội
nhập vào cái xã hội văn mình nầy. Mọi người đều trải qua hoặc ít
nhất cũng chứng kiến những hoàn cảnh đổi đời rất éo le, ngoài
sức tưởng tượng.
2.
Trường hợp của tôi, ngay từ khi chân ướt chân
ráo, “khố rách áo ôm,” tập tễnh bước lên đất Phi Luật Tân vào
đầu tháng 5 năm 1975 lúc đã 26 tuổi đời. Tôi có thể được phân
loại là thành phần “tứ cố vô thân, tứ bề nhão nhéc:” chỉ có thân
một mình và một thằng em trai 16 tuổi đi theo, “trên răng dưới
dép” không có một bộ quần aó thứ 2 để thay đổi, và trong túi
không có tới 25 Cents để cạo gió khi ốm đau. Tôi đã có nhiều lúc
dở khóc dở cười; thứ nhất vì cái hoàn cảnh chia cách gia đình ở
Việt Nam, thứ hai là điều kiện kinh tế của hiện tại và tương lai
đen như mõm chó mực trong khi khả năng về Anh Ngữ của tôi rất
khiêm nhường - nói chuyện với Mỹ phải ra dấu rất mỏi tay; thêm
vào đó, sự ngỡ ngàng, lo âu và bàng hoàng về thân phận lưu vong
trên đất khách quê người. Về vấn đề sinh hoạt, chung đụng xã hội
[socialized] với dân tị nạn cùng hoàn cảnh với nhau cũng không
làm tôi phấn khởi thêm chút nào cả. Thật ra còn làm tôi ưu tư
hơn là đằng khác!
3.
Bỗng nhiên, ở trong trại tị nạn, người ngồi
bên cạnh tôi trong nhà ăn tập thể, hoặc lớp học Anh Ngũ sinh tồn
vào buổi tối, hoặc đứng trong hàng làm thủ tục giấy tờ định cư,
người mà tôi phải tiếp xúc và nói chuyện hàng ngày không phải là
người thân bằng quyến thuộc trong gia đình, không phải là bạn
bè, không phải là đồng nghiệp mà có thể là một vị cựu Đại Tá Chỉ
Huy Trưởng, đầy quan quyền, của Lực Lượng Hải Quan tại căn cứ
Phú Quốc hoặc anh ăn mày, chẳng có chút oai quyền nào cả, thường
hay cầm cái lon tới bàn tôi ngồi tai tiệm hủ tíu Thanh Xuân Sài
Gòn [ở gần nước mía và khô bò đu đủ Viễn Đông Sài Gòn cũ] để xin
tiền bố thí.
4.
Ngạc nhiên lớn nhất của tôi ở Phi Luật Tân là
tôi gặp lại tên du đãng khét tiếng nhất trong xóm tôi. Tên hắn
là Thành [không phải tên thật,] hắn là em của một người bạn thời
niên thiếu của tôi, lúc còn cởi truồng tắm mưa ở quê nhà. Trước
năm 1975, hắn đi đủ các thứ lính rồi đào ngũ: từ lính Nhảy Dù,
đến Biệt động quân, đến TQLC … và chuyên nghiệp sống về nghề
buôn bán “xì ke,” “quái xế [ăn trộm xe Honda,]” cướp bóc và ăn
hàng không trả tiền. Vào tết nguyên đán năm 1972, tên Thành vào
một tiệm tạp hoá trong xóm mua một chai “cognac” và dĩ nhiên hắn
không trả tiền ! Vì giá tiền chai rượu tây rất cao cho nên chủ
tiệm và thằng con trai lớn [tên này cũng là một tay du đảng cắc
ké] giằng co, gây gỗ với hắn. Hắn mở chốt và tung một trái lựu
đạn vào trong tiệm. Kết quả là chủ tiệm, vợ và 2 đứa con tổng
công 4 người chết ngay trong tiệm. Hắn bị bắt và đi tù ở khám
Chí Hòa. Trời đất thiên địa ơi ! Tôi gặp và nhận ra hắn khi hắn
đang thất thểu lang thang như chó mất chủ ở trại tị nạn Phi Luật
Tận: đầu cạo trọc, ghẻ lở đầy mình, mắt lừ đừ như cá ươn vì đang
lên cơn ghiền mà không có thuốc! Thành có 2 người bạn đồng hành
xâm mình xâm mẩy xanh lè và dung nhan cũng giống “sát nhân” như
hắn. Tôi gỉa vờ thân mật, dùng cái giọng đàn anh [vì tôi là bạn
chơi với anh hắn ngày trước] hỏi rằng:
- Ủa, anh tưởng chú đang nằm bóc mấy chục
cuốn lịch ở khám Chí Hòa?
Hắn lễ phép trả lời:
- Thưa anh, ngày 30 tháng tư, “người ta” mở
cửa “thành La Mã” [tên mà dân anh chị gọi khám Chí Hòa] cho mạnh
ai nấy đi. Em và 2 thằng bạn chạy thẳng ra bến Bạch Đằng, nhảy
lên tàu buôn và chạy qua đây [Phi Luật Tân].
Hắn còn tiết lộ với tôi một cái bí mật thật
động trời:
- Trên tàu chạy qua đây, em “chôm” được 3
lạng vàng.
Tôi vờ vĩnh như thể chuyện đó có gì là quan
trọng đâu! Nói nửa đùa nửa thật là:
- Thôi chú bán bớt một hai lạng đi, lấy tiền
mua cho đàn anh một bộ quần áo để khi ra khỏi trại có quần áo mà
mặc cho nó đỡ tủi.
Sự trả lời của hắn tương tự như là một mẩu
đối thoại mà tôi đã đọc trong chuyện “Bố Già” đã được dịch từ
“Godfather” và phát hành ở Sài Gòn trước ngày 30 tháng 4 năm
1975:
- Không được anh ạ, vàng này em đem qua Mỹ
mới bán để lấy tiền mua “đồ chơi [nói nôm na là mua súng đạn!]”
Rồi thay vì bán vàng giúp đỡ đàn anh một bộ
quần áo, Thành tự xin cống hiến cho tôi một cái “bảo vệ an ninh
cá nhân” miễn phí:
- Ở trại này, nếu anh ghét đứa nào thì nói
cho em biết. Tối em sẽ “lụi” nó.
Bố bảo tôi cũng không dám nhận sự giúp đỡ
“thành thật và quí hoá” này!!!
5.
Rồi thời gian và cuộc đời trôi qua thật nhanh
chóng như cuốn băng nhựa video được quay tới cho nhanh. Tôi được
chuyển từ Phi Luật Tận sang trại tị nạn Guam, sau đó tới trại tị
nạn “Camp Pendleton” ở California. Tôi nghe người quen nói là
Thành cũng qua Mỹ và đi định cư ở Tiểu Bang Florida gì đó không
rõ. Tôi không có lý do gì cần phải quan tâm và liên lạc với hắn.
Vào tháng 9 năm 1975, tôi và thằng em trai
được “sì pông so” và đi định cư tại tiểu bang New Mexico. Vì
sinh kế, quá khổ cực mà vẫn không đủ sống qua các công việc lao
động tay chân như đào mương, rửa chén, dọn bàn, bán săng, tôi và
thằng em trai tiếp tục lưu lạc qua thêm vài tiểu bang nữa, và
cuối cùng định cư tại San Diego California vào giữa năm 1976.
6.
Khoảng năm 1978 tình cờ [sau 1975, cuộc đời
đầy rẫy các sự tình cờ!] tôi gặp lại Thành ở San Diego trong một
bãi đậu xe. Đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác. Bây giờ
đây, tôi thấy Thành với dáng dấp trắng trẻo bảnh bao. Đầu tóc
chải tươm tất. Áo trắng bỏ trong quần đen ủi gọn ghẽ thẳng hàng.
Thành trông thong thả như cậu ấm con nhà giàu. Ăn nói thì nhỏ
nhẹ nhã nhặn. Sau khi chào hỏi qua loa, Thành nói với tôi là:
- Em đang học năm thứ 3 tại trường
“California State University at Long Beach” với chuyên khoa Điện
Tử!
Thay vì nói chuyện về mua súng, cướp
bóc..v.v. . Thành nói về “projects” này “projects” nọ trong
chương trình học điện tử tại Long Beach. Đồng thời Thành cũng
cho biết trong một năm nữa hắn sẽ là “Electronic Engineer”
chuyên về “Electronic Circuit Designing.” Trong thời gian đó
[1978] tôi mang tiếng là đã tốt nghiệp Kỹ Sư ở Việt nam mà vẫn
còn là “fulltime Dishwasher.” Kể từ ngày đặt chân lên đất Mỹ từ
tháng 9 năm 1975 đến năm 1978 tôi hoàn toàn chưa có đi học một
giờ nào trong trường học cả. Cứ lúi húi rửa chén kiếm sống cho
qua ngày tháng ? Tôi cảm thấy mí mắt tôi có cái gì ướt ướt;
không biết đó là nước mắt của chính mình đã ứa ra từ hồi nào mà
không biết hay chỉ là nước đái của mấy con chim hải âu đang bay
là đà kiếm thức ăn ở phía trên ngọn mấy cây cột đèn ở bãi đậu
xe.
7.
Không bao lâu sau đó, trong một dịp đi ghé
qua San Jose, tôi gặp lại vợ chồng một ông thầy cũ hồi tôi con
đi học ở Saigon mà tôi rất quí mến. Hồi đó, tôi kính nể thầy hết
chỗ nói vì ngoài cái kiến thức chuyên môn giảng dạy của thầy,
thầy ăn nói hoạt bát tiếu lâm không chịu được. Tôi đã rất nhiều
lần ước ao được trở thành một công dân giống như thầy khi tôi
trưởng thành. Thầy trò tay bắt mặt mừng. Sau màn hỏi thăm rối
rít về cuộc hành trình của mỗi người từ ngày rời Việt Nam cho
đến lúc gặp nhau ở San Jose này, thầy hỏi tôi:
- Thể bây giờ em đang làm gì để sống?
Thú thật lâu lắm rồi tôi mới có dip được
trình bầy cái “resume” vừa mới cập nhật của tôi:
- Thưa thầy em đang rửa chén “fulltime” cho 2
nhà hàng: một Tầu một Mỹ.
Thầy tôi ngạc nhiên hỏi:
- Sao em lại phải rửa chén tới 2 nhà hàng?
Tôi trả lời chua chát:
- Thưa thầy, vì em "làm ngày không đủ, tranh
thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật" làm một chỗ với lương tối thiểu
sống không nổi cho nên em phải làm 2 chỗ, “fulltime” 80 tiếng
một tuần, làm cả thứ bẩy và chủ nhật. Thế còn thầy và cô hiện
đang làm gì?
Vẫn cái máu tiếu lâm ngày nào, ông thầy trả
lời:
- Hai vợ chồng thầy đều làm nghề điện tử cả.
Thầy là Tách [technician] còn Cô là Ly [assembly.] Sống cũng
tạm được.
Thật nản, ông thầy giỏi đáng kính, nay phải
làm nghề “Tách với Ly”. Đời đã thay đổi bao nhiêu rồi ?
8.
Có lần tôi đi làm và ghé lại ăn trưa tại tiệm
“Phở 79” ở Chinatown, Los Angeles California. Vào giờ đã quá
trưa nên tiệm rất vắng khách. Tôi kiếm chuyện hỏi thăm chuyện
một bác dọn bàn đầu đã ngả mầu muối tiêu và có dáng dấp rút rè
cho qua giờ. Sau khi qua vài hằng tâm sự, tôi mới được biết bác
mới đến Mỹ qua diện “HO” [cũng được gọi là diện “Hỡi Ôi!”] và
trước năm 1975 bác là một sĩ quan cấp Tá thuộc Lực Lượng Biệt
Kích Dù [Liên Đoàn 81 – Delta.] Tôi không cầm được nước mắt khi
nhìn một chiến sĩ từng vào sinh ra tử, đã đóng góp mồ hôi, xương
máu của chính mình cho đại nghĩa, cho màu cờ sắc áo trong những
ngày binh lửa chuan chuyên. Phần thưởng bây giờ đây ở cuối cuộc
đời là công việc dọn chén dĩa và lau bàn cho những người khách
hàng ngạo mạn nhìn người đồng hương làm việc tầm thường với con
mắt nhỏ bé !
9.
Hôm nay là ngày 4th July. Tôi ngồi nghĩ ngợi
vẩn vơ về sự đổi thay của cuộc đời sau gần 30 năm qua. Vị cựu
Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hải Quân Phú Quốc ngày nào, bây giờ
có thể là đã về hưu sau bao năm làm thợ cắt cỏ cho vườn nhà của
bạn, hoặc là một thợ điện tử mà người xếp [supervisor] là một
anh cựu Hạ sĩ. Tên Thành bây giờ có thể là một xếp lớn ở trong
một Công ty Điện tử nào đó hay có thể hắn đang là chủ nhân ông
của một công nghiệp nào đó. Không chừng hắn đã có con tốt nghiệp
Bác Sĩ hay Dược Sĩ rồi ? Khi nghĩ đến tên Thành, tôi không thể
không nghĩ đến anh chàng ăn mày tại tiệm hủ tíu Thanh Xuân Sài
gòn ngày xưa mà tôi đã gặp ở trại trị nạn ở Phi Luật Tân. Biết
đâu anh ăn mày ấy bây giờ đang là một Bác Sĩ hay Dược Sĩ nào đó
trên đất Mỹ và anh ta đang hành nghề y khoa, đang chỉ dẫn hoặc
điều trị cho đồng bào Việt Nam cách để dân Việt sống cho vui cho
khoẻ hơn. Cũng có thể anh ăn mày đó hiện là một chuyên gia kinh
tế đang chỉ dẫn dân Việt và Mỹ cách làm giàu, cách trở thành
triệu phú mau chóng. Có thể anh ăn mày đó là anh chàng “Tom Vu”
của các chương trình “infocommercial” đã chỉ dẫn khán thính giả
TV cách mua bán địa ốc để trở thành Triệu Phú chỉ trong một thời
gian ngắn! Cũng nên biết, trong chương trình “infocommercial”
trên TV, hắn ngồi giữa một đám bảy tám em gái Mỹ trắng mặc
bikini rất sexy trên một cái du thuyền thật xa xỉ. Hẳn chỉ ngón
tay vào cái ống kính của “camera” mà nói:
- “If you do not come to my seminar, you
deserve to be broke!”
Thật là hỗn láo. Vuốt mặt mà không nể mũi.
Hắn hiện đang ở tù trong nhà tù liên bang vì vấn đề trốn và gian
lận thuế. Đây cũng là cơ hội tốt để hắn suy gẫm về câu “you
deserve to be broke !” Cuộc đời con dài và sự thay đổi chưa
ngừng đâu !
10.
Tôi có ông anh hiện còn đang sống ở Việt Nam.
Trước 30 tháng 4 năm 1975 ông anh làm nghề thầy giáo dạy trung
học. Sau năm 1975 ông anh làm đủ các nghề lặt vặt từ khuân vác,
đến lãnh “Bia” đi giao các quán cóc và cũng vài lần cố gắng tìm
cơ hội để trở lại công việc dạy học. Nhưng với nghề dạy học, anh
kiếm không đủ tiền để nuôi vợ con. Nhận xét và thắc mắc của anh
về người Việt tị nạn ở Mỹ về thăm quê nhà là :
- Tại sao những người Việt về thăm quê nhà từ
Mỹ đều toàn là Bác Sĩ, Dược Sĩ và Kỹ Sư không vây ? Không có ai
làm thợ hay cu li sao ? Bộ Mỹ nó ngu làm hả ?
Câu trả lời của tôi là:
- Chắc chắn là người Mỹ không ngu rồi. Nếu
ngu, thì làm sao xứ Mỹ giàu có như vậy. Nếu họ ngu thì làm sao
họ lên mặt trăng được. Dân Việt tại Mỹ có nhiều Bác Sĩ, Dược Sĩ
và Kỹ Sư nhưng không phải mọi người đều là Bác Sĩ, Dược Sĩ và Kỹ
Sư. Ở Mỹ cũng có rất nhiều người Việt làm thợ và làm cu li.
Nhưng họ không tiện nói sự thật vì các lý do cá nhân riêng của
họ. Ngoài ra anh phải coi chừng các danh xưng. Ở Mỹ người công
nhân thay dầu cho các máy chiên gà tại các tiệm bán gà quay [KFC
Kentucky Fried Chicken] hoặc công nhân đổ rác cho thành phố đôi
khi cũng được gọi là Kỹ Sư [engineer, sanitation engineer ?]
người nào về Việt nam mà ở lâu hơn 2 tuần lễ đó là Cư Sĩ [thất
nghiệp ở nhà unemployed] chứ không phải là Kỹ Sư.
Ông anh tôi đầu đã bạc, răng đã rụng gần hết
mà vẫn gởi thơ xin trợ giúp tiền để anh mua một chiếc xe xích lô
đạp. Đạp xích lô mà sống thong thả hơn là làm nghề thầy giáo ở
Việt Nam. Thật chua xót ! Thay đổi, cách mạng gì mà mà kỳ cục
vậy !
Để an ủi mọi người thân quen đã và đang là
nạn nhân của sự đổi đời, tôi xin mạn phép nói là “mọi người đều
có số cả.” Số của bạn là gì ?
Thế Chiến Quốc, thế Xuân
Thu
Gặp thời thế, thế thời
phải thế.
(?)
Trời xanh kia
bắt làm người có thân
Bắt phong trần, phải
phong trần
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao
(Truyện Kiều Nguyễn
Du)
Thân mến,
Trần Văn Giang
Viết Nhân Ngày Độc Lập Của Hoa Kỳ.
Ý
kiến, phê bình xin gửi về:
tranvangiang@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|