|
Con
người đôi khi cần phải khóc. Không ai cần phải học cách khóc,
bởi vì ngay từ lúc được sinh ra ở cuộc đời này con người đã biết
khóc. Có lúc không cầm lòng được phải khóc trước đám đông như:
Khóc trong đám ma để bày tỏ lòng thương tiếc, khóc trong đám
cưới để để tỏ sự sung sướng hạnh phúc, khóc để lấy cảm tình của
người khác, khóc để cảm thông với hoàn cảnh của người khác, khóc
khi sum họp, khóc lúc chia ly... có lúc chẳng đặng đừng phải
khóc vì bị đối xử tàn nhẫn bởi các con người vô cảm… Cũng có
lúc phải khóc một mình: khóc thầm, khóc tủi trong đêm, khóc
trước bàn thờ, khóc trước cửa quan; khóc để thương xót cho số
phận hẩm hiu, bèo giạt hoa trôi của mình và của người thân...
Nhìn
lại vận mệnh nước Việt Nam qua lịch sử, dù cho chúng ta có bất
đồng chính kiến nhưng cũng phải đồng ý là dân Việt đã khóc nhiều
hơn cười.
So sánh
với các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đã có nhiều
cái đáng được gọi may mắn: chẳng hạn như là dòng giống Việt tộc
tương đối khá thuần chủng. Lịch sử Việt đã trải qua 4000 năm lẻ
mà chỉ vỏn vẹn chỉ có khoảng trên dưới 100 tên họ (last names)
và duy nhất một ngôn ngữ Việt Nam (tiếng Việt với 3 giọng phát
âm Nam Trung Bắc và một loại chữ viết – chữ quốc ngữ). Cứ nhìn
Phi luật tân. Họ có trên 1000 đảo mà người ở đảo này không thể
hiểu tiếng nói của người ở đảo bên cạnh, họ phải lấy tiếng Tây
ban nha rồi đến tiếng Anh làm căn bản mọi cho sự truyền thông
quốc gia. Ấn độ cũng một thời phải lấy tiếng Anh là căn bản vì
không thể lấy một ngôn ngữ địa phương nào thích đáng làm quốc
ngữ cho Ẩn độ. Trung hoa mặc dù không đến nỗi phải dùng ngoại
ngữ (Anh ngữ chẳng hạn) nhưng tiếng Quan thoại không phải là
giọng lưỡi của nhiều chủng tộc khác sống ở hoa lục. Nhiều nước ở
Phi châu phải dùng tiếng Pháp là quốc ngữ vì các bộ lạc không
thể đồng ý lựa chọn một thứ tiếng đại diện cho toàn quốc gia!
Chính vì cái độc đáo thuần chủng và tiếng Việt mà nước Việt Nam
tồn tại qua bao khắc nghiệt của những năm dài bị đô hộ, thuộc
địa, nội chiến…
Mặc dù
may mắn tồn tại, nhưng dân tộc Việt cũng đã chịu đựng nhiều,
phải nói là rất nhiều bất hạnh mà phần lớn là do lãnh đạo u mê.
Qua lịch sử, lãnh đạo ngu muội đã lần lượt đưa dân tộc vào các
giai đoạn đen tối đầy nước mắt.
Khi nào
thì nên khóc? Cũng dễ hiểu, đó là lúc buồn, lúc tủi, lúc đau
khổ, lúc cảm thấy bất lực… Lúc nào thì được xem là lúc buồn,
tủi, đau khổ nhất? Theo tôi không có gì buồn cho bằng lúc phải
chia ly - chia ly với người sống cũng như chia ly với người
chết. Lịch sử Việt Nam thật đặc biệt, đã ghi lại rất nhiều cuộc
chia ly vĩ đại buồn thảm, tang thương và điêu linh…
Sự
chia ly lịch sử đầu tiên vào thời (hoang sơ) lập quốc
Vua
Việt là Lạc Long quân (con của Kinh Dương Vương) lấy Bà Âu Cơ đẻ
được 100 con (?) Một ngày đẹp trời Lạc Long quân, có lẽ nghe
theo lời xúi bẩy của một ông thầy tướng số tử vi thời đó (?) nói
với bà Âu Cơ là:
“Ta
giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khác nhau, chung hợp
thật khó. Nàng nên đêm 50 đứa con lên núi, còn ta sẽ đem 50 con
về biển (Nam hải)”
Sử thần
Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt Sử Ký toàn thư” viết rằng:
“Theo
sách ‘Thông Giám Ngọai Kỷ,’ Bà Âu Cơ là con gái của Đế Lai. Đế
Lai là con Đế Nghi, mà Đế Nghi là anh của Kinh Dương Vương. Như
vậy, Lạc Long Quân là chú ruột của bà Âu Cơ mà hai người lại kết
hôn với nhau? Có lẽ thời ấy còn hoang sơ; lễ nhạc, đạo lý chưa
được đặt ra rõ rệt cho nên mới có chuyện kết hôn như vậy chăng?”
Ngay từ
đầu, cuộc hôn nhân Lạc Long Quân – Âu Cơ đã có “oan trái!”
Thành thử cũng khó mà bền chặt. Chia ly cũng không phải là
chuyện ngạc nhiên. Có điều nên để ý là hình như Bà Âu Cơ cũng
đã có nhiều bất đồng ý kiến riêng tư với Lạc Long Quân từ trước
rồi hay sao đó (không thấy lịch sử ghi chép gì về cái mảng này!)
thế là Bà Âu Cơ không hề lên tiếng phản đối đề nghị chia ly hoàn
toàn không cần thiết này của Lạc Long Quân. Bà Âu Cơ dẫn dắt 50
đứa con từ biệt chồng (và 50 đứa con) lên núi mất biệt. Dù bố
mẹ có giận nhau hay không giận nhau (?) thì trong hoàn cảnh chia
tay thế nào đi nữa, các con cái của Lạc Long Quân và Âu Cơ chắc
chắn đã có nhiều người khóc nhớ cha, người khóc nhớ mẹ, nhớ anh,
nhớ em… như di vỡ tổ. Đong đo làm sao cho hết nước mắt của 100
người con đã khóc đồng loạt vì cái sự chia ly “lảng xẹc” này!!!
Không biết truyền thuyết “50 con lên núi, 50 con xuống (vùng)
biển” của dân tộc Việt có đúng không? Gỉa thử trời cho người
Việt phép lạ được sống thọ vài ngàn năm tuổi thì bây giờ nếu
(50) người con của Lạc Long Quân tìm gặp lại được (50) người
“anh em” ruột thịt của mình đang sống ở miền thượng du; thấy họ
vẫn còn đóng khố, đít chai, vẫn còn ăn “cức khô” (cực khổ)
không… thì chắc là phải đau lòng không thể nào cầm được nước
mắt!
Thực
tế, chúng ta (người Kinh) hôm nay dường như hòan tòan dửng dưng
trước các sự đau khổ của người dân miền thượng du, tây nguyên…
Đó là chưa nói đến việc đối xử rất tàn nhẫn với họ; thí dụ như
trong vấn đề tranh chấp đất đai hiện nay.
Ở Nam
hải, người con trưởng của Lạc Long Quân là Vua Hùng Vương thứ
nhất đã dựng nên nước Việt của chúng ta. Như đã trình bày, lịch
sử lập quốc Việt Nam đã mở màn bằng một điềm gở: “cuộc chia ly
rất đau lòng.” Vận nước Việt thế rồi cứ theo cái điềm gở đó mà
tái diễn.
Sự
chia ly dưới thời kỳ đô hộ của Trung Hoa (1000 năm)
Năm
Canh Ngọ 111 trước tây nguyên (BC), tướng Lộ Bác Đức của nhà Hán
đánh chiếm nước Nam của vua Triệu Dương Vương, đổi tên nước Nam
Việt (của nhà Triệu) thành Giao Chỉ và đặt nền đô hộ tầu lần thứ
nhất dài 150 năm. Cho đến năm 40 sau tây nguyên (AD), Hai Bà
Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh đánh đuổi Thái thú Tô Định chạy về
tầu; giành lại độc lập.
Năm Quí
Mão 43, Hai Bà Trưng thua quân Mã Viện trong trận cuối cùng ở
Cẩm Khê (phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên). Mã Viện đuổi theo hai Bà
Trưng đến xã Hát Môn, huyện Phú Lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh
Sơn Tây). Thế bức quá, hai bà gieo mình xuống sông Hát (nay là
sông Đáy ở tỉnh Sơn Tây, chỗ dẫn vào sông Hồng) và đánh dấu giao
đoạn hai của sự đô hộ tầu. Giai đoạn này kéo dài gần 900 năm kế
tiếp sau đó.
Gọi là
“đô hộ” cho nó có vẻ văn minh và hợp với ngôn từ ngoại giao quốc
tế một chút, có nghĩa là người Trung hoa đến Việt Nam để khai
hóa và hướng dẫn dân Việt ra khỏi sự man di mọi rợ, chứ thực sự
là 1000 năm “lên rừng tìm ngà voi và xuống biển mò ngọc trai” để
dâng quan thầy Trung hoa đem về nước dùng. Nên biết là các quan
thầy đô hộ Trung hoa là người đã phát minh ra cái tiểu xảo “chỉ
cần mang theo lương thực đủ cho 3 ngày!” Cứ tưởng tượng quang
cảnh chim kêu vượn hú ở rừng sâu và lạnh lẽo âm u dưới đáy biển
trong 1000 năm liên tiếp thì cuộc sống của dân Giao Chỉ ta phải
ảm đạm đến cỡ nào?
Đi tìm
ngà voi và mò ngọc trai chứ đâu có phải là đi “picnic” mà dân
Giao Chỉ ta lại đem bố mẹ già, vợ con theo cho nó vui? Thành
thử trong 1000 năm dài đô hộ này, đếm làm sao cho hết các hòan
cảnh chia ly tập thể… Chắc chắn đã có rất nhiều người dân Việt
bị voi đạp trăn quấn, sốt rét chết trên rừng sâu hoặc bị cá mập
ăn thịt, bị chết đuối, chết trào máu tai máu mũi dưới đáy biển;
không có ngày trở về gặp lại bố mẹ vợ con.
Cho mãi
đến năm Kỷ Hợi 939 (đúng 900 năm sau), Ngô Quyền đứng lên đuổi
quân Nam Hán, xưng vương dành lại độc lập cho xứ sở, tạm chấm
dứt “Chương trình 1000 năm phát triển kinh tế song phương
Hoa-Việt” (còn gọi là “chương trình tìm ngà voi và mò ngọc
trai”). Sau đó, nhà Minh của Trung Hoa, thấy 1000 năm đô hộ
Việt Nam hình như chưa đủ, nên đã trở lại Việt Nam định trùng tu
lại cái “Chương trình phát triển kinh tế song phương” này thêm
1000 năm nữa. Nhưng nhà Minh không thành công. Quân tầu chỉ
“đô hộ” thêm đuợc một thời gian ngắn (12 năm – từ 1414 đến
1427). Sau đó, người dân Việt sống tương đối thái bình, yên ổn,
sum họp cho đến giai đoạn Nam Bắc phần tranh.
Sự
chia ly vì Nam Bắc phân tranh
Đến
thời mạt Lê (giữa thế kỷ thứ 16), dân Việt lâm vào giai đoạn
“nồi da sáo thịt; củi đậu nấu đậu” đầu tiên. Các người viết sử
gọi giai đoạn này là “Nam Bắc Phân Tranh.” Nghe thoáng qua cứ
ngỡ là người dân miền Nam và người dân miền Bắc của Việt Nam
phân tranh, đánh nhau để dành của cải của ông cha để lại. Thực
tế, đây hoàn toàn chỉ là sự phân tranh” quyền lợi của 2 gia đình
các ông chúa Trịnh và Chúa Nguyễn; và dân Việt bị kẹt ở giữa cái
hòan cảnh “Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.”
Năm
1545, trong cuộc tranh chấp giữa họ Mạc và nhà hậu Lê, một vị
tướng nhà Lê là Nguyễn Kim bị hàng tướng của họ Mạc đánh thuốc
độc chết. Binh quyền nhà Lê lọt vào tay của con rể Nguyễn Kim
là tướng Trịnh Kiểm (Trịnh Kiếm lấy trưởng nữ của Nguyễn Kim là
Nguyễn Thị Ngọc Bảo, chị của Nguyễn Hoàng - con trai nhỏ nhất).
Thế rồi vận nước giống y như chuyện gây gỗ riêng tư của 2 gia
đình! Để nắm trọn binh quyền, Trịnh Kiểm giết con cả của Nguyễn
Kim là Nguyễn Uông. Em út của Nguyễn Uông là Nguyễn Hoàng lo sợ
cũng bị anh rể hãm hại nên xin vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh
Kiểm cho rằng đất Thuận Hóa xa xôi, hoang vu, khó phòng bị nên
đồng ý cho Nguyễn Hòang đi. Trịnh Kiểm cũng nhằm mục đích mượn
tay quân Mạc để giết Nguyễn Hoàng ở Thuận hóa. Tuy nhiên Nguyễn
Hoàng không những đánh bại quân Mạc ở Thuận Hoá mà lại được lòng
dân Thuận Hoá. Đến khi Trịnh Kiểm chết (1570), con thứ là Trịnh
Tùng giết anh cả là Trịnh Cối và nắm lấy binh quyền. Trịnh Tùng
sau khi đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng và áp chế vua Lê Thế Tông
(còn nhỏ tuổi), Trịnh Tùng mới tính đến chuyện diệt Nguyễn
Hoàng.
Cai oái
oăm ở đây là Trinh Tùng, con Trịnh Kiểm, gọi Nguyễn Hoàng là cậu
ruột! Chẳng những thế, Nguyễn Hoàng lúc thất thế bí quá, muốn
lấy lòng Trịnh Kiểm cho nên đã gả con gái của mình là Ngọc Tú
cho con trai Trịnh Tùng là Trịnh Tráng – Cháu lấy cô! Thế mới
thấy rằng vì quyền lợi và mạng sống con người có thể làm đủ mọi
cách không kể gì luân lý, đạo đức…
Dân
lành vô tội Việt Nam thời bấy giờ như quân hội vô phèng, như chó
mất chủ, chay toán loạn vô trật tự: nhiều người Đàng ngoài (chúa
Trịnh, phía bắc sông Gianh) thì chạy vào Đàng Trong (Chúa
nguyễn, phía nam sông Gianh); nhiều người Đàng trong thì chạy ra
Đàng ngoài. Anh em, chú cháu, cậu cháu… khi không giết nhau chí
tử như có thù truyền kiếp. Ngay trong mỗi gia đình Chúa Trịnh
(cũng như trong gia đình chúa Nguyễn) anh em chú cháu cũng giết
lẫn nhau hàng ngày để tranh dành quyền thế, binh lực… Biết bao
nhiêu là gia đình đã bị chia ly trong hòan cảnh đầy máu và nước
mắt ở giai đoạn nhiễu nhương nầy.
Trịnh
Tùng và Nguyễn Hoàng đã chuẩn bị ráo riết về quân sự và dân sự
để sửa soạn đánh nhau. Nhưng phải chờ đến thế hệ kế tiếp là
Nguyễn Phúc Nguyên (tức Chúa Sãi lên thay cha là Nguyễn Hoàng
năm 1613) và Trịnh Tráng (thay cha là Trịnh Tùng năm 1623) thì
hai lãnh Chúa mới thực sự đánh nhau trận đầu tiên vào tháng 3
năm 1627. Trong 45 năm ròng rã kế tiếp (từ 1627 đến 1672) hai
Chúa Trịnh Nguyễn đánh nhau tổng cộng 7 trận. Hàng chục vạn
sinh linh (đại đa số là anh em, chú cháu) đã phải hy sinh. Các
trận đánh thường chỉ kéo dài vài tháng - ngoại trừ trận thứ 5
kéo dài đến 5 năm (1655-1660) - và các trận đánh chỉ quanh
quẩn trên 3 tỉnh giáp ranh là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Trong 7 trận đánh này, không có phe nào được xem là toàn thắng.
Cứ thỉnh thoảng hai bên phải tạm ngừng chiến để củng cố lực
lượng, an bài chính sự, nội bộ rối ren; và lấy sông Gianh (thuộc
tỉnh Quảng Bình) làm đường ranh chia đôi nam bắc.
Thực ra
phải nói là họ Trịnh và Nguyễn đã đánh nhau tổng cộng là 8 trận.
Tuy nhiên trận thứ 8 (năm 1774-1775) phe của chúa Trịnh Sâm có
sự can dự và giúp đỡ của quân Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ)
nên các sử gia không kể trận thứ 8 là (chúa) Trịnh – Nguyễn phân
tranh. Trận thứ 8 này, về phuơng diện lãnh thổ, quân Trịnh Sâm
đã chiếm đến tận Quảng Nam tức là lấn qua cả địa bàn chính của
chúa Nguyễn là Thuận Hóa. Nhưng chỉ 10 năm sau đó (vào năm 1786)
thì Tây Sơn diệt cả 2 chúa Trịnh-Nguyễn một lượt cho tiện sổ
sách và chấm dứt luôn cái chuyện dài “Đàng trong Đàng ngoài.”
Sự
chia ly dưới thời Pháp thuộc
Sau khi
vua Tự đức và triều đình Huế đánh thua Pháp, ký hòa ước 1884
(*), thì nước đại Pháp chia Việt Nam ra không phải là 2 miền Nam
Bắc mà là 3 miền Nam Trung Bắc để dễ cai trị. Người Pháp cũng
bắt đầu thi hành các chương trình thực dân để khai thác tài
nguyên và xương máu của dân tộc Việt.
Kể cũng
lạ, người Pháp đã đến đến xâm lăng và “đô hộ” Việt Nam với cùng
một chiều bài như người Trung hoa đã dùng trong 1000 năm: “Họ
đến để khai phóng một dân tộc lạc hậu!” Người Trung hoa và
người Pháp đều có một điểm giống nhau là “sống thiếu vệ sinh”
(đây là nhận xét có ghi trên giấy tờ của quan sát viên quốc tế,
không phải của người viết bài này!) và cả hai đều đặc biệt chú ý
đến “sự lạc hậu” của Việt Nam. Họ cứ chực lăm le đòi đến khai
hóa Việt Nam mặc dù Việt Nam chẳng hề mời mọc họ đến “đô hộ”
mình gì cả!
Trung
hoa mỗi khi củng cố nội bộ của họ xong là họ tính ngay đến
chuyện xua quân qua biên giới để thôn tính Việt Nam. Còn người
Pháp vì địa lý cách trở xa xôi, không thể dùng quân sự ồ ạt tấn
công Việt Nam như Trung hoa được. Họ phải chia sự thôn tính ra
làm 2 giai đọan. Giai đọan đầu, họ đưa các ông cố đạo hiền khô,
không có vũ khí đến Việt Nam để truyền giáo. Các ông cố đạo đưa
thánh kinh cho dân Việt và bảo dân Việt nhắm mắt lại để cầu
nguyện. Dân Việt thật hiền hậu, hiếu khách. Sau khi vui vẻ
nghe giảng đạo xong, cầm thánh kinh nhắm mắt cầu nguyện. Đến
lúc mở mắt ra thì tầu chiến của Pháp đã bắn vào cửa Thị Nại, và
lính viễn chinh của Pháp với đầy đủ súng ống đã đổ bộ lên đất
liền. Dân Việt nửa tỉnh nửa mê trở tay không kịp nữa.
Thời kỳ
Pháp thuộc khởi đầu bằng “Chương trình 100 năm hợp tác phát
triển kinh tế Việt-Pháp.” Chương trình này dựa trên căn bản
“50-50” rất bình đẳng (?) có nghĩa là cứ mỗi lần người Pháp thu
vào 50 đồng thì người Việt được chia 50 xu. Dân Việt vì xưa nay
vẫn theo Nho giáo, chỉ học chữ Nho từ chương, chỉ giỏi làm thơ
phú cho nên còn kém về toán học. Thành thử không phân biệt được
50 đồng và 50 xu (vì đều là 50!). Tội nghiệp cho dân tộc, thêm
gần 100 năm sau mới hiểu và hòan tòan sáng mắt ra!
Dân
Việt bị người Pháp bóc lột tận xương chỉ còn mỗi cái khố mang
trên người. Vì đói quá cho nên nhiều chủ gia đình đã phải từ
giã vợ con để tham gia chương trình mộ phu mỏ than hoặc phu cạo
mủ trong các đồn điền cao su ở vùng khỉ ho cò gáy. Nhiều người
đã chết và được chôn làm phân bón ở ngay gốc cây cao su …
Sự chia
ly (cuộc di cư) năm 1954:
… Việt
minh thắng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Người Pháp đầu hàng
vô điều kiện và đồng ý rút ra khỏi Việt Nam, trả nước Việt lại
cho dân Việt. Căn cứ vào khoản “14D” của Hiệp định Geneve, dân
chúng của cả hai miền Nam Bắc được tự do lựa chọn miền đất sống
của mình trong vòng 300 ngày sau khi hiệp định được ký kết.
Kết quả đã có “cuộc bỏ phiếu bằng chân” đầu tiên và lớn nhất
lịch sử Việt Nam đã diễn ra năm 1954-55 này: một triệu người
miền Bắc di cư vào nam, hay nói cách khác đã chạy vào miền nam
để tránh CS. Trên một triệu người bỏ quê cha đất tổ, bỏ bố mẹ,
bỏ chị, bỏ anh, bỏ em để chạy … không biết họ có đủ thời giờ nói
lời từ biệt hay không? Không biết họ có đủ thời giờ để khóc
than cho sự chia ly định mệnh này không? Đây là đầu tiên trong
lịch sử Việt Nam danh từ “Di cư” được dùng (từ chính phủ Ngô
Đình Diệm) để chỉ cuộc chia ly vĩ đại.
Lần này
con sông Bến Hải (thuộc tỉnh Quảng Trị ?) là lằn ranh mới của 2
miền Nam Bắc.
Sự
chia ly (vượt biển, di tản) năm 1975 và những năm kế tiếp:
Trong
giai đọan “đánh Mỹ cứu nước,” đã có rất nhiều sự chia ly gia
đình và rồi phải “sinh Bắc tử Nam.” Cuộc chiến kết thúc ngày 30
tháng 4 năm 1975. Miền Nam thất trận, tan hàng như ong vỡ tổ.
Đồng thời có một cuộc chia ly vĩ đại vô trật tự, tang thương gấp
mưới mấy lần “di cư” năm 1954. Cũng là lần đầu tiên trong lịch
sử, chữ “Di tản” (và “Vượt biên”) đã được sử dụng. Dân miền nam
Việt Nam cứ chạy bừa ra biển Đông để thoát thân mặc dù đại đa số
không biết bơi. Theo tổng kết của “Cao Ủy Tị Nạn Quốc Tế” thì
số người tham dự các cuộc vượt biên, vượt biển … đã có đến 3
triệu người. Họ đã bỏ nước ra đi đầy nước mắt. Có hàng trăm
ngàn người dân Việt Nam đã bỏ xác trong lòng đại dương vì đói
khát, giông bão, hải tặc Thái Lan… tiếng than khóc ngất trời cho
đến tượng đá cũng phải nhỏ lệ...
Tại
quốc nội, trong giai đọan này, phải kể thêm sự chia ly của hàng
trăm ngàn gia đình những người dân miền nam bị bắt đi học “cải
tạo” (“chỉ cần đem theo lương thực đủ 3 ngày!”)… Qua những sự
chia ly trên đất liền này, có thêm hàng trăm ngàn nhân mạng đã
phải hy sinh vì sự cơ cực, đày đọa ở các trại “học tập.” Phải
thắc mắc là “chiến thắng vĩ đại của dân tộc” mà sao sau đó lại
có nhiều dân lành mất mạng như vậy???
Sự
Chia ly của ngày (giờ) hôm nay...
Chương
trình vượt biên, vượt biển đã chính thức được đóng sổ. Hôm nay,
dân Việt Nam đang phải đương đầu với những cuộc chia lý mới:
hàng trăm, hàng ngàn các thiếu nữ ngây thơ phải chia tay với cha
mẹ, anh em, ruộng vườn để đi lấy chồng xa lạ ở Đại hàn, Đài
loan, Trung quốc… đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ v..v..
chia ly với gia đình để đi theo các chương trình “xuất cảng lao
động” sang Ba lan, Hung gia lợi, Tiệp khắc, Sô viết, Trung quốc,
Mã lai, Tân gia ba… trẻ thơ chia ly với bố mẹ để đi làm… kiếm
sống ở Cao miên v..v.. những người dân còn ở lại thì đã khóc hết
nước mắt vì mất đất, mất nhà, mất tương lai, mất tất cả…
Không
hiểu là chúng ta đây, những người đã có đời sống yên ổn, cũng
chỉ ngồi nhìn dân tộc mình khóc cho qua ngày qua tháng hay
sao???
“…Thượng Đế hỡi có thấu
cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên…”
(Lê Minh Bằng – “Đêm nguyện cầu”)
“Còn trời còn đất còn non
nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này”
(Nguyễn
Công Trứ - “Quân Tử Cố Cùng”)
Trần Văn Giang
11/26/2007
Chú
thích:
(*) Hòa
ước Qúy Mùi (23-7-1883) công nhận sự bảo hộ của Pháp. Hòa Ước
Giáp Thân (6-6-1884) tu chính lại Hiệp Ước Quí Mùi 1883 một chút
đỉnh thôi.
Tham
khảo:
- “Đại
Việt Sử ký Tòan Thư” của Ngô Sĩ Liên
- “Việt
Nam Sử Luợc” của Trần Trọng Kim
- “Việt
Sử Tòan Thư” của Phạm văn Sơn
Ý
kiến, phê bình xin gửi về:
tranvangiang@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|