|
Ngay sau vụ 9-11, một
bài viết trên tuần báo Time nêu lên cùng một câu hỏi của hai thanh niên 17 tuổi,
một ngưòi Mỹ và một ngưòi Middle East. Câu hỏi đầy ngạc nhiên và sợ hãi “Tại sao
họ ghét chúng ta”,”Why they hate us?” Sau đó, ngưòi Mỹ đổ xô tìm hiểu về miền
Middle East, nơi họ tin vừa gửi đến cho họ một quà tặng đẫm máu: vụ 9-11-2001.
Văn cảnh tiếng Việt dùng
chung chữ “Hồi” cho nhiều ý niệm: Hồi giáo/Islam, ngưòi Hồi/Muslim hay Hồi
quốc/Pakistan. Theo tiếng Trung Hoa, ý niệm Hồi Hột,
Hồi Hồi ám chỉ mạn bắc của Trung Hoa từ năm 616 đến 840, lúc bước chân ngưòi Hoa
chưa ra khỏi Ngọc Môn Quan và Nhạn Môn Quan. Về sau, ám chỉ luôn cả ngưòi và khu
vực Trung Á/Central Asia. Do đó, Hồi Hồi này không là “Hồi Hồi” ở miền Trung
Đông/Middle East.
Middle East là một
vùng đất khác hẳn. Lúc đó và ngay cả bây giờ, Middle East là vùng cực kỳ đa dạng
về ngôn ngữ, sắc tộc, niềm tin, văn hoá, mỹ thuật… Không phải ngưòi ở vùng
Middle đều theo Islam, hoặc nguời Pakistan đều là Muslim, hoặc tất cả ngưòi
Muslim đều là … khủng bố. Theo tiếng Arabic, “Islam”để chỉ tôn giáo, “Muslim”để
chỉ người theo Islam. Trong bài này, sẽ dùng Islam và Muslim theo nghĩa này.
Riêng tại miền Nam Việt Nam, trước 1975 ở Saigon có một thánh đuờng Islam ở khu
Chợ Cũ. Ở Châu Đốc, Phan Rang… đều có cộng đồng ngưòi Chàm/Chăm Muslim. Ở Xuân
Lộc (Đồng Nai), men theo mé biển trước khi vào Bình Thuận cũng có một Thánh
đường Islam kiến trúc rất đẹp của người Chăm.
Theo cựu tổng thống
Jimmy Carter/Nobel Hòa Bình 2002, từ lâu người ta yên chí không còn chút hy vọng
cho nền hoà bình Trung Đông. Theo ông, hy vọng đó chỉ nằm sâu dưới đáy tuyệt
vọng, nhưng không chết vì lịch sử chứng minh mỗi khi muốn ngồi lại với nhau,
những thế lực đối chọi ở Trung Đông luôn cần đến một lực lựong thứ ba làm trung
gian, Hoa Kỳ chính là thế lực này. Mới đây, ngày 22 tháng sáu, tổng thống Pháp
Nicolas Sarkozy đã khơi dậy sự bực tức và tò mò nơi thế giới Islam và
không-Islam bằng lời phát biểu của ông đọc trước quốc hội Pháp. Ông không chấp
nhận tấm khăn choàng burqa của phụ nữ Muslim, coi đó như giam cầm trói buộc họ.
Cả hai suy nghĩ trên
đều theo thói quen của ngưòi da trắng quen định đoạt số mệnh của nguời khác dù
có hay không đuợc yêu cầu. Ông Sarkozy quên rằng chính người Anh/Pháp phải chịu
trách nhiêm trực tiếp khi chia chác nhằm băm vằm miền Middle East theo quyền lợi
của họ sau Thế Chiến I. Một số miền bị sát nhập hay thành lập quốc gia mới -
Iraq, Kuwait, Palestine, Israel- bất kể sự khác biệt sâu xa cả ngàn năm về tôn
giáo, sắc tộc, văn hoá và lịch sử, gây bao đau thuơng và là mầm mống cho sự giận
dữ gây nên bất ổn cho toàn vùng mãi đến bây giờ.
Là nguyên thủ quốc gia,
ông Sarkozy có thể không chấp nhận tấm burqa về phương diện an ninh, nhưng không
đuợc quyền quyết định một điều mà chỉ ngưòi phụ nữ Muslim mới có quyền: “khăn
choàng có giam cầm trói buộc phụ nữ Muslim” không. Không ai có thể trả lời thay
cho họ vì mỗi sắc dân đều có những tư duy văn hoá riêng. Ví dụ những bức ảnh
trên nguời không một manh vải cuả phu nhân tổng thống Sarkozy, khi còn là một
nguời mẫu, chạy tứ tung trên internet không hề gây khó chịu nơi ngưòi Pháp, tuy
nhiên điều này chắc chắn không thể chấp nhận ở nuớc Mỹ. Trong cuốn The Middle
East, tạp chí Time ấn hành năm 2006, phụ nữ Muslim cho rằng chính niềm tin
tôn giáo đã giải phóng họ. Tấm áo choàng che kín mặt mũi họ chính là biểu tượng
của tự do, che chở họ khỏi dục vọng của đàn ông, và là niềm hãnh diện Islam.
Ông Sarkozy
cũng có thể từ chối ngưòi Muslim nhập cảnh. Nhưng nếu nhận sự có mặt và phần
đóng góp của họ vào nuớc Pháp, tại sao kỳ thị y phục của họ? Nếu bộ áo không
làm nên thầy tu, bộ áo cũng không làm nên khủng bố. Cấm burqa không có nghĩa là
tiêu diệt hết nguyên nhân sâu xa của khủng bố, bất ổn. Câu trả lời nằm trong câu
hỏi của Hugo Grotius, cha đẻ môn học luật quốc tế “Không biết loài ngưòi nằm
trong tay khoảng một trăm nguời, hay một trăm nguời này thuộc về loài người”.
Ông nghiêng về ý kiến thứ nhất: loài ngưòi như những bầy thú vật đựơc một ông
chủ cao quí chăn dắt, ngả thịt dần dần.
Một thoáng lịch sử
Tấm khăn choàng không
phải chỉ độc quyền nơi nguời Muslim, mà hiện diện nơi nhiều dân tộc trên thế
giới, cả nam lẫn nữ. Khăn choàng hoặc dùng trang điểm cho
mái tóc, hoặc che chở khỏi khí hậu, hoặc là biểu tưọng dân tộc tính, hoặc chứng
tỏ vương quyền
Ở Hy Lạp thời cổ, phụ nữ
đều đội khăn. Ở châu Âu, mãi đến năm 1175, các bà có chồng đều đội khăn che tóc,
một khăn khác quấn cả cổ, đỡ lấy cằm trông cứ như đau răng. Mãi đến thời thời
Tudor (1485-1603) mới may thành mũ, gọi là hood, chùm đầu và cổ. Riêng những
bức tranh vẽ nhân vật hoàng gia, đầu cổ kín mít với những lớp ren xếp như tổ
ong. Cô dâu thời La Mã đội khăn màu cam, màu của lửa che chở cô dâu khỏi ma quỉ
vốn chờ đợi cướp cô mang đi. Ngày xưa các trinh nữ châu Âu để tóc dài. Cô nào
kém tóc, liền thay thế bằng tấm khăn dài đến lưng. Chú rể là ngưòi mở khăn cô
dâu, như chứng nhận sự trinh tuyền và hứa hẹn truớc mặt gia đình sẽ yêu thuơng
và bảo bọc cô đến trọn đời.
Trước nữ hoàng Victoria,
đám cưói hoàng gia Anh đã dùng màu trắng. Nhưng thời đại Victoria (1837-1901) vẻ
vang đến nỗi cô dâu Victoria mặc áo cuới trắng mở đầu cho “white wedding” cho cả
châu Âu đến tận bây giờ. Sau khi hoàng tế Albert mất, nữ hoàng Victoria đau buồn
không trang điểm. Khi cần phải xuất hiện, bà đội một chiếc mũ vải khiêm nhuờng
và mang nữ trang toàn màu đen thay vì vương miện châu báu tưng bừng. Đó là chiếc
bonnet, khai sinh ra nhũng chiếc mũ vải xinh xắn sau này.
Ở Spain, khăn choàng gọi
là mantilla. Đám cuới, cô dâu choàng mantilla ren trắng từ đầu đến chân không
khác burqa của Muslim. Khi đi nhà thờ phải choàng mantilla ren đen. Tờ Life lưu
giữ ảnh Bà Ngô Đình Nhu đi nhà thờ choàng khăn ren đen đến lưng, đẹp quí phái
tuy khá lạc lõng giữa những giáo dân chân chất.
Ở Pháp, hai ngưòi đàn bà
tuyệt sắc của vương triều không thích choàng khăn. Madame de Pompadour
(1721-1764), ngưòi tình của vua Louis XV có ảnh hưỏng rất lớn trên văn hoá, giới
trí thức và cả sân khấu chính trị, chỉ quấn một khăn hoa đơn giản trên đầu cùng
màu với bộ váy. Hoàng hậu Marie Antoinette (1755-1793) gắn trên đầu những chiếc
mũ diêm dúa cắm đầy đăng ten hoa lá lông chim đuôi chồn trông như một sở thú nho
nhỏ nhưng rất mỹ thuật. Kinh thành Paris rộn ràng vui dưói lớp váy xoè sột soạt
và mũ đủ mầu đủ kiểu của bà. Từ đó, nguyên một kỹ nghệ làm nón làm mũ phục vụ
cho sự làm duyên làm dáng, khăn choàng và mũ không còn giữ ý nghĩa che chắn hay
bảo vệ nữa. Nguời có nhiều mũ nón nhất châu Âu có lẽ là Camilla Bowles, vợ thứ
hai của thái tử Charles, có lúc trông khá quái kiệt với cái mũ giống một con
nhím.
Ở châu Phi, cuộc sống du
mục hay bán du mục ruổi rong qua sa mạc đầy gió cát, đàn ông đàn bà đều khoác áo
choàng rộng phủ từ đầu đến chân. Một phim tài liệu chiếu cảnh nhà gái đưa dâu
trên lưng ngựa băng ngang qua cồn cát. Tất cả đều phủ kín mít giống nhau, khó
phân biệt ai là cô dâu, đề phòng cô dâu bị phục kích bắt cóc giữa đàng. Ngày
nay, tổng thống Obama tuy di chuyển trên trời, nhưng cũng áp dụng chiến thuật
này: cả hai chiếc Air Force I và Air Force II đều bay một lượt.
Ở Việt Nam, mỗi sắc tộc
đều có khăn đội đầu. Đơn giản nhất, có lẽ là khăn mỏ quạ của dân tộc Kinh ở
đồng bằng: khăn vuông gấp chéo, màu đen nhuộm bằng bùn. Đẹp nhất là khăn Piêu
của sắc tộc Thái miền núi. Các noọng dệt Piêu, thêu chỉ đỏ chỉ hồng cho ngày hội
tung còn. Piêu tặng ngưòi yêu thay lời hẹn, biếu gia đình chồng tỏ lòng kính
trọng. Ở miền Trung, hình như các bà các cô hiếm đội khăn, ngoại trừ trời lạnh.
Đàn ông đàn bà ngưòi Chăm đều đội khăn. Ở trong Nam, các bà phong lưu khoác khăn
lụa có in bông lớn gấp chéo choàng sau lưng thắt nút trứoc ngực trông rất sang.
Ngưòi bình dân dùng khăn rằn che nắng, kéo chùi quết trầu hay xuống sông tắm
quấn ngang ngực đặng tôm cá khỏi giựt mình.
Nơi ngưòi Do Thái, khăn
đựơc dùng từ trước thời Cựu Uớc. Cựu Uớc ghi khi Rebekah, cháu gái của Abraham -
ông tổ chung của ba tôn giáo Do Thái/Muslim/Ki Tô - đi gặp vị hôn phu Isaac,
nàng không che mặt. Lúc Isaac lại gần nàng kéo khăn che kín. Sau khi đuợc tu sĩ
chúc phúc, Isaac mới mở khăn ra. Tấm khăn do đó coi như một khoảng cách cần
thiết bảo vệ cô gái cho đến khi thân thuộc hẳn về chồng.
Cựu Uớc cũng ghi Jacob gặp
Rachael đang chăn cừu liền xin cưói nàng. Ông bố Labab ra điều kiện Jacob phải
làm việc cho ông 7 năm. Ngày cuới, ông Labab đánh tráo cô chị Leah, già và lạnh
lẽo hơn cô em Rachael. Vì chùm khăn kín mít nên Jacob không hay. Sau đó, ông
nhạc Labah rủ rê nếu Jacob chịu làm không công thêm 7 năm nữa, ông sẽ gả nốt
Rachael. Jacob đồng ý, nhưng lần này cẩn thận dở khăn che mặt, kẻo không có thể
lại bị ông già xí gạt uổng đời trai chăn cừu thêm 7 năm nữa không chừng. Từ đó
mới có tục chú rể mở khăn che mặt. Có lẽ nguời Do Thái buôn bán khôn ngoan và
giỏi chính trị nhờ kinh nghiệm bố vợ truyền từ Cựu Ứơc. Ai bảo chăn cừu là khổ?
Phụ nữ miền Central Asia
có nơi không choàng khăn, nhưng quần nhiều tấm vải đủ mầu với nhau trên đầu như
một turban.
Khăn choàng Ấn Độ là một
tuyệt phẩm của nghê thuật dệt và pha mầu. Một tấm lụa mỏng dài 5 thước quấn từ
eo xuống, phần còn lại choàng qua vai thả dài ra sau. Theo giáo sư Sushila
Singh/Banaras Hindu University ở Varanasi, Ấn Độ, Hijab là phẩm giá cao trọng
cuả phụ nữ, tấm khăn Purdah che chở phẩm giá ấy. Nhưng phụ nữ Ấn đuợc chọn lựa
có choàng hay không, choàng trên đâù hay chỉ khoác hững hờ qua vai.
Riêng tại miền Middle
East
Tấm khăn choàng là truyền
thống, không phải định chế tôn giáo. Với ngưòi Muslim,
đàn ông phải có râu đàn bà phải có khăn. Phụ nữ Muslim coi khăn là biểu tượng
của tự do che chở họ khỏi con mắt nhòm ngó của đàn ông.
Khăn choàng đã có từ
thời Assryria với nền văn minh Luỡng Hà nơi hai con sông Tigres và Euphrates gặp
nhau. Tương truyền, vì hoàng hậu quá đẹp nên truớc khi ra trận, vua buộc bà và
nguyên một dàn cung nữ phải đội khăn che kín mặt cho đến ngày ông về. Từ
đó, chỉ hoàng gia hay quí tộc mới đuợc che mặt. Về sau, dân dã mới bắt chước.
Ngoài những lý do khác, phụ nữ Muslim lưu giữ tấm khăn choàng có thể vì hãnh
diện với huyền thoại này.
Khăn chứng tỏ vưong
quyền nhất là khăn của những vị vua Ai Cập đã có từ nhiều ngàn năm Truớc Công
Nguyên. Khăn được kết bằng đá quí chứng tỏ sự giàu sang, kết bằng vàng hay bạc
tỏ quyền uy chói lọi, trên trán có hai con rắn tuợng trưng cho lửa. Khăn của
Cleopatre, nữ hoàng Ai Cập cuối cùng (69- 30 BC), đính đầy đá quí emerald.
Elizabeth Taylor đóng vai Cleopatre, là nguòi Do Thái 100%.
Trước khi có Islam, giá
trị phụ nữ Middle East còn kém gia súc. Vào thế kỷ thứ bẩy khi thiên sứ Muhammed
rao giảng Islam thay đổi sâu xa thân phận phụ nữ. Islam đình chỉ việc coi họ
là món hàng của dục tình, cho phụ nữ đuợc quyền thừa kế, cấm không đuợc chôn
sống bé gái và coi nền giáo dục cho các em gái là một điều thiêng liêng. Theo
tác giả Từ Công Nhượng, ngưòi Muslim dâng tặng ông là “thiên sứ Muhammed”, tiếng
Việt trước đây gọi ông là “thánh Muhammed” hay “tiên tri Muhammed” không hợp với
vai trò của ông, vốn là sứ giả của thượng đế, đấng Allah.
Theo cuốn “Âm Duơng
Trong Islam” (1) ngôn từ của Thiên sứ Muhmamed âu yếm đầy tính nguời, không khổ
hạnh hay hãm mình chi cả: “Ta yêu thích ba điều: đàn bà, dầu thơm và sự bình
an trong lễ nguyện”. Khi gặp khó khăn trên đưòng
truyền đạo, ông cầm tay vợ “Aisha ơi, hãy trò chuyện với ta đi”. Có ngưòi
hỏi ông “Ai xứng đáng được yêu thương và sự ân cần nhiều nhất”. Thiên sứ
trả lời “Mẹ của ngưoi”. Y hỏi tiếp “Kế đến là ai?” Người trả lời “Mẹ
của ngươi”. Y hỏi thêm “Kế đến là ai”. Câu trả lời “Mẹ của ngươi. Sau đó
là cha của ngươi”.
Hijab tiếng Arabic có
nghĩa tấm màn, che chắn, trú ẩn. Theo nghĩa Muslim có
nghĩa “khăn che đầu và áo cho phụ nữ.” Hijab là khăn vuông đủ thứ mầu và kiểu,
che tóc và quấn quanh cổ cho cả nam lẫn nữ. Kinh Qur’an không hề qui định về
việc phải choàng khăn. Duy có lần thánh Gabriel mặc khải với thiên sứ Mahammed
“Vợ ngươi cần phải y phục đoan trang”. Cũng cần nói thiên sứ Muhammad có
năm vợ từ nhiều bộ tộc nên y phục có thể khác nhau. Sự nhắc nhở trên có thể chỉ
nhằm riêng cho vợ của Mohammed vì bà phải làm gương truớc.
Khăn niqab che kín đầu cổ và mặt, chỉ hở mắt, ông Jack Straw,
Bộ Trưỏng Bộ Tư Pháp nuớc Anh không muốn phụ nữ Muslim dùng khăn này. Khăn burka
là loại kín mít che từ đầu đến chân, chỉ để hở một mạng lưới nhỏ ở mắt, thuờng
thấy ở vùng Bắc Afghanistan.
Loại thông dụng nhất là
al-amira gồm 1 mũ và một khăn quấn cổ, Khăn shayla là
một miếng vải dài hình chữ nhật quấn quanh đầu và chung quanh vai. Phụ nữ vùng
Vịnh thích loại này
Khăn khimar giống như chiếc áo mưa của quân đội, che tóc, cổ
và vai xuống tới vai, nhưng để lộ mặt, ở trong mặc áo rộng dài tới chân. Ngưòi
phụ nữ Middle East nổi tiếng mặc y phục này chính là Đức Mẹ Maria. Áo dòng Ki Tô
giáo thuộc cả hai giáo hội Phương Đông (Hy Lạp) và Phương Tây (La Mã) từa tụa
như khimar, màu đen, trắng, nâu, xanh da trời.
Khăn chador phủ toàn thể thân hình, phụ nữ Iran thuờng khoác
khi đi ra ngoài. Những bức tuợng Iran xưa hàng ngàn năm cho thấy có ngưòi đội
khăn có ngưòi không.
Sau cuôc biểu
tình đẫm máu ở Iran hai tuần trước, Neda ngã xuống, cổ họng phun máu con mắt mở
lớn kinh hoàng. “Họ đã giết Neda, nhưng không diệt đuợc tiếng nói của cô, Neda
là chị em, là con gái của mọi nguời, là tiếng nói khát vọng của tự do”. Ngày
22-6 “Reza Pahlavi, hoàng thái tử của triều đại Iran cuối cùng, nói với phóng
viên AFP ở Washington “Neda sẽ là con gái tôi. Neda sẽ luôn ở cùng chúng tôi”.
Trong ví tay, ông giữ tấm ảnh Neda choàng khăn, cùng với những hình ảnh thân
yêu khác, bà hoàng Yasmine và ba cô con gái.
70 năm trứơc,
phụ nữ Muslim tranh đấu để bỏ tấm khăn choàng. Ngày nay, khi Islam ngày càng
quay lại với truyền thống ngàn xưa, liệu phụ nữ Muslim sẽ vùng vẫy như phụ nữ
phương Tây, hay sẽ vĩnh viễn dấu mình dưói tấm khăn choàng ấy? Ước vọng Muslim
năm 2009 sẽ đơn thuần chỉ là việc giữ lại hay bãi bỏ tấm khăn choàng? Hay khát
vọng cháy bỏng đòi hỏi quyền được làm nguời tự do “sẽ cất cánh vượt lên tận
cõi thiêng liêng vươn xa hơn cả tấm mạng che phủ đất trời” ? (2)
trần
thị vĩnh-tường - 25 tháng Sáu, 2009
-----------------------------------------------------
(1)
Âm
Duơng Trong Islam - Từ Công Nhuợng- Tủ sách tìm hiểu Islam/California 2004
(2) The Veil
- Farid al-Din 'Attar
(1142-1221), thầy thuốc, lý thuyết gia, nhà thần học và thi sĩ lớn nhất của xứ
Iran. Khi ngưòi Mông Cổ xâm lăng Iran, ông bị họ chặt đầu vì nhạo báng họ.
1. Tên của bạn::
'Duong Loc'
2. E-Mail của bạn::
'l.duong@
3. Góp ý cho bài ? :
'Ao choang hay khong ao choang'
4. Góp ý, Phê bình::
'Cam on tac gia VT da cung cap rat nhieu y kien huu ich de
moi nguoi co the hieu ro them ve trang phuc cua nhung nguoi theo
dao Hoi.
Toi nghi khong nen so sanh khan choang cua nguoi phu nu Hoi giao
voi khan mo qua , khan dong , khan ran quan co cua nguoi VN vi
khong cung mot muc dich...
Toi xin de nghi tac gia tiep tuc viet them bai vai tro cua ao
choang trong dao Thien chua giao, Phat giao...de moi nguoi hieu
them mot chut ve ao choang hay khong ao choang
1. Tên của bạn::
'Nina Phuong Chau'
2. E-Mail của bạn::
'ngocha4545@
3. Góp ý cho bài ? :
'Ao choang hay khong ao choang ?'
4. Góp ý, Phê bình::
'Truoc het, la mot nguoi Muslim, toi xin cam on tac gia Tran
thi Vinh Tuong ve cac nhan xet xac dung lien quan den tu ngu
tieng Viet ve Islam. So di co tinh trang nay, la do cach goi da
duoc cac vi co dao cong giao ghi vao Tu Dien tu buoi dau: Hoi
Giao, dao Hoi, Thanh Ala....ma nha bien khao ky cuu ve Islam la
ong Dohamide tu thap nien 1960 da neu len khi viet ve Islam.
Tac gia Tran thi Vinh Tuong da nhap de rat trung thuc, nhung den
doan ket - rat tiec - van rap khuon lap luan sai lech gop chung
"nguoi Muslim" trong van de ao choang, ma thuc su la nhung kieu
ao chi rieng cua phu nu Trung Dong, song trong moi truong sa mac
thoi Trung Co, mang tinh van hoa dan toc. Nguoi Muslim o viet
Nam, Pakistan, Tho nhi ky, An Do, Indonesia, Malaysia, v.v...co
nhung khan doi dau kieu dang khac han. Do do, van de ao choang
do ba Tran thi Vinh Tuong neu len la cua rieng nguoi Muslim
Trung Dong, khong nen voi dua tat ca nguoi Muslim vao trong beu
rieu! Xin noi ro, de khoi hieu lam dang tiec.
1. Tên của bạn::
'Mai Phuong'
2. E-Mail của bạn::
'caubinhluc@
3. Góp ý cho bài ? :
' Áo coàng hay không áo choàng'
4. Góp ý, Phê bình::
'Giáo chủ mô ha mét củ a Hồi giáo có đến 10 vợ chứ không phải
5 . Aisha là người thứ 10 và khi về làm vợ Mohamed vừa đúng 10
tuổi .'
Trở về Trang Chính |