|
Bài viết này được khơi nguồn sau
khi lắng nghe đạo từ cuả hoà thượng Thích Chơn Thành phát thanh trên Little
Saigon Radio vào một ngày tháng Năm, “Tổ quốc chúng ta từ Động Đình Hồ”. Từ hàng
ngàn năm, giòng sông Phật Giáo chảy qua nhiều bến bờ, dẫu cô liêu hay phồn hoa,
dân tộc và Phật giáo là hai yếu tố không rời.

Hồ Động Đình ở đâu ?
Ở miền Nam sông Dương Tử. Hồ Động
Đình (Dòngtíng hú)
họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ,
làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến 20.000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa
hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quí hiếm
tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái,
liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên
cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam.
Từ miền Hoa Bắc sa
mạc, người thuộc chủng Hoa Hạ ào ào lưng ngựa triền miên chinh phục hết miền đất
này đến miền đất khác. Người Hoa Bắc nổi tiếng với nhiều lý thuyết gia, nhưng
văn chương rất khô khan. Trái lại, miền Nam sông Dương Tử, nhất là miệt Động
Đình sông nước mây khói mơ màng, nổi tiếng nhất với hai con sông Tiêu và Tương
chảy vào lòng hồ, đã là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ văn, hội hoạ, âm nhạc…
“Ai có về bên bến sông Tương. Nhắn người duyên dáng tôi thương. Bao ngày ôm mối tơ vương” của nhạc sĩ Thông
Đạt, hay Kiều của Nguyễn Du, “Sông Tương một giải nông sờ. Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia”cũng là sông
Tương này. Chữ Tương, tiếng Hẹ (Hakka) phát âm là “siong”, tiếng Quảng Đông là “seong”, tiếng quan thoại là
“Xiāng”.
Trong Chinh Phụ Ngâm
những vần thơ hết sức đẹp, cũng lấy cảnh sông nước Hồ Động Đình:
Chốn Hàm Dương chàng
còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp
hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách
Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu
Tương mấy trùng

Nước Sở có mặt từ bao giờ?
Khi
truyền thuyết xuất hiện trong Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14, tất cả những địa
danh, nhân danh từ Đế Minh, Lộc Tục, Xích Quỷ, … đến Hồ Tôn, Hồ Bắc, Hồ Nam, Hồ
Động Đình… là tên thuần Hán.
Vương đầu tiên cuả người Việt là
Kinh Dương Vương, có thể hiểu đó là “vương của châu Kinh và châu Dương”.
Đất Kinh, mang tên loại cỏ Kinh mọc thành bụi cao, đa số dân thuộc chi Âu, đại diện là Âu Cơ, đọc theo phát âm
Mường và Quảng Đông là Ngu Kơ, ưa sống miền núi rừng. Bây giờ, địa bàn của châu Kinh là tỉnh Hồ Bắc.
Đất Dương có dân thuộc chi Lạc, đại diện là Lạc Long Quân, ưa sống miền biển. Địa bàn châu Dương gồm các tỉnh
ven biển: Giang Tây, An Huy, Chiết Giang, và Giang Tô.
Cả hai đại chi Âu và Lạc, thuộc chủng Yueh/Việt. Mỗi đại chi lại có hàng trăm tiểu chi. Khoa nhân chủng học ngày nay
gọi đám này là Austro-Asiatic = người châu Á phương Nam, khác với Mongoloid, người châu Á phương Bắc, chỉnh là
chủng Hoa Hạ.
Theo
chính sử Trung Hoa, Châu Thành Vương (1042-1021 TCN) phong cho Hùng Dịch tước tử
ở nước Sở, còn gọi là nước Kinh, để cai trị và ngăn chặn quấy phá của dân “man
di” Yueh/Việt ở địa phương. Đây là lần đầu tiên người Trung Hoa thiết lập chế độ
phong kiến (phong đất cho thuộc hạ, họ hàng). Đây cũng là lần đầu tiên người Hoa
Bắc chính thức chinh phục miền đất phía Nam sông Dương Tử.
Trong
800 năm, từ đầu thế kỷ 11 TCN đến khi bị Tần Thuỷ Hoàng diệt năm 223 TCN, nhà họ
Hùng đưa nước Sở từ một miền phên dậu thành một chư hầu hùng mạnh có lúc lấn cả
thiên tử nhà Châu, và suýt trở thành “thủ lãnh đại ca” của Xuân Thu Ngũ Bá.
Năm
740-689 TCN, khoảng đầu thời Xuân Thu, nhà Châu bắt đầu suy, nước Sở cường thịnh
dù vẫn bị người Hoa Hạ chế diễu “Vua Sở như con khỉ biết đội mũ”. Lãnh tụ của Sở
là Hùng Thông tự ý xưng Vương, tức Sở Vũ Vương. Từ đó trở đi, tiếp theo hàng
chục đời, lãnh tụ nước Sở bao giờ cũng có họ Hùng và tước Vương. Hùng Dịch, Hùng
Thông, Hùng Sì, Hùng Cừ… chữ Hùng
雄
viết y hệt như trong “Hùng Vương” của Việt Nam
Sau
khi diệt các nước Việt nho nhỏ chung quanh, năm 333 TCN nước Sở thôn tính thêm
hai nước Việt rất lớn cũng thuộc chi Lạc ở ven biển: nước Ngô Việt (Câu Tiễn) và
U Việt (Phù Sai). Tuy rất văn minh, đã đúc thuyền đồng, trống đồng, luyện thép
(như hai nhà luyện kiếm nổi tiếng là Mạc Tà và Can Tương), nhưng chỉ lo đánh đấm
và trả thù nhau nên bị Sở diệt.
“Quốc
tịch” dân Sở
Đại thần/thuộc hạ của Châu Thành Vương đều là người chủng Hoa Hạ. Hai người Sở
nổi tiếng, thi sĩ Khuất Nguyên, tác giả Ly Tao, và Hạng Võ, mà người Việt
giới bình dân đều rành nhờ… tuồng cải lương Hồ Quảng Hạng Võ biệt Ngu Cơ
– “Tấm thân lấp biển vá trời/ Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang”. Tây
Sở Bá Vương Hạng Võ người chủng Hoa Hạ, Ngu Cơ chủng Việt, chi Âu.
Không
riêng gì Sở, dân “man di” miệt Nam Dương Tử đa số là Yueh/Việt. Nên khi hai nước
Trịnh, nước Vệ có chiến tranh, quân dân hai bên leo lên mặt thành nói chuyện thả
dàn, không cần thông dịch viên toà án. Sử không thèm ghi xem bọn dân đen nói
chuyện chi. Mời nhau ăn một miếng trầu, rủ rê xuống ruộng dâu
(1),
đánh trống đồng hay hát bài “Việt nhân ca”
(2)
?
Chi
tiết trên chứng tỏ đánh nhau là chuyện của lãnh chúa Hoa Hạ, còn dân Việt tỉnh
bơ ví dầu nói chuyện trời trăng. Điều này rất quan trọng nhưng độc giả lướt qua
vù vù như cưỡi máy bay, yên chí mình đang đọc truyện về dân Tàu. In hệt hồi Tần
Thuỷ Hoàng sai Triệu Đà, người Hoa thứ thiệt, đi “bình định” vùng Lĩnh Nam. Khi
nhà Tần yếu, Triệu Đà xưng làm vua Nam Việt, nhưng dân vẫn cứ là giống Việt “man
di”.
Tiếng nước Sở ngày nay đã bị Hoa
hóa nhưng giọng nói của dân Hồ Bắc, Hồ Nam vẫn còn giữ thổ âm của tiếng Sở ngày
xưa. Người Hoa gọi đó là giọng Hồ Quảng (nơi phát xuất… cải lương Hồ Quảng). Hai
tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gọi là tỉnh Việt. Tiếng Quảng Đông còn gọi là Việt
ngữ. Kịch nghệ ở Quảng Đông và Hương Cảng gọi là Việt kịch. Thức ăn của Quảng
Đông là Việt thái (tsai). Xin để ý: dân tộc Việt Nam là một thành phần trong
khối Yueh/Việt. Nhưng không bao giờ là toàn khối chủng Yueh/Việt cả. Vì vậy
những thành tích/khám phá có dính líu đến “người Việt” về phương diện nhân
chủng/khảo cổ/văn hoá/… đào bới được ở khắp vùng châu Á không luôn luôn có nghĩa
thuộc về người Việt Nam ở Việt Nam. Ngay cả nền văn hoá Hoà Bình thuộc thời đồ
đá mới (được định tuổi vào
khoảng 34,000 năm đến 2.000 năm TCN) tuy tìm
thấy ở tỉnh Hoà Bình, nhưng giới khoa học rất thận trọng, họ không coi nền văn
hoá này là của người Việt Nam vì thời đó chưa có nước Việt Nam và người Việt
Nam. Ai là chủ nhân thực sự của văn hóa Hoà Bình vẫn là một câu hỏi.
Chiến
tranh
Sử Tàu không ghi chép đời sống của dân bản địa. Bộ Đông Châu liệt quốc
toàn tả lãnh tụ xưng hùng xưng bá. Chỉ biết từ đời Xuân Thu Chiến Quốc 722 TCN
đến khi Sở bị Tần diệt năm 223TCN là một thời kỳ hỗn loạn. Dân ở phía Nam sông
Dương Tử chịu cảnh binh đao, tàn sát, cướp bóc…không biết bao nhiêu mà kể. Chính
biến, đảo chánh, giành ngôi, phế lập, âm mưu, cướp bóc, lãnh chúa…khiến biên
giới các “nước” thay đổi. Có nước bị giải thể. Hàng ngàn nước bị chia cắt, sát
nhập lúc vào nước này, lúc vào nước kia.
Khi Tần Thuỷ Hoàng, “gồm thâu lục quốc” (Hàn, Nguỵ, Sở, Triệu, Tề, Yên) một cuộc
chiến khủng khiếp kéo dài 9 năm biến giải
đất mênh mông từ trung nguyên (3)
xuống nam Dương tử thành một lò sát sinh khổng lồ.
Gia đình lãnh chúa bị tận diệt đã đành, dân chúng lớp bị giết hàng khối, lớp
chạy tan tác trước sức đồng hoá của chủng Hoa Hạ, của chiến tranh, hạn hán, mất
mùa... Miền đất chưa bị vó ngựa chủng Hoa rớ tới, chính là vùng mênh mông phía
Nam và Tây nước Sở. Bây giờ là vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, đồng bằng
sông Hồng… Lúc đó chưa miền nào có tên như bây giờ. Muốn đi tới miền này phải
vượt qua dãy Đại Ngũ Lĩnh hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, hoàn toàn không hợp với
người Hoa Hạ chỉ quen chinh chiến và sống vùng sa mạc. Trong Đường về Trùng
Khánh, dù đã là năm 1942, tác giả Hàn Tố Âm (Han Suyin) vẫn tả Quế Châu như
một vùng rừng núi hoang vu gần như không có ai tới, cách biệt hoàn toàn với thế
giới bên ngoài, chỉ có một số người miền núi sinh sống. Thật ra trong quá khứ
ngàn năm trước, nơi đây đã đón nhận hoặc là miền chuyển tiếp rất nhiều đợt chạy
loạn.
Bộ mặt của lịch sử Trung Hoa, không phải chỉ ngon lành nào Hồng lâu mộng,
nào Tây du ký, tứ đại giai nhân, thi thánh thi bá… Bộ Đông Châu liệt
quốc ghi lại 400 năm loạn lạc, cho thấy mạng dân đen (Hoa cũng như Việt) như
bèo: Tề Hiếu Công chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân trong mồ của cha
mình. Mồ của Tần Mục Công táng theo 177 người. Ngô vương Hạp Lư đánh bẫy hơn một
vạn nam nữ để tuẫn táng cho con gái. Không hiếm những người tỉnh táo, lệnh doãn
Tôn Thúc Ngao di chúc “Dân nước Sở ta khổ vì việc chiến tranh đã lâu, chúa công
nên nghĩ lại mà khiến cho dân được an nghỉ”. Nếu chúa công nghe lời can gián,
nước Sở chắc không bị Tần diệt, và bộ mặt địa lý/chính trị của nước Trung Hoa có
thể đã khác.
Chiến
tranh/nạn đói thời An Lộc Sơn cũng được ghi lại trong 1.500 bài thơ của Đỗ Phủ,
nổi tiếng thi hào mà không cần chạy theo chéo áo giai nhân
(4).
An Lộc Sơn đánh vào Trường An, Đường Huyền Tông chạy trốn, Dương Quí Phi thắt
cổ. Trong 8 năm, dân số nhà Đường, kiểm kê năm 754 từ 52.8 triệu người chỉ còn
16.9 triệu.
Lăng mộ của Tần Thuỷ Hoàng cần tới 70 ngàn người xây cất, con số chôn sống không
rõ. Nhà văn Hàn Tố Âm, dù gia đình khá giả ở Bắc Kinh (cha người Bỉ, mẹ người
Hoa) cũng nhắc lại điều khủng khiếp ám ảnh bất cứ đứa trẻ Trung Hoa nào: chiến
tranh và thiên tai, “ba năm liền không có một giọt mưa”. Dân chết đủ kiểu. Kể cả
chết đói. Vỏ cây cũng không còn. Ai còn đi được, đều cố đứng dậy hay lết bằng
đầu gối.
Dân Sở
thuộc chủng gì?
Dù Kinh Dương Vương là một người thật, hay chỉ là một biểu tượng trong truyền
thuyết Hồng Bàng, cũng đều là một pha trộn hai giòng máu Âu và Lạc
(5). Đây là mật
mã cốt lõi của truyền thuyết:
-
hai chi Âu-Lạc sống chung ở
vùng Động Đình Hồ,
-
cùng dắt díu nhau di tản, và
đoạn cuối
-
buồn hơn bất cứ chuyện tình
nào: Âu-Lạc phân ly. Thế kỷ 14, tác giả Lĩnh Nam Chích Quái ghi tất
cả biến cố bi tráng trên vào mươi hàng đặt tên “Truyền thuyết Hồng Bàng”.
Thời bây giờ, không chắc có cây bút nào có thể viết ngắn/nhiều ý nghĩa đến
vậy.
Độc
giả có thể kiểm chứng bằng nghiên cứu hay đọc những nghiên cứu ngôn ngữ và lịch
sử, thì thấy từng chi tiết của truyền thuyết vẫn còn in dấu trên tình trạng đa
sắc tộc và sự hoà huyết, hỗn hợp ngôn ngữ của cư dân có mặt trên mảnh đất Việt
Nam. Lịch sử dựng nước của các quốc gia châu Á: Đài Loan, Phi Luật Tân, Nhật,
Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam,… đều có những điểm
giông giống nhau: hỗn loạn, chia cắt, đánh chiếm, tận diệt, lấn đất, di cư, hoà
huyết…
“Nước” Xích Quỷ biến đi đâu?
Không biến đi đâu hết. Ở đâu còn nguyên đó. Đất cũ người cũ. Thêm người mới
khoác áo văn hoá mới. Nhìn trên bản đồ, bờ cõi nước Xích Quỷ hầu như phân nửa bờ
phía Nam sông Dương Tử: Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc, phía Nam giáp
nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) kinh
tuyến 105 Đông, phía Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118 Đông. Tổng cộng diện
tích của Xích Quỷ khoảng 2.900.000 cây số vuông. Diện tích Việt Nam bây giờ là
331,688 cây số vuông.
Tại sao thình lình không gian của Lạc Long Quân tức Hùng Vương thứ nhất rộng lớn
đến thế, đời Hùng Vương thứ 18 khi bị Thục Phán diệt, chỉ còn lại đồng bằng sông
Hồng?
Di cư
Như trên đã nói, một cuộc di tản rất lớn xảy ra, kéo dài hàng mấy trăm năm,
trước/sau khi nước Sở bị diệt vong. Đám chi Âu, chi Lạc chạy khỏi địa bàn nước
Sở. Khi đi, mang theo tất cả những truyền thuyết tổ tiên đến địa bàn mới. Ngay
như tên người Việt bây giờ vẫn tự gọi: người Kinh - để phân biệt với người
Thượng - có thể tên châu Kinh đất cũ còn trong ký ức.
Có lẽ nên hiểu truyền thuyết Hồng Bàng là cổ sử của chủng Yueh/Việt, hơn là cổ
sử riêng của Việt Nam. Biên cương rộng lớn của Xích Quỷ hé mở đôi điều, nếu hiểu
theo quan sát và quan niệm của tác giả truyền thuyết Hồng Bàng về thời lưu cư ở
Động Đình Hồ:
-
Chủng Việt, khác với chủng Hoa
Hạ
-
Hễ đồng chủng, là cùng một
“nước”
-
Có rất nhiều bộ tộc Việt sống
xen kẽ trên cùng địa bàn Xích Quỷ
-
Vì xen kẽ, nên mượn qua mượn
lại truyền thuyết/cổ tích của nhau
-
Người/tiếng Việt đi tới đâu,
biên giới Xích Quỷ đi đến đó
-
Người Trung Hoa bây giờ cũng là
một pha trộn = Hoa Hạ + Việt, cả DNA và tiếng nói.
-
Lãnh tụ đầu tiên Lạc Long Quân
hoàn toàn thuộc chủng Việt, mang hai giòng máu Âu và Lạc, không lai một chút
Hoa Hạ nào hết.
Có “nước” Xích Quỷ không?
Không. Bởi vì:
-
Xích Quỷ: chỉ là địa bàn lớn
chứa chủng Việt, gồm hàng trăm (hay ngàn) bộ lạc/thị tộc, tình trạng “văn
minh” tuỳ vùng.
-
Nước Sở: nhỏ hơn, chứa các nhóm
Âu-Lạc.
-
Đồng bằng sông Hồng: nhỏ hơn
nữa, là một trong những nơi dừng chân cuối cùng của của đám Âu/Lạc di tản.
Nơi đó cũng đã có người ở từ trước.
Nước
Thái Lan, nước Lào, chi Âu, tình cảnh rất giống Việt Nam. Thái chỉ mới thành lập
quốc gia từ thế kỷ 13. Lào lập nước trễ hơn Thái chừng nửa thế kỷ. Cả hai chạy
ngược chạy xuôi tìm đất và choảng nhau với dân bản địa. Có những bộ tộc rất oai
hùng, nhưng lại không thành lập nổi một quốc gia, ví dụ sắc tộc Karen, sắc tộc
H’Mong, và hàng ngàn bộ tộc hiện diện trên đất Trung Hoa, bị Hán hoá hoặc có
danh nghĩa “khu tự trị”, nhưng mức độ độc lập luôn là câu hỏi.
“Con Rồng cháu Tiên”
Xin thú thật, là một học trò yêu môn lịch sử, nghe “con rồng cháu tiên, dân Việt
mình… siêu hơn dân tộc khác” rất êm tai. Nhưng hôm nay ôn lại những trang sử,
bàng hoàng nhận ra một bài học khác: nước Việt sinh ra trong ly loạn, những đoàn
người đầu tiên đã cố gắng phi thường mới hội được nước Việt như ngày nay. Cảm
xúc trước sự huyền bí của lịch sử là một cảm xúc đẹp. Tuy vậy, kiểu hãnh diện mơ
màng “con Rồng cháu Tiên” nhưng không biết rằng nước Việt được tạo dựng trong
điêu linh, có thể làm biến dạng suy tư của người Việt: làm đứt đoạn, xa rời hẳn
với quá khứ. Nếu có đôi điều đặc biệt đáng hãnh diện, đó là trong số hậu duệ của
chủng Việt, không có quốc gia nào nắm níu tên “Việt” ngoại trừ dân tộc Việt Nam;
và sau gần 3000 năm thăng trầm, sức sống bền bỉ, chấp nhận hoà huyết, sáng tạo
tiếng nói, dũng mãnh chống ngoại xâm, mềm dẻo giữ độc lập… mỗi ngày là mỗi cố
gắng gượng dậy từ những tang thương dù không hề biết cuối con đường cay đắng hay
vinh quang: đó mới là kho báu đích thực và bài học vô cùng quí giá tổ tiên để
lại.
“Tổ quốc chúng ta từ Động Đình Hồ!”
Đó là chút sát na lãng mạn nơi hoà
thượng Thích Chơn Thành, một ngoái nhìn tiền kiếp, một công trình nghiên cứu
nghiêm trang, hay một sửa soạn quẩy kinh khai độ tìm lại cội nguồn dân tộc?
Động Đình Hồ! Quần sơn xanh biếc
đột khởi giữa lớp lớp ba đào. Đầu nguồn là chinh chiến! Cuối nguồn là chiến
chinh. Trong dư hương mùa ngát hương sen, biết đâu cơ duyên nhà Phật vực huyền
sử hồi sinh? Vết chân tổ tiên, nhân gian hồ dễ lãng quên trong lòng trang sách
như nước mắt tiểu ni cô nhỏ ướt trang kinh cho một giấc chiêm bao không trở lại?
Phật Đản 2007,
California, Vĩnh-Tường
(1)
Câu 507, Kiều trả lời Kim Trọng khi chàng Kim eo sèo đòi “sex”:
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!
Sông Bộc: nơi trai gái chủng Việt chiều chiều rủ nhau xuống bãi dâu tình tự nên
có thành ngữ “Trên Bộc trong dâu”, Nguyễn Du tiên sinh viết theo quan niệm nhà
Nho hồi đó, tức cấm đoán nhiều thứ lủng củng.
(2)
Nhiều thông tin khác nhau về bài “Việt nhân ca”:
- Dân ca của người Choang
- Bài hát của dân Việt thời Ngô Việt giao tranh. Vương tử Sở là Ngạc Quân Tử
Tích thích bài hát nên nhờ chuyển thành Sở từ. Cũng là bài hát trong phim
Dạ yến/The Banquet
với
Chương Tử Di.
-
http://www.quangduc.com/lichsu/03lspgvn1.html#7
Theo tiến sĩ Lê Mạnh Thát, bài Việt ca bằng tiếng Việt cổ, được chép trong bộ
Thuyết Uyển, bộ sách bằng tiếng Hán, soạn để dâng vua Hán Thành Đế khoảng 33TCN.
(3)
Miền đất giữa Hoàng Hà và Dương Tử.
(4)
Đỗ Phủ: tất cả thơ của ông tả cảnh chiến tranh thời An Lộc sơn. Ví dụ: Bài “Vô
gia biệt” (Cuộc ly biệt của kẻ không nhà), ông ước "Có ngôi nhà lớn muôn gian để
che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều
ta nát, chịu chết rét cũng được". Ông bôn ba khắp nơi dâng kế cứu dân cứu nước.
Không ngờ về đến nhà mới hay con trai đã chết đói.
(5)
Nguyên Nguyên, “Thử
đọc lại truyền thuyết Hùng Vương”.
Ý kiến, Phê bình xin
gửi về :
tranvinhtuong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |