Tai-Kadai:

Một Trong  Cái Nôi Đầu Tiên Của Tiếng Việt



Trần Vĩnh Tường

E-Mail: tranvinhtuong@khoahoc.net

 

Trăm năm dầu lội hẹng hò

Chừ cây da  bện cũ coong đò khác đưa

Cây da bện cũ còn lưa

O đò năm truớc đi mô không (b)yề

Từ ngồi nhà dạo một vòng  internet hay leo lên máy bay đi  bốn phương trời, người mình vẫn nhận ra nhau. Từ hàn lâm đến..  võ lâm, thảy đều thiết tha với tiếng Việt.

 

Trước thời Hai Bà Trưng, chắc chắn dân Việt có tiếng nói của tộc Việt. Vì vậy khi Hai Bà cờ tang điểm tướng, cưỡi voi xung trận,  giựt ải đoạt thành,  tiếp nối nghiệp xưa, dân chúng  ở khắp các động đều đứng lên theo giúp. Sau Hai  Bà Trưng, dù bị nô lệ cả ngàn năm, cũng chỉ một số người Việt quây quần quanh những  thái thú  Trung Hoa.  Đến thời độc lập các ông quan chỉ VIẾT  tiếng Hán khi phải làm sớ dâng vua, viết sách sử, làm thơ gửi bạn hiền,  đề mộ bia... Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Việt Sử Lược, Việt Sử Thông Giám Cương Mục.. .. được VIẾT bằng tiếng Hán.  Nhưng từ vua cho đến dân vẫn NÓI tiếng thuần Việt. Khó mà tưởng tượng được các vị vua nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý... lại nói với dân bằng tiếng Hán, xưng "trẫm thế này, khanh thế khác...". Các quan vẫn NÓI chuyện với dân bằng tiếng thuần Việt. Nói gì đến các thi sĩ đi ra đi vào, nịnh vợ yêu con, đòi ăn rau sắng chùa Hương, cá rô đầm Sét... chắc chắn phải NÓI  tiếng thuần Việt.  Trong vòng bẩy thế kỷ, hàng ngàn bộ tộc ở miền Nam sông Dương Tử bị người Tầu đồng hóa,  ngoài trừ dân Việt, kiêu hùng và cô độc trên con đường gian nan giữ gìn tiếng Việt.

 

Nếu không bây giờ làm gì còn nòi giống Việt.

 Thế nào là thuần Việt ? Thuần Việt là tiếng nói của người Việt ở ngay tại đất Việt. Không phải đợi quí ông thái thú Nhâm Diên Sĩ Nhiếp "dậy dỗ", tổ tiên chúng ta  mới biết.. . nói. Người Việt-cổ nói như thế nào ? Ông Bình Nguyên Lộc bỏ 13  năm học nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á để viết cuốn Nguồn Gốc Mã-Lai Của Dân Tộc Việt dầy 700 trang, vậy mà vẫn còn một thắc mắc mang theo đến khi ông mất, "Thời Hai Bà Trưng, người Việt-cổ NÓI tiếng Việt như thế nào", huống chi người thường như chúng ta.  Ông thắc mắc "Người Việt NÓI gì"  không phải "người Việt VIẾT gì." Ước gì ông BNL sống dậy vào thời đại  này, khi  thế giới chia sẻ  kho tàng  về ngôn ngữ, chủng tộc, dân tộc.. cho tất cả mọi người trên hành tinh.

 

Từ mấy ngàn năm, lịch sử Việt lúc nào cũng bị các sư phụ Tàu-Tây dần cho mệt lử, lúc nào cũng nhìn nước Việt như một tỉnh nối dài của Trung Hoa còn  tiếng Việt như 1 đứa con ghẻ rách rưới chầu rìa ngoài lề chiếc chiếu hoa Trung Hoa rực rỡ. Nhiều khoa bảng Việt Nam nhai đi nhai lại điệp khúc trên,  đồng ý cho o đò Tàu-Tây đưa chiếc thuyền văn hóa của dân tộc đến bến nào thì đến. Cũng may, điệp khúc nô lệ ấy gần đây nhạt dần, nhạt dần nhờ vào những nghiên cứu  có tính cách hàn lâm của một số tác giả VN và nhờ sự phát triển của tin học. 

 

Từ giữa thế kỷ 19, vì nhu cầu bành trướng kinh tế và chính trị của người da trắng, giới hàn  lâm Tây Phương chú tâm nghiên cứu châu Á dưới  mọi khía cạnh. Riêng về tiếng Việt, các ông hàn cho là tiếng Việt thuộc một ngữ hệ rất lớn mà các ông đặt tện Austro-Asiatique. Ngữ hệ  này bao gồm

-          ngữ hệ Mòn-Khmer, gồm 147 loại ngôn ngữ cũa Đông Nam Á, Bắc Ấn Độ và quần đảo Nicobar thuộc Ấn.

-          ngữ hệ Munda,  gồm 21 ngôn ngữ của vùng Đông và Trung Ấn Độ, một phần Bangladesh.

 

 Mỗi ngữ hệ lại có hàng trăm chi khác nhau. Ngay trên đất Việt Nam, có đến 54 tiếng nói

 

Mê hoặc bởi sự kỳ diệu, biến đổi qua lại của ngôn ngữ, bài viết ngắn này  thưa thốt đôi điều về tiếng Tai-Kadai.

 

Tai-Kadai là tiếng nói của vùng Đông Nam Á,  Miến Điện, đông bắc Ấn Độ  và miền Nam Trung Hoa  (Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam). Trước đây  Tai-Kadai được xếp vào loại tiếng Sino-Tibetan. Các nhà ngữ học một hôm buồn tình, lại cho đó là một loại ngôn ngữ độc lập trong nhóm Mòn-Khmer của Austro-Asiatique.

 

 Hai điạ bàn chính của Tai-Kadai là Thái Lan và Lào. Nước Thái Lan chỉ mới thành lập từ thế kỷ 13, nước Lào thế kỷ 14, còn quá non trẻ so với nước Việt.  Việt/Thái, Việt/ Lào không bao giờ sống chung, không có di cư ồ ạt. Lào/Việt cùng biên giới nhưng không dễ đi lại. Nếu có cùng một số vốn liếng ngôn ngữ, chắc đã có một thời gian sống chung với nhau nên thừa hưởng gia tài của tổ tiên để lại.

 

Trong quá khứ Việt-cổ/Thái-cổ/Lào-cổ có sống chung với nhau ? Địa bàn nào ? Hồi nào? Ra sao ? Có chia tay chăng ? Chia tay hồi nào ?  Êm đềm con mắt còn có đuôi hay đẫm máu sữa rừng thay sữa mẹ ?  Người Việt-cổ từ Nam Á đi lên hay từ Hymalaya đi xuống. Người Thái/Lào phát xuất từ Vân Nam đi xuống đi lên? Độc giả tò mò tha hồ tìm tòi trên net.

 

Độc giả cũng có thể  tìm đọc trong cuốn Tìm Tòi Và Suy Nghĩ của Thu Tứ, nhũng tiểu luận về Truyền Thuyết Hùng Vương của Nguyên Nguyên,  hay Tự Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của  Bác Sĩ Nguyễn Hy Vọng.  Những bảng đối chiếu ngôn ngữ cho thấy từ ông Nguyễn Trãi đến chú Tư lúi húi ăn ong  miệt Cà Mau, từ hoàng gia Thái Lan đến một cô bé quê vùng Biển Hồ Tonlesap đều dùng cùng những chữ giống nhau.

 

Vài tiếng Tai-Kadai in đậm trong ca dao/thơ/nhạc dưới đây, cho thấy tiếng Việt cổ réo rắt âm thanhh và vô vàn ý nghĩa ngay từ thuở bình minh. Nào có phiền tới  ông Nhâm Diên,  Sĩ Nhiếp.

 

Bếp lạnh anh tam biếng hỏi han (Nguyễn Trãi) (anh tam: anh em)

 

Tuy rằng bốn biển cũng là anh tam (Nguyễn Trãi)

 

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời (Kiều/Nguyễn Du)

 

Chân mây mặt nước một màu xanh xanh (Kiều/ND)

 

Anh về cuối chân mây

Em một mình ở lại (quên tên tác giả, xin thứ lỗi)

 

Hạt mưa trên lá khép nép đợi chờ xa cách nhau vài giờ (Phạm Duy)

 

Ôi những người khóc lẻ loi một mình (Phạm Đình Chương)

 

Chiều nay áo tím nhiều quá lòng thấy rộn ràng nhớ người (Đoàn Chuẩn)

 

Lòng thấy rộn ràng ngỡ bóng ai về (Đoàn Chuẩn)

 

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn (Quang Dũng)

 

Em có bao giờ lệ chứa chan (Quang Dũng)

 

Chiều hôm qua lang thang trên đường (Cung Tiến)

 

Hò ơ ơ ơ. .. Gió đưa con buồn ngủ lên bờ

Mùng ai có rộng, hò ơ ơ ơ .. ..cho tôi ngủ nhờ một đêm (Trần Trọng Trí)

 

Tiếng Tai-Kadai không phải chỉ trong thơ nhạc, mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Đọc nơi ông Thu Tứ, một tác giả xứ Qui Nhơn:

 

Tía/má/

Đen, thâm/thơm/nặng/đói...

Thắt bín/chiên/rót/trét/xịt/quét

Mô /tê /răng/ rứa/sáng/tháng/còn lưa

Mèo/chó, má/quạ/cá/tắc kè/cú mèo...

Sáng trăng/mây/giờ, chừ/gừng/muỗm/hành/trà

Võng/ná//màn/mùng/kim/chèo/sào/gạo...

Lưng/bụng/ râu/cằm/chân/cẳng/cổ họng/vai/eo/xương ...vv

 

 

Ông Võ Phiến viết một câu đáng nhớ "Khi ta hiểu biết nhiều về ngôn ngữ của ta, ta biết nhiều hơn là ta tưởng". 

 

Nếu biết thế, sẽ nhận ra ai là anh em, hàng xóm. Ai đã cùng ai lần mò tìm từng hang từng động. Từng bỡ ngỡ nhìn mầm non đầu tiên của củ khoai lang khoai mỡ  lớn lên dưới sức nóng mặt trời. Đã cùng nhau thuần hóa con gà con chó...  Đã chia nhau nhặt lá rừng  lót hang ổ cho những đứa bé sơ sinh. Đã nhặt  đá đập vỏ sui làm khố che thân.  Đã cố bập bẹ cho ra từ môi từ lưỡi những âm thanh ú ớ đầu tiên của ngôn  ngữ. Ấy thế mà vẫn hiểu nhau, vẫn cùng nhau sống chết. Cho đến  chia tay, ngày ấy.

 

 Nếu biết  thế, người Việt sẽ không khinh bỉ người Thượng, người Mường (1), người Tây Nguyên... là man mọi.  (Cũng may, định mệnh không phải lúc nào cũng đóng cửa: một số linh mục Thiên Chúa Giáo và tăng ni Phật Giáo đã và đang có những nỗ lực âm thầm cứu giúp một số đồng bào Tây Nguyên. Nhưng quả thật là rất khó đoán được sinh mệnh của họ sẽ đi về đâu.)

 

Nều biết thế, chắc tổ tiên ta cũng đã  không tận diệt người Chàm, đã không đốt sóc người Miên. Người  Miên cũng không "cáp Yuồn" người Việt.

 

 Nếu biết  thế, sẽ không có cảnh thuyền nhân Việt bị hải tặc Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương hãm hiếp, cướp bóc, tàn sát  trên mặt biển.

 

 Nếu biết  thế, các nước cùng nói tiếng Tai-Kadai có thể làm thành một lực lượng đáng kể trong vùng.

 

Và ngay ở cộng đồng nhỏ bé người Việt hải ngoại, nếu biết thế, chắc sẽ không có những màn  chữ nghĩa lấp lánh gươm đao, kim trâm ám khí tận diệt nhau đến tận cùng bằng số. Nói chi đến những thảm cảnh li ti trong mỗi  kiếp người.

 

Có phải dân Giao Chỉ Cửu Chân của Hai Bà Trưng đã nói tiếng Việt như trên ? Một thứ tiếng Việt cổ, không dính dáng đến nhà Đông Hán  lúc đó mới chỉ là vài tỉnh luẩn quẩn miệt sông Dương Tử. Thứ tiếng Việt cổ ấy,  phaỉ chăng là cái nôi đầu tiên và cũng là chốn nương náu cuối cùng ?

 

Ngày Thanksgiving năm nay,   xin tạ ơn nhũng người đã sống chết từ thuở khai sinh tiếng Việt.

 

Nov. 2006  (Trần Vĩnh Tường)

 

* Thu Tứ, Tìm Tòi và Suy Nghĩ (Của Tin xuất bản, California 2005)

* BS Nguyễån Hy Vọng, Tự Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (dưới dạng sách và CD) California, đang xuất bản

* Nguyên Nguyên, Truyền Thuyết Hùng Vương, đăng trên nhiều trang web, sắp xuất bản bên Úc

(1) Keith W. Taylor, tác giả quyển 'The Birth of Vietnam', trong bài phỏng vấn với đài BBC cho biết các vị anh hùng dân tộc như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Hai Bà Trưng, Lê Lị (Lợi), v.v. xuất thân từ những vùng có đông cư dân người Mường. Nhượng Tống, dịch giả đầu tiên của 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư' đã minh chứng Lê Lị (Lợi) mang gốc người Mường.

 

  Ý kiến, Phê bình xin gửi về : tranvinhtuong@khoahoc.net

 

 

 Trở về Trang Chính