„Trẫm Vì Chín Đời Mà Trả Thù“



Trần Vĩnh tường

E-Mail: tranvinhtuong@khoahoc.net

0

 

 

Vua Quang Trung băng hà năm 1792, đuợc an táng tại phủ Dương Xuân, Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) nối ngôi  năm 10 tuổi.  Vua chỉ ở ngôi được 10 năm.  Tháng 6/1802, khi Nguyễn Ánh đánh vào thành Thăng Long,  Quang Toản cùng hai em là Quang Thuỳ và Quang Bàn   bỏ Thăng Long chạy về hướng Bắc, bị người Kinh Bắc bắt được đóng cũi đưa về Thăng Long. Hộ giá vua Cảnh Thịnh là nữ tướng Buì thị Xuân cùng chồng là Thiếu Phó Trần Quang Diệu cùng toàn thể hoàng gia Tây sơn bị bắt đem về Phú Xuân.

 

Muà đông  1802,  Nguyễn Ánh  vào Phú Xuân lập đàn tế cáo trời đất, đặt niên hiệu là Gia Long năm thứ nhất, sai sứ sang nhà Thanh xin phong vương. Sau đó việc đầu tiên cuả vua Gia Long là trả thù nhà Tây Sơn .  Vua Gia Long tuyên bố „Trẫm vì chín đời mà trả thù“ (2). Ông đã trả thù như thế naò?

 

Vua Gia Long cho đào mộ vua Quang Trung, đốt hài cốt thành tro trải xuống ruộng, còn đầu lâu bị  dùng đựng nước tiểu.  Vua Gia Long đổi ấp Tây Sơn thành An Tây. Mọi dấu ấn Tây Sơn đều bị xoá sạch.

 

Vua Gia Long mang vua Cảnh Thịnh và toàn thể hoàng gia Tây sơn ra hành hình. Theo thư cuả giám mục Eyot, thì vua Cảnh Thịnh bị  5 thớt voi xé. Theo thư cuả giáo sĩ Barisy, tướng Trần Quang Diệu  bị xử bằng cách lột da đầu lóc xương lóc thịt. Trước mặt bà Buì Thị Xuân, người con gái nhỏ cuả bà bị bỏ vào bao tải đánh nát thây. Người con gái lớn của bà bị voi xé xác. Đến lượt bà bị trói nằm trên cỏ, voi tiến lên, bà hét lên một tiếng, voi thất kinh lùi laị  không dám tiến nữa. Vua Gia Long tức giận đổi qua hình phạt khác là dùng vải  nhúng sáp nóng quấn khắp mình bà rồi nổi lửa đốt.  Trong đám tù nhân bị hành hình có tất cả các anh em của vua Cảnh Thịnh, kể cả 2 con của Vương Phi đàng ngoài (tức Ngọc Hân). Tất cả đều bị voi dày  hoặc là ngựa xé, giết chết không chừa một ai, dù chỉ là một em gái nhỏ. (1). Trong đám bị hành hình không thấy  Ngọc Hân Công Chuá. Vậy bà đã hạ lạc nơi nào ?

 

Nguyên vua Quang Trung lập  hai hoàng hậu. Phạm thị  nguời phủ Qui Nhơn thuộc Đàng Trong, chị em cùng cha khác mẹ với Thái Sư Bùi Đắc Tuyên. Bà được sắc phong  làm Vũ Hoàng Chính Hậu. Bà là mẹ ruột  vua Cảnh Thịnh.  Sau khi qua đời bà được truy tôn là “Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần”.

 

Công chuá Lê thị Ngọc Hân, con vua Lê Hiển Tông  ở Thăng Long, Đàng Ngoài,  được gả cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ năm 1786, lúc ấy công chúa 18 tuổi. Bà được sắc phong làm Bắc Cung Vũ Hoàng Hậu.  Có hai thuyết về cái chết của Ngọc Hân. Một thuyết  cho rằng hoàng hậu qua đời năm 1799, được truy tôn là “Như Ý Trang Thận Trinh  Nhất”, di hài được mang về quê ngoại ở làng Nành, Bắc Ninh.  Thuyết thứ hai,  khi  họ ngoại vua  Cảnh Thịnh là Buì Đắc Tuyên chuyên quyền,  nội bộ Tây Sơn bắt đầu lục đục tranh dành, Ngọc Hân cùng hai con là Nguyễn  Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc đổi danh tính  chạy về Quảng Nam. Không bao lâu bị phát giác. Ngọc Hân bị ép uống thuốc độc chết. Hai con bị  thắt cổ. Năm đó bà mới 29 tuổi. Đó là năm 1799. Mẹ ruột của Ngọc Hân là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, thứ phi của vua Lê Hiển Tông, lúc đó ở làng Nành, thuê người vào tận Quảng Nam lén cải táng mang hài cốt về chôn cất ở làng Nành và lập miếu thờ. Năm 1840, ngôi miếu đổ nát. Một ông tú tài làng Nành nhớ công đức cuả Chiêu Nghi nên tu sửa miếu. Không ngờ bị  một lý trưởng tố cáo với triều đình là thờ “nguỵ hậu”.  Vua Thiệu Trị truyền cho tri huyện Đông Ngàn phá tan ngôi miếu, quật cả 3 ngôi mộ mang vứt xuống sông.  Ông tú tài bị tội trọng.  Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức vì tội thất sát. Dẫu sao thì  hai thuyết này đều giống nhau ở thời điểm 1799, tức là 3 năm trước khi Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.  Còn một truyền thuyết khác, cho rằng vua Gia Long lại đưa  Ngọc Hân vào cung, mặc dù có lời ngăn cản cuả quần thần.  Vua trả lời “Đất nước ta còn lấy được,  há gì một người đàn bà.”  Mấy năm trước, xuất hiện một bài viết trên một tờ báo  lập lại thuyết thứ ba này, với những chi tiết dâm dật phóng túng.  Sử dụng ngòi bút như thế,  thật đáng giận thay cho tổ tiên và đáng buồn cho chữ nghĩa.

 

Vua Gia Long là ông vua khai phá triều Nguyễn. Trong số 13 vua triều Nguyễn, chỉ có vua Gia Long,  Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định là băng hà yên ổn có lăng miếu rõ ràng.  Còn 7 vị vua khác đều bị bức tử thảm khốc hay bị lưu đầy biệt  xứ.

 

1883 mở đầu một  chuơng bi thảm cuả triêù Nguyễn và cả đất nuớc.  Vua  Tự Dức băng, không hoàng tử nối ngôi. Một nguời cháu đuợc vua Tự Đúc nhận làm con nuôi từ năm lên 2 tuổi, đuợc chọn làm vua.  Nhưng Vua Dục Đức chỉ làm vua được có 3 ngày thì bị hai quan đại thần là Nguyễn Văn Tường và  Tôn Thất Thuyết phế.  Vua bị giam trong một căn phòng kín, nhờ người lính gác thương tình mỗi ngày đút cho một nắm cơm và một chiếc áo cũ thấm nước vắt ra uống. Vua Dục Đức thoi thóp được một tháng thì chết. Xác vuì trên một quả đồi, không cả áo quan.

 

 

Sau vua Dục Đức, hai quan đại thần  Tường - Thuyết bắt Lăng Quốc công Hồng Dật, con út của vua Thiệu Trị  lên làm vua.  Lăng Quốc Công khóc không dám nhận.  Ông vẫn bị ép phải  lên ngôi,  hiệu là Hiệp Hoà. Chỉ 4 tháng 10 ngày sau, vua Hiệp Hoà bị hai đại thần ép uống thuốc độc tự vẫn, năm đó ông 36 tuổi.  Ông may mắn được chôn theo nghi thức quốc công.

 

Tháng 10 năm 1883, hai quan đại thần này lại lập Ưng Đăng,  con nuôi vua Tự Đức lên làm vua, hiệu là Kiến Phúc. Nhưng chỉ đuợc 8 tháng, vua bị ép phải uống thuốc độc chết, lúc đó vua vừa tròn 15 tuổi.

 

Tháng 8 năm 1884, Hàm Nghi là em ruột Kiến Phúc, bị đưa lên ngôi năm 13 tuổi.  Nhà vua không được Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ công nhận. Tôn Thất Thuyết bèn phò vua chạy ra Quảng Trị. Từ đó vua Hàm nghi phê chuẩn chiếu Cần Vương, là  hiệu lệnh mở đầu phong trào chống Pháp.  Năm 1888,  có nội phản  nên Pháp bắt được vua Hàm Nghi.  Vua từ chối làm bù nhìn cho Pháp nên bị Pháp đày đi Algérie. Lúc đó vua 17 tuổi. Ông sống lưu đầy 47 năm. Ông  mất năm 1935, thọ  64 tuổi. 

 

Hoàng tử Bửu  Lân 8 tuổi bị ép lên làm vua, hiệu là thành Thái. Ông làm vua 18 năm dưới  sự kềm kẹp của Pháp. Ông bị truất  năm 28 tuổi.  Năm 1916 ông bị Pháp đày ra  đảo Réunion cùng con là vua Duy Tân.  Năm 1947 ông được phép trở lại tổ quốc. Ông mất ngày 24-3-1954 tại Saigon, được chôn ở Huế, thọ 74 tuổi.

 

Vua Duy Tân cũng bị đi đày theo vua cha ra đảo Réunion. Trong chiến tranh thứ nhất, ông tình nguyện gia nhập quân đội Pháp, dù vua cha ngăn cản. Ông giaỉ ngũ với chức thiếu tá không quân.  Vua Duy Tân tử nạn trong một tai nạn máy bay đầy nghi vấn  năm 1945.

 

Pháp thay thế vua Duy Tân bằng vua Khải Định. Ông hết sức nịnh bợ nguời Pháp, nên được sống hết sức xa xỉ và chết cũng xa xỉ năm 1925, thọ 41 tuổi.

 

Vua Khaỉ Định không con. Con nuôi là Đông Cung thái tử Vĩnh Thụy 13 tuổi đang theo học ở Pháp bị  triệu về lên ngôi tức vua Bảo Đại. Ông hoàn toàn bị chi phối bởi thế lực cuả người Pháp, người Nhật, và cuả Hồ Chí Minh.  Ông thoái vi năm 1945 nhưng bị mời trở lại làm vua.  Năm 1954 ông chỉ định  Ngô Đình Diệm làm thủ tướng nhưng vẫn bị ông Diệm truất phế, đốt hình nộm. Ông sống lưu vong từ 1955 ở Pháp.  Lúc trẻ ông sống xa xỉ nhưng thanh đạm lúc tuổi già.  Năm 1997 ông mất trong nhà thương quân đội  và được chôn tại Cemetière de Passy, Paris. Buổi truy niệm ông ở chuà Việt Nam trên đường Magnolia, thị xã Garden Grove, California,  chỉ một nhóm nhỏ gia đình và vài người  nhớ đến ông.  Báo chí và đài phát thanh tiếng Việt nhắc đến ông ít hơn là nhắc về đám tang cựu tổng  thống Reagan.  Nếu có nhắc, thì  lãnh đạm và trịch thượng gọi ông là “Bảo Đại”, không hề có chữ “Cựu Hoàng” đi kèm cho đủ lễ dù ở những buổi lễ lạc khác, người ta ca tụng nhau thưà mứa, kính thưa “các bậc trưởng thượng, nhân sĩ” ngập mày ngập mặt.  Đừng nói đến việc ông là một cựu hoàng, nội việc ngưòi  Việt hải ngoaị  tranh đấu giữ  gìn lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà quên mất ông là người đã long trọng công nhận  lá quốc kỳ ấy và quốc ca trưóc quốc dân VN và Cao Uỷ Pháp năm 1948, là một điều mâu thuẫn.   Âu cũng là số phận cuả ông vua cuối cùng của Nguyễn triều.

 

Năm 1963,  chỉ  9 năm sau ngày đốt hình nộm cựu hoàng Bảo Đaị, tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ  Ngô đình Nhu bị thảm sát trong một chiếc xe tăng ở Saigon bởi bàn tay những người thọ ơn ông.   Đó là số phận của vị tổng thống đầu tiên của VNCH.

 

Từ 1592 đến 1789  có sông Gianh, Đàng Trong/Đàng Ngoài.  Từ 1954 đến 1975 có sông Bến Hải, Quốc Gia/Cộng Sản.  Từ 1975 đến nay là cả một Thái Bình Dương, Việt Kiều/Việt Cộng. Mấy trăm  năm sau,  sử  sẽ ghi chép thế nào ? Lịch sử cũng sẽ vắn tắt vài dòng, thản nhiên quên đi những dòng máu đỏ cuả triệu triệu người Việt hai miền Nam Bắc đổ xuống trong một trận chiến tương tàn? Phải chăng dân Việt bị một lời nguyền ghê gớm kiểu “vì chín đời mà trả thù”, cho nên luôn mơ uớc hoà bình nhưng không ai làm gì để đạt được hoà bình cả ?

 

-----------------------------------------------

(1)       Thư của giám mục Eyot gưỉ giáo sĩ Blaudin ngày 10-10-1802, tập san Sử Điạ số 22/1971 - Chân dung Phụ Nữ VN/Cao thế Dung.

(2)       Đaị Nam Thức Lục Chính Biên. 

 

  Ý kiến, Phê bình xin gửi về : tranvinhtuong@khoahoc.net

 

 

 Trở về Trang Chính