|
Đại Việt sử ký,
bộ quốc sử đầu tiên của
Việt Nam, do Lê Văn
Hưu (1230-1322)
soạn năm 1272 không có truyền thuyết Hồng Bàng.
Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện cổ tích và truyền thuyết.do nhiều
thế hệ soạn giả soạn. Có đến 9 bản LNCQ chép tay, mỗi bản thêm/bớt một số
chuyện. Cuối thế kỷ 15, Vũ Quỳnh và Kiều Phú nhuận sắc thêm “ghi chép những
chuyện kỳ lạ thu ghép lượm lặt đựơc ở cõi Lĩnh Nam “ (sic). Truyền thuyết Hồng
Bàng và nhiều cổ tích khác (Hồ tinh, Ngư tinh, Phù Đổng Thiên Vương, Nhất Dạ
Trạch, thần Tản Viên, Cây Cau.. lần đầu tiên được ghi trong LNCQ. Kiều Phú
viết trong bài tựa “Ôi! Nếu trời đã sai chim huyền điểu xuống để sinh ra nhà
Thương (2) thì ắt có việc trăm trứng nở ra con chia nhau cai trị nước Nam.
Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được. Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi
trâu, cho nên con cháu họ Triệu chống lại Bắc Triều..” (3)
Ở
giới trẻ, có lẽ sự hiểu biết về truyền thuyết cũng hạn chế. Ngay các thày cô
giáo tình nguyện dạy Việt Ngữ, cũng không có câu trả lời khi các em học sinh
thắc mắc “đẻ một lần một trăm con, người đẻ ra trăm trứng…”. Vô tri bất mộ,
không biết tất không yêu.
Tuy không nói ra,
các em không tin tưởng vào truyền thuyết nữa. Cứ thế, nước chảy qua cầu.
Nhưng có tìm tòi, mới thấy cái khó khăn của người xưa, khi
tài liệu còn rất hiếm. Ngay bây giờ, chỉ đi tìm chân dung núi Ngũ Lĩnh, thiếu
điều tẩu hỏa nhập ma. Ngưòi Trung Hoa gọi Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam núi Ngũ
Lĩnh. Họ không để ý đến núi Ngũ Lĩnh này vì họ đã thống nhất các bộ lạc thuộc
chủng Yue từ lâu.
Wuling
Range ((武陵山脉)
chạy dài từ phía Tây Hồ Nam đến phía đông Qúi Châu. Ngọn Wulingyuan, vĩ tuyến
29 16 Bắc, 110 22 Đông, hiện được Unesco công nhận là kỳ quan thế giới.
Nanling, Nam Lĩnh, còn gọi là Ngũ Lĩnh (南岭
) là tên dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh
Hồ Nam,
Giang Tây,
Quảng Đông,
Quảng Tây của
Trung Quốc, ngăn cách
vùng
Lưỡng Quảng với phần
lãnh thổ phía bắc của vùng
Giang Nam.
Sách vở Việt lại chỉ lưu ý đến Tiểu Ngũ Lĩnh, biên giới thiên
nhiên giữa 2 nước Việt-Hoa. Nơi đây là địa bàn của ít nhất hai cuốn dật sử đầu
tiên của VN, Lĩnh Nam Dật Sử (1150) , và Lĩnh Nam Chích Quái nói trên.
Hồ
Nam
湖南
Húnán: phiá Nam sông Dương Tử, kinh tuyến 108 47 đến 114 Đông, vĩ tuyến 24 đến
30° Bắc.
Hồ
Nam còn được gọi tắt là tỉnh Tương, theo tên
sông Tương
(6). Hồ Nam dài 774km, rộng 667km. Hà Nội, vĩ tuyến 21 Bắc, kinh tuyến 105 53
Đông. Mỗi độ là 66 miles hay 111km. Hà Nội cách cực Nam Hồ Nam 333km, cách cực
Bắc Hồ Nam 999km.
Địa bàn có thật, không có nghĩa câu chuyện xảy ra đúng in như vậy. 5000 năm trước, chưa có chữ, không có nước nào
có tín sử. Không rõ các nhân vật Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi, nàng tiên Ngũ Lĩnh, con gái Động Đình Quân, là ngừơi
thật, hay chỉ là một biêủ hiệu hay một ý nghiã vào thời đó. Ví dụ, Thần Nông là ý niệm về việc biết trồng lúa, dẫn nước
vào ruộng, trồng dâu nuôi tằm, khám phá ra trà…Đế Nghi, được phong làm “vua”, ra điều có cội nguồn quyền lực.
Tìm kiếm chỉ là ...vô vọng vì tất cả những tên tuổi/địa danh trong truyền thuyết đều được tô vẽ hay cóp nhặt qua lại giữa
các tộc người sống xen kẽ nhau thời đó. Điều quan trọng tác giả truyền thuyết muốn nhắn gửi: những nhân vật
trong truyền thuyết thuộc chủng Việt cổ, xuất xứ từ một vùng đất của chủng Việt cổ, là xứ Trung Hoa bây giờ.
Chủng Bách-Việt/bǎi yuè/百越/百粵 xin gọi là Việt-cổ -thiết nghĩ chính xác hơn, cho một ý niệm lập tức về thời gian-
là hàng ngàn những bộ lạc/bộ tộc/thị tộc thuộc chủng Yue, tứcViệt. Từ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên trong Sử Ký của
Tư Mã Thiên. (109 TCN- 91 TCN.). “Bǎi/Bách”, hoàn toàn không có nghiã là “một trăm”. - Rảnh đi coi cải lương
không?
- Đâu được, bận một trăm việc đây nè. Tiếng Việt có nhiều ca dao/thành ngữ cùng tả ý “không đếm được” ấy: trăm công nghìn
việc, trăm nhớ ngàn thương, trăm năm dầu lỗi hẹn hò, trăm dâu đổ vào đầu tằm… Thơ Nguyễn Bính: Mình đi trăm núi nghìn sông.
Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam.
Chủng Yue có hai chi lớn nhất: Âu và Lạc. Mỗi chi đều có hàng ngàn những bộ lạc sống cạnh/xen lẫn nhau. Xem
“Mékong Ký Sự”, một làng nhỏ ở Vân Nam bên giòng Lan Thương (7) gồm 2.600.000 dân, có đến 14 tộc ngừoi sống
hoà bình với nhau.
Tộc nào giữ nguyên ngôn ngữ, văn hóa tộc ấy từ hàng ngàn năm, hồn nhiên trước thay đổi của thế giới. Các tộc ấy,
Yi, Hà Nhì, Bạch, Choang, Thái, Bái, Ngõa, Hán, Hồi, Miêu, Yao… sống đơn giản giữa thiên nhiên tuyệt diệu và câu
chuyên thần kỳ về nguồn gốc tộc mình. Những tộc này cũng có mặt ở vùng thượng du/trung du Bắc Việt Nam. Điều này cho
thấy sự du đãng kỳ diệu đến mức khó tin của bàn chân người. Đồng thời cũng cho thấy sức sống bền bỉ trong mỗi dân tộc.
Đất Việt cổ: chỉ vùng đất từ sông Dương Tử trở xuống. Lúc đó, cả hai chủng Hoa Hạ và Việt cổ đều chưa thành lập những
quốc gia đầy đủ những thành tố như bây giờ. Có chăng chỉ là những bộ tộc hay liên minh bộ tộc ở rải rác.
Tình trạng chấp nhận
truyền thuyết rồi bỏ lửng lơ sẽ để lại cho thế hệ tương lai vào một black hole,
một khoảng trống đen
ngòm. Nếu chấp nhận
truyền thuyết, sẽ phát sinh một loạt các câu hỏi:
Hai chủng Hoa Hạ -
Việt-cổ có pha trộn không? Vào thời điểm nào?
Người Việt-cổ ở Trung
Hoa bây giờ tan biến vào đâu ?
Ngừoi Việt Nam có phải là người Trung Hoa không ?
Người Việt Nam là thành phần nào của chi Lạc ? Anh em gần gũi
nhất của người Việt Nam là những tộc nào ?
Ngừơi Việt Nam hiện nay có phải là một dân tộc thuần chủng không? Nếu không, những thành tố kia là ai ?
Năm 2007, quan niệm thời Ngô Sĩ Liên “không dám rong ruổi ngàn năm để làm chuyện chắp vá” e không còn đúng.
Năm 2007, suy nghĩ kiểu “Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi trâu” không còn thích hợp. Thế kỷ 21 phát sinh vấn đề
khác.
Những tranh cãi về chủ nhân trống đồng, kinh Dịch, các nền văn hoá Đông Nam Á, văn minh lúa nước, chủ quyền Trường
Sa, Hoàng Sa…dù chỉ vòng vòng trong các tác giả người Việt cũng đã là một khúc nhạc dạo. Cần một lý giải về cội nguồn một
cáchkhách quan, khoa học, thống nhất từ trong nưóc ra đến hải ngoại, để người Việt Nam có thể tự tin tranh cãi trên trường
quốc tế.
Vấn đề cội nguồn do đó đi xa hơn chuyện “tìm về bản sắc, tự hào dân tôc”, mà là vốn liếng đương đầu với tình hình chính trị và
bảo vệ lãnh thổ, một nhu cầu sinh tử của giòng giống Việt từ ngàn năm này qua ngàn năm khác.
(còn tiếp)
(1) Maddox:
www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/dd731-k.htm
(2) Nhà Thương: khoảng
1027 TCN,
triều
đại đầu tiên của Trung Quốc, phía
Tây châu thổ
sông Vị.
Ông vua đầu tiên là Thành Thang, vua cuối cùng
là vua Trụ.
(3) Lĩnh Nam Chích
Quái/Vũ Quỳnh, Kiều Phú/NXB Văn Học, Hà Nội.
(4)
http://chimviet.free.fr/dantochoc/neovevh/lvhs067.htm
Lê Văn Hảo/Xứ Thanh, Xứ
Nghệ: động Bích Đào, còn gọi là động Từ Thức, huyền thoại về cuộc tình duyên
đẹp dở dang giữa người trần Từ Thức với nàng tiên Giáng Kiều. Động Bích Đào nằm
ở dãy núi Thần Phù (xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn), tỉnh Thanh Hoá.
(5) Nguyễn Tường
Bách/Mùi Hương Trầm, NXB Trẻ, 2003: huyền sử chép hai chàng Lưu Thần, Nguyễn
Triệu đời Hậu Hán (25-250) đi hái thuốc trong núi gặp tiên. Sống với tiên được
nửa năm, hai chàng nhớ nhà xin về. Lúc trở lại nhà thì dưới thế đã qua được 7
đời. Khi trở lại, đào nguyên không còn. Động Thiên Thai thuộc về núi Thiên
Thai, 100 km cách thành phố Ninh Ba/Trung Hoa.
(6) Chàng tại Tương
giang đầu. Thiếp tại Tương giang vĩ, chính là ở đấy.
(7) Phim tài liệu
Mékong Ký Sự/Truyền Hình TP HCM , sông Lan Thương, tên của sông Mékong khúc chảy
qua Vân Nam, có nghĩa “đoá Lan xanh”.
Ý kiến, Phê bình xin
gửi về :
tranvinhtuong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |