|
Vào buổi bình minh của đất nước nay được gọi Việt Nam, đã có bao nhiêu dân tộc ?
Từ đâu đến? Là ai? Còn chung sống hay đã phân ly ?
Rất có thể vào thời Hồng Bàng xa xưa , có hai chủng lớn, Âu và Lạc chung sống ở
địa bàn Giao Châu, Bắc Việt bây giờ. Văn hóa của người Việt Cổ là sự hòa hợp
giữa núi và sông, ruộng và nương, đồi cao và lũng thấp. Năm 43 sau khi Hai Bà
Trưng oanh liệt tuẫn tiết, sự đô hộ của người Hán ngày càng hà khắc. Một số
người Việt can cường không chịu khuất phục, bỏ lên rừng núi, lâu ngày thành
người Mường.
Trong nhóm thiên di lên rừng và nhóm ở lại đồng bằng, nhóm nào cũng gồm cả Âu và
Lạc. (1) Kể từ Âu Lạc chia tay, cả hai đều gĩư lại truyền thuyết ghi cuộc phân
ly ấy. Theo bản Mường, Âu Cơ có biểu hiệu là con hươu đốm sao. Nàng mặc áo đen,
dẫn 50 con đi về miền núi; Long Wang mặc áo vàng, biểu hiệu là loài cá, dẫn 50
con xuôi miền sông nước. Theo bản Việt, Âu Cơ là tiên, Lạc Long Quân là rồng.
Chỉ vì khác giống giòng, một hôm trời không mấy đẹp, chàng Lạc quyết định chia
tay.
Điều đáng mừng, lãnh đạo quyết liệt lìa nhau, nhưng lòng dân bịn rịn. Hàng ngàn
năm chung sống để lại những dấu ấn không phai. Ví dụ nhỏ về tiếng nói, thời chưa
hề có chữ ghi lại:
Mừơng: Mơ chi eng piếng thùng oàng
Thung tôi nén pạc cho nàng cầm thay
Việt: Cơ chi anh biến thành vàng
Thành đôi nén bạc cho
nàng cầm tay (2)
Mường, Muang, M’wan, Mual, Mol …nghĩa ban đầu, chỉ một vùng, một xứ. Mường
Thanh, Mường Luông, Mường Vang, Mường Lam (Lam Sơn: xứ của vua Lê Lợi)...Mường
cũng có nghĩa là “người”. Điều đáng puồng: người Lạc đồng pằng pắc chước sư phụ
Hoa Hạ (3) cái nết khinh người, uốn lưõi gọi ruột thịt là Mường, Mán, đồng nghĩa
với man ri mọi rợ.
Nguời Mường ẩn thân chốn núi rừng. Nhưng cũng như ngôn ngữ, cại yệm, cại ạo (cái
yếm, cái aó) không chơi đi trốn đi tìm. Sơn nũ thảo nguyên bát ngát/thôn nữ châu
thổ phì nhiêu âu âu yếm yếm níu áo níu yếm như một khoen nối chung tình.
Dạo còn chung nhau một địa bàn, xuân thì Việt Cổ ăn mặc thế nào ? Khó tìm ra
tăm tích. Có thể sử đã ghi nhưng đã bị nhà Minh đốt hết. Theo Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư/Ngô Sĩ Liên … “nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc, đàn bà
con gái thì mặc áo ngắn quần dài, học theo phong tục phương Bắc….” Mãi đến năm
1665, sách Lê Triều Thiên Chính mới ghi một sắc lệnh của vua Lê Huyền Tông bắt
mặc váy trở lại “áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống,
xưa nay đã có tục cũ, ai trái lệnh sẽ bị phạt.”
Ông Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong Tục viết “… lễ phục thường đàn ông khăn
đen áo dài quần trắng, đàn bà áo giao lãnh tứ thân váy thâm. Kiểu mẫu riêng nước
ta thì suốt già trẻ đàn ông đàn bà theo một cách, chỉ khác dài vắn rộng hẹp, tơ
lụa hay hàng vải…” Cảm ơn ông, khi ông viết rõ hơn “đàn bà Bắc Kỳ vấn khăn, bịt
thêm khăn vuông, mặc ỵếm trong áo giao lãnh hoặc tứ thân, dưới là váy thâm hay
quần đen, buộc thắt lưng ngoài áo bỏ múi ra ngoài.” (4)

Áo Tứ Thân
Cuốn Les Mường (5) có lẽ là tài liệu đầu tiên có ảnh chụp y phục phụ nữ Mường.
Theo cô Cuisinier, người Mưòng Thanh Hoá, Hoà Bình, Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái..
đều mặc giống nhau. Những y phục này cũng khớp với nhận xét của ông Trần Từ
Nguyễn Từ Chi trong tiểu phẩm Cạp váy Mường (6). Theo ông, người Mường chỉ có 2
màu: đen và trắng. Người Mường đội cại mu (cái mũ, may như một cái khăn), cại
yêm (cái yếm), cại ạo (cái áo), cại wạy (cái váy), cại tênh (khăn dài, màu lục,
thắt ngang hông), caị ạo chung (cái áo chùng), cại khăn đẹt ạo (cái khăn thắt
áo). Yếm ngắn mặc trong, áo cánh mặc ngoài, ngoài khoác áo chùng. Nếu là ngày
hội, khoác tới hai ba lớp áo chùng, áo trắng ra ngoài áo đen in hệt áo mớ năm mớ
bẩy của người Việt phong lưu. Tất cả mầu trắng, riêng cái tênh màu lục. Váy màu
chàm, dài quá đầu gối cho tiện việc ruộng rẫy. Gần đây, màu áo Mường có vài thay
đổi theo nhu cầu… du lịch.
Chỉ mệ nường quí tộc Mường mới mặc áo tơ tằm. Các cô mặc váy đen dài đến mắt
cá. Váy Mường là một tuyệt phẩm của kỹ thuật dệt. Có những cạp váy đựoc truyền
từ đời mẹ qua đời con gái. Các cô không giãi sương nắng ngoài nương ngoài rẫy.
Chỉ ở nhà thêu cho xong cạp váy. Có khi mất một năm mới thêu xong rang trên,
rang dưới. Mường yêu màu sắc sặc sỡ, mau k’lặng (màu trắng), mau giâm (thâm),
mau tọ (đỏ), mau vang (vàng), mau xeng (xanh). Váy Việt cũng tương tự như váy
Mường, chỉ khác không thêu. Váy mặc gánh gồng thường ngắn quá đầu gối, cúi
xuống cấy lúa hở cả lưng mất công ứ hự. Cũng có nơi, như làng Cổ Đô (Sơn Tây)
bên kia sông Bạch Hạc nổi tiếng dệt lụa đẹp, váy các bà các cô bằng tơ mịn đen
nhánh, dài quét đất không nhìn thấy bàn chân.
Những năm trước 1954, một năm đôi lần mệ nường xuôi Hà Nội mua sắm gương lược
vải trắng lãnh đen chỉ thêu. Các nường tung tăng Hàng Đào Hàng Bạc, không hay
những đôi mắt dõi theo dáng rừng lưu hương, mơ được “thung tôi nén pạc cho nàng
cầm thay”. Chẳng trách tác giả truyền thuyết Lạc Long Quân/Âu Cơ cho rằng thái
quốc mẫu Âu Cơ là giống tiên, nguồn cơn chắc không ngoài nỗi ngất ngây nhan sắc
núi rừng. Mắt thuyền nghiêng môi hồng đào tóc bới cao, oai nghiêm và diễm lệ.
Có thể bà Trưng Chị và Bà Trưng Em có dung quang khác thường ấy, khiến chỉ cần
phất tay “Ta lên núi, đuổi đàn hươu. Ta lên núi, đuổi đàn nai…” (4) đủ khiến con
dân miền Nam Ngũ Lĩnh nhất tề đứng dậy.
Nhìn chung áo Mừơng/áo Việt giống nhau. Chỉ khác yếm Mường ngắn hơn. Đôi khi, cô
Mường không…mặc yếm, khoe mẫu hệ đa tình. Trong Les Muong, có ảnh cô Mường mắt
to môi đầy và không mặc áo yếm chi cả. Cô là người duy nhất trong 186 người cho
phép Cuisinier chụp ảnh không yếm. Tứ thân Việt buộc hai tà trước lại với nhau,
còn Mường thắt khăn khép hai tà áo chùng, không cho gió rừng len lỏi nhỡ khi
trêu ghẹo làm rối cỏ non sơn nữ.
Nếu váy Âu ghi đậm dấu vết núi rừng, thì yếm Lạc nhẹ nhàng và lãng mạn. Người
đầu tiên vẽ ra yếm Lạc đi trước Christian Dior, Versace, Emmanuel Ungaro…xa lắc.
Chỉ là một mảnh vải phên dậu, bốn sợi dây nho nhỏ tạm bợ buộc sau. Tấm lưng trần
cũng gợi tò mò bằng 2 nụ hoa khế hoa soan rung rinh đằng trước. Yếm đào phơi
trên cây sào,
như thể cánh bướm nghiêng chao mặt hồ. Mảnh yếm thôn nữ Nhĩ Hà quả là một nhị
nguyên hút/đẩy đầy xúc cảm: gợi dục rất thanh tân, e ấp mà mời gọi, khép nép
nhưng phô bày…Bình thường các cô các bà chỉ mặc yếm trắng, yếm sồi, yếm đen, yếm
nâu. Những ngày hội xuân, yếm ra yếm vào như thoi tơ. Em cười yếm trắng thành
hồng. Em xinh em thắm hơn cả thắt lưng lý đào.Yếm xanh yếm đỏ vãi tình, các anh
trai linh đình ra công ướm hỏi bao giờ mình về với ta…Xuân nữ Kinh Bắc nơi thôn
ổ có khác khuê dung Thăng Long kín cổng cao tường, Em là con gái mười
thương.Yếm đào một dải mấy đường nhỏ thon (Nguyễn Khắc Hoạch). Ngày hội
xuân, muà hồng cốm tốt đôi, hoa quả đâm chồi, các cô đâm ra bạo dạn. Khoác áo
tứ thân ra ngoài yếm, các cô nhí nhảnh từ Đông sang Đoài, Ước gì sông hẹp
bằng gang. Bắc cầu trải yếm cho chàng sang chơi (ca dao). Còn nói gì đến
đêm hội Rã La, yếm đào trễ xuống dưới nương long (Hồ Xuân Hương) chỉ một
thoáng “đã phanh yếm mỏng thì quăng hết” (Hoàng Cầm), không như Nguyễn
Bính, kêu ầm làng nước, áo cài khuy bấm em làm khổ tôi (7)
Từ
ngàn năm rồi, váy Âu yếm Lạc đã trôi đi cùng với bao ngày xuân hoa đào nắng luạ.
Mà thiếu một trong những thứ ấy, tiết xuân miền Bắc nhạt nhẽo khác gì nhìn gương
uống rượu!
Truyền thuyết đã cho Lạc Long Quân một lần biền biệt trôi ra biển không vời lại
được. Âu Cơ không trôi, sườn núi ngó theo. Ới các sơn nữ Mường, ới các thôn nữ
Việt, mỗi khi khép nép cởi yếm buộc khăn nghiêng mình đôi bờ khép mở, có nhớ đến
buổi trùng hoan ngàn năm truớc?
Trần Thị Vĩnh-Tường
(1) Nguyên Nguyên , Thử Đọc Lại Truyền Thuyết Hùng Vương
(2) Nguyên Hương/Định Hướng số 48/2006
(3)
Chủng Hoa Hạ, lúc đó chưa gọi là Trung Hoa, chỉ chiếm một vài tỉnh ven sông
Hoàng Hà : Cam Túc,Thiểm Tây, Sơn Tây.
(4) Trần Lai Hồng, Tìm Hiểu Y
Phục Phụ Nữ Việt Nam/Phụ Nữ Gia Đình, Xuân Bính Tuất 2006
(5) Les Mường, Géographie
Humaine et Sociologie, Jeanne Cuisinier, 1946
(6)
http://vanhoanghethuat.org.vn/sach/tuchi/
(7) Đặng Tiến, dải yếm trong văn học, 20 Năm Văn Học VN Hải Ngoại 75-95
Ý kiến, Phê bình xin
gửi về :
tranvinhtuong@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |