|
Như
chúng ta đã rõ, những tài liệu đầu tiên về kinh đô cổ xưa Angkor
là do Châu Đạt Quan một đặc sứ Mông Cổ để lại, miêu tả Angkor
vào thời kỳ cuối thế kỷ thứ 13, thời kỳ trước khi bị bỏ phế. Sau
đó từ thế kỷ thứ 16 trở đi, Angkor thường được các nhà truyền
giáo và thương nhân tây phương để tâm đến nhưng mãi đến hậu bán
thế kỷ thứ 19 mới lôi kéo được sự chú ý của các nhà khảo cổ và
học giả. Sự tường thuật về chuyến du hành của P. Bouillevaux năm
1856 và bài viết mô tả tỉ mỉ của nhà thiên nhiên học Henri
Mouhot sau khi khám phá Angkor Wat năm 1860 đã mở đường cho
nhiều nhà thám hiểm khác như Bastian, người Đức; Thomson và
Kennedy người Anh, rồi đến cuộc viếng thăm chính thức của
Doudart de Lagrée, Francis Garnier và Delaporte, kẻ đã mang về
Pháp một số tượng để triển lãm cho công chúng xem tại cuộc hội
chợ đấu xảo ở Paris năm 1878. Đồng thời, nhờ công giải mã các
chữ khắc trên đá của Kern, người Hòa Lan, cùng với Barth và
Bergaigne; trong khi Moura, Aymonier, Pavie, Fournereau và tướng
de Beylié đã góp công nhiều trong việc mang lại nhiều kiến thức
quí báu về Angkor.
Năm
1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cho thành lập ÉFEO
(École Francais d’Extrême Orient: Trường Viễn Đông Bác Cổ) dưới
sự chỉ đạo của Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, với
sứ mệnh khảo cứu về các nước Đông Dương theo tầm nhìn có tính
cách lịch sử, công trình xây dựng và ngôn ngữ, hầu để bảo tồn
các di tích khảo cổ ở Đông Dương và chuẫn bị cho một cuộc kiểm
kê các đền đài. Chính do sự dìu dắt của Louis Finot và Alfred
Foucher mà Lunet de Lajonquière, Henri Parmentier, Dufour và
Carpeaux mới khởi sự thăm dò các công trình của Kampuchea một
cách có phương pháp.

Jean Commaille, giám đốc đầu tiên của
Conservation of Angkor, bị kẻ gian giết chết để cướp tiền lương
của dân phu. Ông được chôn ở khu rừng gần đền Bayon.
Courtesy
of Asia Explorers and Angkor.wat.online.fr
Tại
Angkor, thoạt đầu Jean Commaille, giám đốc đầu tiên của
Conservation of Angkor thuộc ÉFEO đã huy động cho dọn hằng ngàn
mét khối đất đá, khởi đầu ở Angkor Wat và Bayon, kể cả khu Sân
Voi. Năm 1919, ông bị kẻ gian giết chỉ để đoạt một số tiền vừa
đủ tuần lương cho vài dân phu. Mộ ông hiện vẫn còn nằm dưới
những tàng cây gần đền Bayon. Henri Marchal kế nhiệm và trong
suốt 20 năm ông bỏ công lo củng cố các đền tránh khỏi bị đổ thêm
bằng các trụ xi măng, tuy thiếu mỹ quan nhưng tạm thời cũng khá
hữu ích. Ông còn viết nhiều bài khảo cứu tuy một số giả thuyết
của ông không được nghe theo nhưng kết quả những nghiên cứu của
ông đóng góp một nguồn tài liệu vô giá cho các nhà khảo cổ sau
này. Chính vì quá đam mê Angkor mà ông đã dọn đến ở luôn nơi đây
vào cuối năm 1947, lúc ông đã được 71 tuổi, và mất ở đó vào
tháng tư năm 1970. George Trouvé thay thế ông năm 1932, ông này
bị chết thảm vào năm 1935. Sau đó thì đến Jacques Lagisquet chỉ
vỏn vẹn từ 1935 đến 1936. Nhiệm kỳ của Maurice Glaize lâu hơn
(1936-1946), vị kiến trúc sư tỉ mỉ này đã thành tựu được nhiều
công trình khôi phục đáng kể, đặc biệt như tháp trung tâm của
đền Bakong, tháp đền Neak Pean và Banteay Samre. Cần phải lưu ý
là ông đã hoàn tất trong điều kiện ngân quỉ quá ít oi của thời
gian thế chiến thứ hai. Hai người Pháp cuối cùng là Jean Laur và
đáng ghi nhớ hơn cả là Bernard Philippe Groslier đã biến tổ chức
Conservancy thành một tổ chức bề thế như ngày nay, và tiến hành
những công trình quan trọng. Chính tổ chức này đã khởi sự công
việc trùng tu đền Bapuon, một công trình to tát đã bị ÉFEO bỏ dỡ
suốt 20 năm vì chiến tranh và rối ren chính trị ở Kampuchea.
Đồng thời mang lại công ích cho nhân loại còn có Maitre,
Aurousseau và Georges Coedès, Finot, Fouchet, ….
Nhờ
hiệp ước 1907 theo đó Thái Lan chịu trả lại cho Kampuchea các
tỉnh bị họ chiếm giữ, trong đó có Battambang, vùng Angkor, Siem
Reap mà công tác khảo cứu và bảo vệ Angkor mới đạt kết quả tốt
đẹp.
Việc
khảo cổ khu quần thể Angkor mang lại cho ÉFEO nhiều lãnh vực để
nghiên cứu. Từ khi mới thành lập, ÉFEO phải nỗ lực dọn cho các
khu di tích sạch hết cây rừng, các nền đài không còn đất đá ngổn
ngang, dựng lại những phiến đá bị đổ hoặc sắp xếp, phân loại,
đánh số theo danh mục. Sự đổ nát của khu di tích, ngoại trừ một
vài trường hợp, không do bàn tay của ngoại xâm hay bọn cướp cổ
vật mà do thời gian bị bỏ hoang phế hằng thế kỷ; qua đó cây
rừng, độ ẩm cao của vùng nhiệt đới và mối mọt đã tàn phá không
ngừng.
<<Đền
Taprom cũng như nhiều đền khác ở Angkor, dấu tích đổ nát vẫn còn
khắp nơi mặc dù trường Viễn Đông Bác Cổ đã nỗ lực trùng tu từ
suốt thế kỷ qua. Ảnh Nguyễn Lộc
Sau khi
đã khai quang hết cây, cỏ dại, những phần cấu trúc yếu, dễ đổ
sụm được tạm chống đở để bớt hư hại thêm, các nền có dấu hiệu bị
lún được củng cố bằng bê tông bên dưới trước khi đặt lại phần
gạch đá cũ lên trên. Những phần tường bị đổ được xây lại bằng
cách tháo gỡ xuống luôn phần còn đứng vững, từng viên gạch, hoặc
khối đá được đánh số kỹ lưỡng. Sau đó những vật liệu trên được
dùng để xây lại theo kiến trúc và kỹ thuật nguyên thủy. Trong
khi thực hiện những công tác tương tự, người ta gặp phải trường
hợp nhiều gạch, đá bị vở nát hay không còn nguyên vẹn để có thể
tái dụng, người ta tạm đúc nếu là gạch hay đục đẽo lại nếu là
khối đá lớn, nhưng dùng cùng nguyên liệu gốc, theo đó mỗi vật
thay thế còn được cẩn thận khắc chữ CA, viết tắt từ chữ
Conservancy (bảo tồn). Phương pháp trên được gọi là anastylosis,
một phương pháp đã được sử dụng trước đó để phục hồi các di tích
đền đài ở Hy Lạp và Java. Tuy nhiên, phương pháp này không được
áp dụng để làm lại các pho tượng, hình chạm khắc người, thú, các
hoa văn trang trí nói chung. Những công trình phục hồi lớn hơn
được chuẫn bị trước với vô số phép đo đạc, đồ họa, chụp hình kỹ
lưỡng trước khi tái tạo để khi hoàn tất vẫn giữ nguyên đường nét
nguyên thủy. Phương pháp anastylosis được đem áp dụng ở Angkor
nhờ Henri Marchal, bấy giờ đứng đầu tổ chức Bảo Tồn Angkor.
Trong chuyến khảo cứu ở Java ông nhận thấy anastolysis là phương
pháp tuyệt mỹ mà người Hòa Lan đã áp dụng trước để phục hồi các
di tich ở đó. Thấy thích hợp với Angkor, ông đem du nhập nó vào
việc phục chế đền Banteay Srey trước tiên vào thời gian cuối năm
1931 và được sự tán dương của cả ông Coedès. Nhờ phương pháp này
những ngôi gopura của các đền Prah Palilay và Neak Pean, những
hồ tắm của đền Banteay Samre, Bakong, cổng Chiến Thắng, cổng nam
và bắc của Angkor Thom, nhiều di tích của Prah Khan, cùng những
tháp chung quanh và ở trung tâm đền Bayon được phục hồi như
nguyên thủy từ tình trạng đổ nát hoàn toàn.
Việc
phục hồi khu đền Baphuon thuộc thế kỷ thứ 11 tuy thế lại gặp
phải một số khó khăn bất ngờ. Nguyên hơn 40 năm trước, một kiến
trúc kiểu kim tự tháp cao hơn 46 mét gồm nhiều tầng xây chồng
lên nhau bị đổ sụm khiến các nhà khảo cổ phải gỡ xuống hơn phân
nửa ngôi đền để xây lại. Kế hoạch sẽ là tái dựng với sự gia cố
bằng bê tông và nguyên liệu ngày nay được khéo léo che dấu bên
trong. Nhưng khi Khmer Đỏ lên chiếm quyền năm 1972, các nhà bảo
tồn người Pháp buộc phải bỏ chạy, để lại 300 ngàn khối đá xếp
trải dài trên một khu đất rộng 25 mẫu. Năm 1995, họ trở lại và
trực diện với một thử thách đau lòng là làm sao mà xếp lại ngần
ấy đá thành một ngôi đền nguyên thủy một khi tất cả tài liệu ghi
chép và bản thiết kế đều đã bị mất sạch. Hơn 200 chuyên viên
phải vất vả tìm cách giải đoán bài toán đố khó khăn với những
vật liệu có sẳn. Pascal Royère, kiến trúc sư trưởng khu đền
Baphuon buồn bã nói: “Không thể làm bừa được, mỗi viên đá có chỗ
riêng của nó, mỗi vị trí thích hợp với từng khối đá riêng. Nếu
bạn làm sai chỉ 10 mili mét ở chỗ này, mọi thứ 20 mét bên kia
cũng bị lệch theo.”
Năm
1992, Angkor trở thành Di Sản Văn Hóa của thế giới. Kết quả là
tiếp sau một hội nghị liên chính phủ được tổ chức tại Tokyo vào
tháng mười hai năm 1993, một Ủy Ban Hợp Tác Quốc Tế giám sát
việc trùng tu Angkor được thành hình do Nhật và Pháp đồng chủ
tịch, cùng một ban bí thư do UNESCO đề cử. Từ đó hằng năm ủy ban
nhóm họp nhiều lần, hoặc phiên khoáng đại hoặc những cuộc họp
nhỏ hơn có tính cách kỹ thuật. Nhiều toán chuyên viên từ nhiều
quốc gia tham gia công tác dưới sự giám sát của ủy ban. Toán của
Đức chuyên nghiên cứu và phục hồi hằng trăm tượng nữ vũ công
thiên thần Apsaras ở đền Angkor Wat; Hoa Kỳ trùng tu các đền
Preah Khan và Ta Som với quỹ World Monuments Fund của mình;
Trung Quốc phụ trách đền Chao Say Tevoda; Pháp phối hợp với
Trường Viễn Đông Bác Cổ chịu trách nhiệm ở đền Bapuon, khu Sân
Voi và khu Sân Vua ‘Cùi’; Indonesia phục chế những gopuras tại
khu hoàng cung ở Angkor Thom; Người Ý với đền Pre Rup và hệ
thống hào nước ở Angkor Wat; Nhật lo phục chế đền Bayon, thư
viện Prasat Suor Prat ở Angkor Wat và đền Banteay Kdei (sau này
giao cho trường Sophia University). Người Khmer phụ trách việc
quản lý và bảo vệ khu di tích Angkor.
*
* *
Những
hư hại gây ra trong thời kỳ chiến tranh vừa qua tương đối nhỏ vì
phe nào cũng tôn trọng các di tích đền đài. Nhưng vào đầu thập
niên 90 việc đánh cắp cổ vật trở thành vấn đề nghiêm trọng.
Thường thường chúng được chuyển qua ngã Thái Lan để bán cho các
tay săn cổ vật Tây Phương. Mãi tới gần đây việc phối hợp để săn
bắt kẻ gian và bọn môi giới vẫn còn ít oi, dân mối giới này hoạt
động công khai tại River City ở Bangkok. Chúng đặt hàng bằng
cách trưng hình ảnh cổ vật nào chúng muốn cho bọn gian ở
Kampuchea. Chính quyền Thái và Kampuchea ra tay can thiệp sau
khi chúng trở nên quá lộng hành, họ chận bắt được những xe tải
lớn chở những mảng tường thuộc bức tường 20 m của hành lang bọc
quanh đền Banteay Chhmar, các mảng này ghép thành hình điêu khắc
Quán Âm Bồ Tát Lokesvara thiên thủ tuyệt đẹp. Cảnh sát cũng bố
ráp vùng River City, tịch thu được nhiều cổ vật của người Khmer.
Sau đó, nếu xác định rõ được chúng thuộc khu đền nào thì sẽ được
trả về nơi xuất xứ, hoặc được đem trưng bày ở một bảo tàng mới
tại tỉnh Nakhon Ratchasima, Thái Lan. Tuy nhiên kẻ gian lắm lúc
cũng bị bé cái lầm mà điển hình là bức tượng vua ‘Cùi’ ở gần đền
Bayon. Vào thập niên 50, ông Groslier, giám đốc bảo tồn, chú ý
thấy tượng có dấu cưa ở cổ, có nghĩa là có kẻ đang muốn lấy đầu
tượng, ông cho chuyển tượng về viện bảo tàng ở Nam Vang rồi thay
vào đó bằng một tượng khác được rập khuôn y như bản chính. Một
thời gian sau đúng như dự đoán, tượng giả này bị cắt mất đầu.
Năm
1968, nhiếp ảnh gia Wilbur E. Garrett thuộc tạp chí National
Geographic chụp tấm hình chiếc cầu đá dẫn vào cổng đền Preah
Khan, cũng như ở các nơi khác, hai bên cầu có tượng các thần
đang ôm kéo rắn thiêng Naga. Trong hình cho thấy thời ấy chỉ một
tượng thần bị mất đầu nhưng càng về sau càng nhiều đầu bị lấy
đi. Chúng bị tải đi qua ngã biên giới Thái Lan, hay Viện Nam?
Được các nhà ngoại giao chuyển lậu ra và đem bán ở Geneva hoặc
Dusseldorf? Hay vẫn còn nằm trong nhà kho bọn buôn cổ vật ở
Bangkok? Cũng có thể được đem giấu đi đâu đó chờ được giá cao
thì đem bán.
<<
Tượng vua ‘Cùi’ ở khu Hoàng Cung mặc dù đã được cẩn thận thay
thế bằng tượng giả nhưng vẫn bị cắt mất đầu. Courtesy of
Michael Freeman
Ngoài
nạn bị mất cắp, khu di tích còn chịu những hư hại do sự thiếu ý
thức của một số người. Tại đền Prasat Kravanh, đền trung tâm vốn
được bọc kín, về sau được trỗ trên nóc để các phù điêu khắc trên
đá ở bên trong có thể được nhìn thấy bằng ánh sáng tự nhiên, chỗ
trỗ ấy được che bằng một loại kiếng lọc đặc biệt chặn được tia
phóng xạ của mặt trời có thể gây hại cho các tượng. Kiếng lọc
nay đã bị bắn vỡ, có thể từ thời chiến tranh. Ở đền Banteay
Kdei, nhiều khu hành lang bị sụp mái đang chờ được phục hồi theo
ưu tiên; ngay gần khoảng giữa, người ta có thể thấy bồ hóng làm
đen cả một mảng tường, được hỏi thì người bảo vệ đền cho biết
trước đây có kẻ nào đó đã đốt lửa cho dơi đang treo mình ngủ
dưới mái rớt xuống để bắt nấu món xúp. Cũng gần đó, có những cột
chống đền được làm từ hai phiến đá lớn chồng lên nhau, các nhà
bảo tồn củng cố cho cột khỏi nhào bằng cách gắn thêm những miếng
nẹp đồng vào giữa hai phiến đá. Chúng bị gỡ mất từ lâu! Để làm
gì? Dân địa phương tin rằng đồ đồng lấy từ đền ở Angkor về làm
dao găm sẽ có phép thuật linh thiêng. Vào đầu thập niên 1920,
các nhà bảo tồn từng cho bọc hai phiến đá của mỗi cột bằng một
vòng thép lớn; mới thời gian sau này đã bị lấy đi, có lẽ để làm
niềng bánh xe bò. Ở một căn phòng khác, có kẻ nào đó đã vẽ lên
một tượng phật lớn bằng sơn đen. Ở ngực trên bị vẽ như hình xâm
của dân Khmer thường xâm trên ngực họ để được che chở khỏi bệnh
tật và thương tích. Kẻ này có lẽ muốn mình cũng được che chở như
bức tượng. Nhưng hình cái đồng hồ được vẽ trên cổ tay tượng thì
sao? Vào thời Khmer Đỏ đang thống trị Kampuchea, mọi hình thức
tôn giáo đều bị ngăn cấm, có thể được sự đồng ý của cấp trên,
một tên thuộc hạ nào đó đã có hành động phỉ báng tượng Phật này;
nhưng trong thâm tâm y có một sự hy vọng rằng nếu dâng cho Phật
một cái đồng hồ thì rồi đây y cũng sẽ có một cái thật, mà ưa
chuộng nhất là một cái Omega của Thụy Sĩ, dấu hiệu của kẻ có
chức có quyền. Y muốn có quyền uy, …qua phép thuật.
Ta phải
nhớ rằng, nhiều di vật điêu khắc có giá trị nghệ thuật cao đã
bay qua nằm trong các bảo tàng viện lớn trên thế giới từ lâu.
Những gì còn lại được di chuyển đến nơi an toàn vào cuối thập
niên 50 khi nạn ăn cắp cổ vật bắt đầu thịnh hành rầm rộ và vấn
đề bảo vệ một khu di tích quá rộng lớn trở nên ngoài tầm tay.
Ngày nay, bộ sưu tập tuyệt đẹp những điêu khắc của Khmer được
lưu giữ tại bảo tàng viện Nam Vang nhưng đa số vẫn còn tàng trữ
trong kho chứa cổ vật bí mật được canh giữ chặt chẽ, hiếm người
được phép vào thăm. Du khách đến viếng Angkor, ngoài những phù
điêu trên tường, chỉ thấy những căn phòng trống không và phần
lớn tượng đều bị thay thế bằng tượng làm lại sao theo bản chính.
Tuy phó bản nhưng tinh xảo đến không dễ gì phân biệt được. Điều
này nảy ra một nghi vấn có tính cách đạo đức: Du khách vượt một
chặn đường hằng chục ngàn cây số đến tận Angkor để xem những di
tích còn lại từ thế kỷ thứ 12, cuối cùng không được xem đồ thật
sao? Nhưng vấn nạn vẫn là nếu cứ để chúng nằm chơ vơ, rải rác
trên một địa bàn rộng mênh mông của Angkor thì không khác gì mời
bọn gian đến lấy đem đi bán. Bất cứ tượng hoặc phù điêu xưa nào
cũng là mục tiêu béo bở của bọn con buôn cổ vật, đặc biệt là đầu
tượng. Một khi đã lọt qua Thái Lan, chúng lập tức tìm đường đưa
qua Singapore, Hồng Kông, và đồng thời qua Nhật, các nước Âu
Châu. Cảnh sát quốc tế Interpol cho biết rằng lợi nhuận thu được
từ buôn bán cổ vật đứng thứ nhì chỉ sau buôn lậu bạch phiến.
Nhiều ngôi đền ở Kampuchea, có đến 90% số cổ vật bị đánh cắp.
Riêng đền Banteay Chhmar gần biên giới Thái Lan, năm 1999, toàn
bộ tường đền đều bị gỡ mất để rồi tái xuất hiện ở bên kia biên
giới. Các chuyên gia khảo cổ đang cố truy tầm dấu vết nhưng chỉ
hoài công. Đó là lý do tại sao các chuyên viên bảo tồn khẳng
định rằng các di vật nguyên thủy không nên để khơi khơi giữa
trời nước bao la.
Ngay cả
những đồ thật được đem đi cất giữ vẫn chưa được yên: năm 1993,
bọn cướp trang bị súng đại liên bắn gục lính canh khu bảo tồn ở
Siem Reap, phía nam Angkor, sau đó dùng súng phóng lựu phá cửa
vào kho mang đi 11 pho tượng trị giá trị giá chừng nửa triệu Mỹ
kim. Olivier de Bernon, cố vấn cho đơn vị bảo tồn thuộc ÉFEO nêu
thắc mắc: “Đem di vật đi cất giữ để rồi phải rước lấy nguy hiểm,
làm vậy có hợp pháp không? Theo tôi thì có. Nhưng không cho ai
xem những bảo vật được bảo quản cẩn thận thì là điều không nên.
Nên lập một bảo tàng quốc gia ở Siem Reap để mở cửa cho du khách
vào xem.”
Chuyện
đem bảo vật đi cất rồi thay vào đó bằng đồ giả thật ra chẳng mới
mẻ gì. De Bernon cho biết tượng Chevaux de Marly ở Champs Elysée
là đồ giả, cái thiệt đang nằm trong viện bảo tàng Louvre mà mấy
ai hay. Ở Ấn Độ, sợ du khách làm hỏng những bức tranh Phật giáo
vẽ trên đá cổ đến 2000 năm trong các hang ở Ajanta, miền trung
tiểu bang Maharashtra, các nhà khảo cổ muốn đóng cửa luôn không
cho công chúng vào xem. Giám đốc khu bảo tồn là A. C. Grover cho
rằng chỉ các nhà học giả mới được thăm viếng, công chúng xem
phó bản tại viện bảo tàng được rồi.
<<Tượng nữ thần devata thuộc Ấn Giáo bị kẻ gian đục mất phần mặt
một cách vụng về. Courtesy of Michael Freeman
Dù
không được xem đồ thật, du khách qua số tiền họ đổ vào hằng năm
cũng đã đóng góp rất nhiều cho việc bảo tồn và thuê cảnh sát bảo
vệ các kho tàng của Kampuchea. Với đà gia tăng sự quan tâm đến
nghệ thuật Khmer khiến sản sinh một nền kỹ nghệ làm đồ mỹ nghệ
phó bản với giá bán rẻ mạt so với hàng thật. “Muốn phân biệt
hàng giả với đồ thật đâu có dễ,” Étienne Clément, trưởng UNESCO
ở Căm Bốt phát biểu. Ngày nay tụi ăn cắp và bọn buôn cổ vật đều
có đồng quan điểm như vậy. Conservancy báo cáo cho biết có nhiều
đồ giả ở các đền đã bị đánh cắp. Giới chuyên gia nghệ thuật ở
Nam Vang kháo nhau về chuyện một người Mỹ thấy lương tâm cắn
rứt, đã hào hiệp đem gởi trả một tượng thần thuộc thế kỷ thứ 9
mà ông ta đã mua với giá hàng chục ngàn đô-la. Khi nhận được món
hàng họ biết ngay đây chỉ là phó bảng nên gởi trả về khổ chủ mà
không lấy tiền cước phí. Thật chua chát thay, chính sự thiếu
hiểu biết của bọn vô lương là chìa khóa cho sự tồn tại của
Angkor.
Năm
1968, có 70.000 người đến viếng Căm Bốt, đặc biệt là Angkor, mà
đa số là những người Mỹ đi theo tours ghé nhiều nơi trên thế
giới. Sang đến 1970, con số lên đến 100.000. Sau đó con số giảm
xuống dần và có khi đến gần mức số không trong thời kỳ chiến
tranh và nhất là thời kỳ Pol Pot. Năm 2004 phân nửa số 1,4 triệu
người đến Kampuchea ghé đến Angkor. Sang năm sau con số tăng
thêm 34,7 phần trăm. Sự gia tăng du khách đều đặn đã đưa Siem
Reap, một ngôi làng nhỏ trở nên thành phố sầm uất thứ nhì với
khách sạn, nhà hàng và xe cộ sang trọng, đường sá choán ngợp với
các biển quảng cáo thương mại. Dân số từ vài ngàn bùng lên đến
120 ngàn, chưa kể số lượng du khách ngày càng quá đông gây nên
vấn đề năng lượng, nước, đồ phế thải. Khi được hỏi với số lượng
đông đảo du khách hằng ngày đến viếng Angkor có làm hư hao cho
khu di tích, một chuyên gia bảo tồn đáp rẳng khu Angkor lớn gấp
đôi diện tích của Paris thì số lượng người chừng đó chưa là vấn
đề đáng lo ngại.
Tất cả
những bài viết trong loạt bài Quần Thể Đền Angkor đều tham khảo
từ những sách vở, tài liệu ghi rõ dưới đây:
1.
Ancient
Angkor by Michael Freeman & Claude Jacques
2.
Angkor by
Malcolm MacDonald
3.
The Khmers
of Cambodia, the Story of a Mysterious People by I. G. Edmonds
4.
A Short
History of Cambodia by Martin F. Herz
5.
A Guide to
the Angkor Monuments by Maurice Glaize
6.
Angkor, an
Introduction by George Coedès
7.
The Art of
Southeast Asia by Philip Rawson
8.
National
Geographic of May 1982, Aug 2000, Oct 1964.
Ngoài
ra trong kỳ này, bài cũng được tham khảo thêm từ mạng lưới
internet:
1.
In Angkor?
Don’t Steal That Statue: It’s a Fake by Michael Buckley.
Time.com.
2.
Tourism
brings hope, worry to Angkor by Ker Munthit. Yahoo News.
3.
Rescuing
Angkor by Richard Covington. Smithsonian.com.
Đã đăng:
Angkor Wat
Angkor Thom và Đền Bayon
Angkor Bị Lãng
Quên Như Thế Nào?
Trở về Trang Chính
|