|
Qua
hằng trăm di tích đền đài rải rác trên khắp đất nước Căm Bốt
ngày nay, nhân loại trong thế kỷ vừa qua, qua tìm tòi đã biết
được có một nền văn minh Khmer rực rỡ hiện hữu cách đây non một
ngàn năm vốn đã chìm sâu trong quá khứ từ hằng mấy thế kỷ. Những
kiến trúc huy hoàng ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi cuộc
sống con người thuở ấy sinh hoạt ra sao.
Mặc dầu
hiện nay chỉ có một số lượng thông tin vừa phải còn tồn tại cho
ta biết danh xưng của các vị vua Kampuchea thời Angkor, những
liên quan hệ phả giữa họ, các trận đánh đã diễn ra qua các triều
đại, những đền đài do họ dựng nên; ngoài ra thì không có một tài
liệu nào để lại nhắc đến nền nghệ thuật, khoa học thời đó. Không
cả văn kiện viết tay, tranh ảnh, đồ dùng, tác phẩm nghệ thuật
khác hơn những những tượng hoặc hình chạm khắc trên đá còn lưu
lại ở các đền. Do khí hậu ẩm ướt của miền nhiệt đới, bất cứ vật
gì làm từ gỗ, da, vải sợi đều bị tiêu hủy theo thời gian. Trong
khi ở Ai Cập, nhờ khí hậu khô, ngay đến giấy làm từ cây cói,
tranh vẽ trên tường, và di vật của mọi thứ vẫn còn tồn tại qua
suốt mấy nghìn năm. Ở Căm Bốt với hằng thế kỷ mưa dầm, cây cỏ
miền nhiệt đới trùm phủ, mối mọt, và nấm đục khoét, thì ngay đến
những loại gỗ cứng nhất cũng bị phân rã.

Theo mô tả của Châu Đạt Quan vị đặc sứ Trung Hoa
tại kinh đô của Kampuchea vào thời kỳ Angkor thì các tháp của
Angkor Wat và đền Bayon ở Angkor Thom thuở ấy đều được dát vàng.
Khu vực chung quanh có dân cư quần tụ đông đúc trên một diện
tích rộng gần bằng Los Angeles ngày nay.
Ngày
nay, du khách khi bước qua các cổng dẫn vào thành Angkor Thom và
từ đó đi đến Bayon, trung tâm của kinh đô cổ xưa dài khoảng một
cây số rưỡi, họ thấy hai bên dày đặc cả cây rừng. Những khu rừng
đó ngày xưa là phố thị là nơi sinh sống của dân Angkor với nào
là lầu son gác tía, dinh thự, công ốc, quán trọ, trại binh, rạp
hát, và cả nhà cửa của hằng trăm ngàn cư dân lẫn người nô lệ.
Vậy mà nay một dấu vết nhỏ nhất của chúng cũng không còn tồn
tại; ngay như khu hoàng cung vì xây bằng gỗ cũng bị xóa mất, còn
chăng chỉ là những nền đá kiến trúc rực rỡ. Tưởng cũng nên nhắc
lại là vào thời ấy chỉ các đền thờ mới được xây theo kiến trúc
bằng đá mà thôi.
Chúng
ta không thể biết với phương tiện gì mà người Khmer cổ có thể di
chuyển các khối đá từ núi Phnom Koulen xa trên dưới 50 km đến
nơi xây dựng đền đài. Hơn nữa, trong tiến trình xây, những khối
đá nặng trung bình là 4 tấn được đưa lên cao bằng phương pháp
nào. Nhờ hệ thống dẫn thủy qui mô còn tồn tại, người ta chỉ suy
đoán các khối đá có thể đã được vận chuyển bằng đường thủy.
Không một tài liệu để lại về ngành thiên văn cổ xưa mà nay người
ta biết được các đền hồi đó đều được xây nằm đúng ngay trên trục
đông-tây. Chúng ta cũng không biết cả đến ngành y dược của họ
ngoại trừ những câu khắc trên đá lưu lại ở đền Ta Prohm cho thấy
dưới thời vua Jayavarman VII, Kampuchea có đến 102 bệnh viện
trong khi ngày nay chỉ trên dưới hai mươi.
Duy chỉ
hệ thống dẫn thủy là còn lưu vết tích, trong đó gồm luôn hai hồ
chứa nước nhân tạo khổng lồ mà một trong hai có kích thước bề
một và bề hai cây số mà bây giờ vẫn còn được sử dụng làm hệ
thống dẫn thủy nhập điền mới do Mỹ trợ giúp.

Cảnh
rước kiệu của vua Khmer ra khỏi kinh đô Angkor
May
thay, một tài liệu viết tay miêu tả khá tỉ mỉ về kinh đô Khmer
cổ xưa được Châu Đạt Quan (Chou Ta-Kuan) để lại. Năm 1295, ông
ta đến Angkor làm đặc sứ cho Timur Khan, một hoàng đế Mông Cổ
thống trị nước Trung Hoa. Cha của Timur là Hốt Tất Liệt (Khublai
Khan), người đã đánh bại Miến và giúp Thái giành lại độc lập từ
Kampuchea. Ông ta từng khuyến khích Đại Việt gây chiến với
Kampuchea và Chiêm Thành, và năm 1283 ông cho gởi một đội quân
đến Căm Bốt buộc vua ở Angkor phải thần phục. Nhưng theo lời của
Châu Đạt Quan thì đội quân ấy đã không hề đến; do vậy, tòa sứ
của Trung Quốc lãnh nhiệm vụ thuyết phục Kampuchea chịu làm chư
hầu của mình thay vì phải dùng vũ lực. Nhờ thời gian thương thảo
kéo dài, Châu Đạt Quan mới có cơ hội lâu đến một năm để quan sát
đời sống của kinh đô Angkor.
Vào
thời ấy, Jayavarman VII, vị vua hùng mạnh cuối cùng của dân
Khmer đã chết từ trăm năm trước. Thời cực thịnh của Angkor không
còn nữa và vương quốc này đang độ tiệm tiến suy tàn. Dầu nhiều
nước chư hầu đã tách khỏi ách thống trị nhưng lãnh thổ mênh mông
của đất nước Kampuchea vẫn còn nguyên vẹn; và mặc dầu không còn
xây dựng thêm đền đài mới nhưng dân Khmer vẫn vui hưởng những gì
của nền văn minh Angkor để lại. Với khuynh hướng bảo thủ, cách
sống của họ vẫn hệt như của cha ông họ thuở trước. Do vậy, bài
thuật của Châu Đạt Quan tuy viết vào thời này nhưng vẫn có thể
xem như miêu tả đời sống của Angkor thời Jayavarman VII hay vài
thế hệ sau.
Châu
Đạt Quan tả cho thấy các tháp bốn mặt trên cổng vào thành Angkor
Thom cũng tựa như ta thấy ngày nay, chỉ khác là tháp trung tâm
của mỗi cổng được dát vàng. Ở trung tâm của kinh đô có một tháp
vàng với hai mươi tháp đá vây chung quanh (có thể ông ta muốn
nói đây là đền Bayon). Bên phía đông của đền này có một cây cầu
dát vàng, hai bên có hai tượng sư tử bằng vàng, và tám pho tượng
phật cũng bằng vàng mỗi tượng ngồi trong một ngôi miếu nhỏ bằng
đá. Cung điện cũng như nhà của các vương tôn hoặc các quan lại
đều quay mặt về hướng đông, tất cả đều làm bằng gỗ và mái nhà
bằng ngói có màu vàng của đất nung. Ở điện nơi vua thường đến
thiết triều các cửa sổ đều có khung cửa bằng vàng. Châu Đạt Quan
nghe nói bên trong cung vua rất huy hoàng, tráng lệ nhưng canh
gác rất nghiêm ngặt, không ai được phép vào.

Quân
Khmer khi lâm trận với voi và quân lính chạy theo hai bên tựa
như ngày nay có thiết giáp và đơn vị bộ binh tùng thiết.
Trong
thời gian lưu lại Angkor, ông Châu được chứng kiến cảnh vua ra
khỏi cung bốn đến năm lần nên ông cho ta thấy một số hình ảnh lý
thú về những dịp quan trọng đó. Vì sợ bị ám sát nên không lần
nào rời cung mà vua không mang giáp, đầu đội vương miện bằng
vàng hoặc một vành kết hoa có mùi thơm như mùi hoa nhài. Quanh
cổ là những dây ngọc trai nặng chừng hơn một kí. Cổ tay, cổ chân
mang dây chuyền vàng, và các ngón tay có những nhẫn vàng. Ông ta
đi chân trần không mang giày, ở gót và lòng bàn tay nhuộm đỏ.
Tay cầm cây kiếm vàng Preah Khan (ngày nay vẫn còn dùng như biểu
trưng quyền uy của vương quốc Căm Bốt). Đi dẫn đầu là một đoàn
thiếu nữ tay cầm các đồ dùng bằng vàng hoặc bằng bạc, tiếp đến
là đoàn xe dê hoặc ngựa kéo mà tất cả đồ trang trí đều bằng
vàng. Khoảng hơn một trăm cây lọng cũng được điểm tô bằng vàng,
và ngay cán cầm cũng bằng vàng. Tiếp theo là vua tay cầm kiếm
vàng đứng trên một con voi lớn mà hai ngà đều bọc toàn vàng. Bảo
vệ quanh vua là vệ quân gồm các nữ binh tay cầm giáo và khiêng,
cùng những kỵ binh cỡi ngựa hoặc voi. Các vương tôn công tử, các
đại thần, các nhà chiêm tinh được rước kiệu có điểm vàng theo
sau, mỗi kiệu có bốn lọng với cán bằng vàng che hai bên, trong
khi quan nhỏ chỉ được che với lọng có cán bạc. Các nhà sư đầu
cạo nhẵn, mặc cà sa vàng để hở trần bên vai phải. Họ cũng được
che lọng với cán vàng hoặc bạc tùy theo chức sắc.

Đội quân nhạc gồm kèn, trống, phèn la để khích
động tinh thần chiến đấu vừa uy hiếp tinh thần đối phương.
Các nhà
sư mỗi ngày chỉ dùng bữa một lần. Họ tụng nhiều kinh khác nhau,
kinh được viết trên lá kè bằng chữ đen nhưng vì người Khmer
không dùng viết hoặc mực nên Châu Đạt Quan không đoán được họ
viết chữ bằng gì. Các vua quan thường thỉnh ý họ mỗi có việc
quốc gia đại sự.
Vấn đề
hình phạt đối với kẻ có tội tựa như Châu Âu thời trung cổ gồm
phạt tiền, đánh roi hoặc đòn, chặt tay chân, và chôn sống.
Triều
đại Angkor có một tập tục kỳ lạ là hằng năm có lệ thu mật từ gan
người để dâng vua. Mật sẽ được hòa uống với rượu với niềm tin
rằng uống vào sẽ làm con người bạo dạn hơn. Điều ghê rợn là mật
phải lấy từ gan của người sống cho nên vào đêm của ngày thu gom
mật, xui cho kẻ nào ra đường vào ban đêm.
Về
ngành thiên văn thì Châu Đạt Quan cung cấp rất ít thông tin
ngoại trừ cho biết rằng các nhà chiêm tinh có thể tính được khi
nào có nguyệt hay nhật thực.
Châu
Đạt Quan mô tả Kampuchea như là một miền đất vừa núi vừa bình
nguyên mà hầu hết đều bị rừng hoang phủ lấp, ở đó đầy dẫy cọp,
voi, hưu, gấu, khỉ, tê giác. Có điều là ở đây cũng như các nước
khác ở Đông Nam Á không có sự hiện diện của sư tử mặc dù ta thấy
nhiều trên các huy hiệu, đồ trang trí hoặc được tạc thành những
tượng đá ở các đền mặc dù không một người Khmer nào đã từng được
thấy sư tử bằng xương bằng thịt. Chim muông gồm công, két đuôi
dài, ưng, trĩ, gà rừng, và nhiều loại khác nữa. Vịt trời, chim
cốc, thiên nga thường xuyên lui tới các hồ lớn cạnh bên Angkor;
trong khi ở Biển Hồ có nhiều loại cá, tôm khổng lồ, rùa, cá sấu;
riêng cá sấu, theo Châu Đạt Quan thì rất lớn.

Vùng làng mạc của các nông dân ở chung quanh
Angkor với hệ thống dẫn thủy chằng chịt khắp nơi.
Trên
các vùng đồi núi có trâu bò rừng, ngựa hoang, và người rừng. Về
các người rừng này Châu tả như sau: ‘Họ không sống trong nhà
nhưng cùng gia đình di chuyển qua các vùng núi non, đầu đội chậu
đất sét. Khi gặp thú hoang, họ dùng cung hoặc giáo để giết rồi
dùng đá để đánh lửa nấu nướng… Lối sống man rợ, và họ có thứ
chất độc rất nguy hiểm.’ Những người rừng này bị săn bắt đem về
phố bán làm nô lệ với giá rẽ, họ được xem tựa súc vật. Thời vua
Jayavarman VII, nô lệ được bắt đem về từ các nước chư hầu nhưng
đến lúc này nguồn ấy đã cạn kiệt. Văn hóa xã hội Khmer dựa vào
lao động nô lệ, Châu viết: ‘Một số người làm chủ đến hơn một
trăm nô lệ, chỉ ai quá nghèo mới không nuôi nổi tôi tớ.’
Dân
miền núi săn bắt sản vật rừng như mật ong, nhựa cây, mây, tre,
nứa, ngà voi, sừng tê giác, lông chim, trái rừng về phố đổi chát
lấy những thứ cần thiết cho nhu cầu đơn giản của họ. Tập tục này
ngày nay vẫn còn thấy ở các quốc gia như Lào, Căm Bốt, Việt Nam,
Miến, Borneo.
Khu vực
bình nguyên rộng lớn quanh Angkor được dùng để khai khẩn nông
nghiệp. Những trận lụt hằng năm làm dâng nước Đại Hồ, và hệ
thống dẫn thủy tuyệt vời cùng những hồ chứa nước nhân tạo mang
phù sa màu mỡ cho đất canh tác. Giữa những cánh đồng là các làng
mạc của nông dân, họ dùng lưỡi cày, cuốc, liềm để làm việc đồng
áng. Họ thu hoạch ba bốn vụ mùa mỗi năm, ngoài ra họ còn gieo
trồng thêm hoa màu, mía, và cây ăn trái. Có lẽ họ dùng trâu để
cày bừa, nuôi heo, cừu, dê, gia súc, ngựa, ngổng, và gà vịt để
lấy thịt. Muối lấy từ các ruộng lúa ven biển. Họ tuy chưa biết
kỹ thuật gây men từ ngủ cốc nhưng cũng biết làm rượu từ mía,
mật, gạo và lá cây rừng.
Châu
Đạt Quan, lẽ tự nhiên coi các dân không phải người Hoa đều là
man di, miêu tả người Khmer thô kệch, có màu da rất sậm, nhưng
nhấn mạnh rằng ‘ở các lâu đài, cung đìện nơi không bị ánh nắng
thiêu đốt, nhiều phụ nữ có màu da trắng như ngọc.’ Nắng nhiệt
đới quả tình rất gay gắt, đàn ông, đàn bà chỉ vấn che phần dưới
rốn một tấm vải hoặc lụa (tùy theo đẳng cấp hay giàu nghèo),
ngoài ra thì để trần phía trên và đi chân đất. Đầu búi, không đồ
trang sức nhưng chỉ mang vòng và dây chuyền vàng. Ngay đàn bà
lao động cũng mang đồ nữ trang rẽ tiền. Đàn ông, đàn bà như
nhau, họ đều xức xạ hương hoặc các thứ dầu thơm khác.

Các đơn vị làng xã luôn luôn có một hồ lớn để
trong làng có thể ra đó tắm giặt chung, ngoài ra còn có một đền
nhỏ xây bằng đá tiện cho việc cầu tự.
Chợ ở
phố cũng nhỏ và tồi tàn như chợ làng, chỉ toàn đàn bà buôn bán
nhỏ. Họ không có hàng quán cố định, ngày ngày trải chiếu trên
đất bên vệ đường bày hàng hóa ra bán. Họ ngồi chồm hỗm, miệng
nhai trầu và tán gẫu với người cạnh bên. Một hình ảnh quen thuộc
vẫn còn thấy ở các nước Đông Nam Á. Mua bán nhỏ họ trả bằng gạo,
ngủ cốc, hoặc đại loại tương tự, nhưng đồ giá trị hơn thì được
trao đổi bằng vàng hay bạc.
Hoa
thương thì khắp nơi, họ thích đến đây làm ăn sinh sống vì theo
họ đây là nơi dễ buôn dễ bán, gạo cơm dư thừa, đàn bà dễ kiếm,
nhà cửa, đồ đạc gia dụng rẽ rúng. Vào thời này, hàng hóa các thứ
từ Trung Hoa thường xuyên được mang đến bằng thuyền biển hoặc
lạc đà. Họ mang đến những thứ mà dân Khmer ưa chuộng như lụa
màu, khay cẩn, đồ men sứ trắng xanh, dù, lược, thức ăn, kim loại
quí và những vật liệu tiện ích khác. Trong nhà của giới thượng
lưu, đồ sứ của Tàu được thay cho bát tô bằng đất sét, ngay đến
bàn thấp từ Trung Hoa cũng trở nên món trang trí nội thất thời
thượng. Giường kiểu Tàu cũng được nhà giàu ưa chuộng, trong khi
các giới khác vẫn ngủ giường tre.
Giới
quan quyền, học thức sống tập trung ở những trung tâm lớn. Nhà
cửa họ ở lớn nhỏ, xây bằng vật liệu gì được cho phép tùy theo
đẳng cấp. Chỉ người có chức quyền cao mới được ở nhà lợp ngói,
ngoài ra thì toàn mái tranh. Nhưng dù giàu hay nghèo, ngày nay
không nhà nào còn tồn tại.
Mỗi nhà
không có hệ thống nước cũng như cống rảnh. Người ta ra tắm nơi
công cộng mà hồ và kênh đào có khắp mọi nơi. Về vấn đề vệ sinh,
họ đào nhiều lỗ trong sân nhà rồi tạm lấy cỏ lấp lại sau mỗi lần
dùng đến, sau khi đại tiện xong họ xuống rửa ráy ở ao bằng tay
trái, tay phải được chừa lại để bốc đồ ăn. Khi họ thấy người Tàu
dùng giấy để làm vệ sinh họ làm điệu chọc quê và khép cửa lại.
Châu Đạt Quan còn thêm: ‘Nhiều đàn bà đái đứng trông thật kỳ
cục.’
Một tập
quán lạ lùng khác là tục khai hoa (chen-t’an: deflowering) con
gái mới lớn ở độ tuổi từ 7 đến 9 cho con nhà khá giả, hoặc trước
11 cho con nhà nghèo; mà người làm việc này là một ông sư hoặc
một tu sĩ bà la môn. Mỗi năm quan chức chọn một ngày vào khoảng
tháng tư âm lịch và thông báo cho cả nước rõ. Nhà nào có bé gái
trong độ tuổi cần được khai hoa thì phải khai báo với quan, quan
gởi cho nhà ấy một cây đèn cầy trên có khắc một vạch. Vào đêm
được chỉ định, đèn cầy ấy được đốt lên, khi đèn cháy tới vạch
khắc thì coi như thời điểm đã đến. Đồ biếu cho sư tùy theo khả
năng gồm rượu, gạo, vải vóc, lụa là, cau trầu, các đồ dùng bằng
bạc… Mỗi vị sư chỉ khai hoa một bé gái một lần mỗi năm.
Người
Thái xâm lăng Căm Bốt năm 1350, mặc dù chưa lấy được Angkor
nhưng cũng bắt theo nhiều tù binh. Đến năm 1431 Angkor mới thật
sự rơi vào tay Thái và họ mang về nước vô số tượng và đồ quí.
Vua Xiêm đặt con trai của mình lên ngôi ở Angkor nhưng chỉ được
một thời gian thì bị ám sát chết. Ponha Yat, kẻ kế vị của vương
triều Kampuchea lên thay. Có lẽ chính vào trong thời kỳ rối ren
này mà vị vua đã quyết định dời đô khỏi Angkor.
Sau
những bài miêu tả của Châu Đạt Quan về Angkor, không còn chứng
tích gì để lại nhắc nhở đến đời sống của kinh đô ấy. Một màn u
minh đã dần dần phủ xuống xóa mờ đi Angkor và cả nền văn minh
Khmer.
Tất cả
những bài viết trong loạt bài Quần Thể Đền Angkor đều tham khảo
từ những sách vở, tài liệu ghi rõ dưới đây:
1.
Ancient
Angkor by Michael Freeman & Claude Jacques
2.
Angkor by
Malcolm MacDonald
3.
The Khmers
of Cambodia, the Story of a Mysterious People by I. G. Edmonds
4.
A Short
History of Cambodia by Martin F. Herz
5.
A Guide to
the Angkor Monuments by Maurice Glaize
6.
Angkor, an
Introduction by George Coedès
7.
The Art of
Southeast Asia by Philip Rawson
8.
National
Geographic of May 1982, Aug 2000, Oct 1964.
Đã đăng:
Angkor Wat
Angkor Thom và Đền Bayon
Angkor Bị Lãng
Quên Như Thế Nào?
Công Trình Bảo Tồn Angkor và Nạn Mất Cổ Vật
Trở về Trang Chính
|