|
Ngồi
trong một quán bán thức ăn nhanh (fast food restaurant) nằm ở
khu ngoại ô Boston, địa điểm nơi nào tôi không thể nói ra được
vì đã ký kết thỏa thuận với công ty Apollo Diamond là sẽ không
tiết lộ bất cứ một chi tiết nào. Tôi đang chờ họ đến đón vào
thăm viếng nơi sản xuất kim cương nhân tạo. Apollo bí mật như
một cơ quan tình báo thời Sô Viết, địa chỉ của họ không hề được
công bố công khai. Họ không muốn tiết lộ để tôi tự tìm đường lái
xe đến; thay vì vậy họ cử một nữ nhân viên đến đón tôi với một
chiếc xe sang trọng mà tôi cũng không được phép nói ra đây là xe
gì, và dĩ nhiên là tôi cũng không được phép tiết lộ cô ta đã đưa
tôi đi theo lộ trình nào.
Khi đến
nơi, chủ tịch điều hành công ty là Bryan Linares liền giới
thiệu:
“Đây là
mỏ kim cương ảo. Nếu ở bên Phi Châu thì chúng tôi có hàng rào
kẽm gai, trạm gát lẫn lính canh, tiếc rằng đây là
Massachusettes, chúng tôi không thể làm vậy được.”
Ban
giám đốc Apollo Diamond hết sức quan ngại cho sự an ninh an toàn
của công ty, họ sợ bị trộm cướp, sợ gián điệp kinh tế. Bryan kể
lại rằng trong một lần dự hội nghị về kim cương cách đây vài
năm, khi anh vừa từ khách sạn nơi tổ chức hội nghị bước ra thì
có một người mà anh biết rõ nhưng không chịu tiết lộ danh tánh
bước theo phía sau và nhắn rằng có một người thuộc một công ty
sản xuất hột xoàn thiên nhiên muốn tặng anh một viên kẹo đồng
vào đầu. Bryan nói:
“Nghĩ
lại lúc ấy tôi cảm thấy thật kinh hoàng.”
Cha của
Bryan là ông Robert Linares vốn cùng với một cộng sự viên mà về
sau trở thành người đồng sáng lập công ty Apollo, đã phát minh
ra kỹ thuật cấy trồng kim cương. Ông đích thân đưa tôi đi vào
một trong những phòng sản xuất. Dọc theo hành lang dài có bốn
buồng áp suất lớn mà mỗi cái lớn bằng một tủ lạnh lớn, trong đó
đầy dẫy những ống nghiệm cùng các mặt số đồng hồ. Đó đây các
kiểm nghiệm viên mặc áo choàng lăng xăng đi tới đi lui, tôi ghé
mắt ngó vào ô cửa nhỏ của một khoang máy. Một đám mây xanh lục
phủ lấp phần trên; bên dưới là mười sáu chiếc đĩa lớn bằng hạt
nút, mỗi đĩa ánh lên một thứ ánh sáng màu hồng đục. Ông Robert
hỏi:
“Trông
chẳng giống gì phải không? Coi vậy chứ vài tuần nữa chúng sẽ
thành những viên hột xoàn nửa cà rá.”
Năm
1796, hóa học gia Smithson Tennan khám phá ra rằng kim cương cấu
tạo từ carbon. Mãi đến thập niên 50 các khoa học gia mới bắt đầu
thử chế tạo kim cương bằng cách tôi luyện từ than chì graphite ở
nhiệt độ 2.550 độ F dưới áp suất 55.000 lần cao hơn áp suất
không khí. Kết quả họ chỉ đạt được thứ đá nho nhỏ không tinh
khiết. Những thành phẩm này chỉ khá hữu dụng vào những ứng dụng
trong kỹ nghệ như chế tạo những lưỡi khoan dùng trong nha khoa
và để làm lưỡi cưa sắt. Sang đến thập niên gần đây, những tay
biết chịu khó miệt mài tìm kiếm như Linares mới toàn hảo hóa
được một tiến trình hóa học, gây trồng nên thứ hột xoàn lớn và
thuần khiết không thua gì những viên kim cương tuyệt hão nhất
lấy lên từ trong lòng đất. Tiến trình mang tên CVD (Chemical
Vapor Deposition) đưa một đám mây khí carbon tác dụng lên trên
những hạt giống kim cương nằm trong một phòng chân không được
nung lên đến hơn 1.800 độ F. Kim cương từ đó mọc lên bên trên
hạt giống dưới dạng carbon kết tinh.
Hồi
khởi sự làm việc cho Bell Labs ở Murray Hill, New Jersey vào năm
1958, ông Robert Linares đã đi bước tiên phong trong việc khảo
cứu tinh thể tổng hợp. Kế đó ông thành lập Spectrum
Technologies, một công ty chuyên về chất bán dẫn (semiconductor)
rồi ông bán công ty này đi và lấy nguồn tiền đó tập trung vào
việc nghiên cứu về kim cương. Năm 1966, sau gần một thập niên
làm việc trong garare của nhà ông ở Boston nơi ông thiết lập
những dụng cụ mà ông không tiết lộ - ông khám phá ra được trị số
chính xác của hỗn hợp khí và nhiệt độ để có thể tạo được những
hột xoàn lớn dưới dạng một tinh thể duy nhất, cái thứ hột mà
người ta đem cắt gọt thành những viên bảo thạch. Ông Robert nói:
“Lúc ấy
tôi thật xúc động như đang đứng nhìn xuống một mỏ kim cương.”
Để có
một sự thẩm định vô tư về phẩm chất của những thứ đá quí nhân
tạo này, tôi thỉnh cầu Bryan Linaires cho phép tôi mượn về một
viên. Ngày hôm sau tôi đặt viên đá 0,38 cà rá trước mặt Virgil
Ghita, chủ tiệm nữ trang uy tín Ghita’s ở phố chính của Boston.
Ông ta dùng cây nhíp nhỏ kẹp viên đá, nâng lên trước mắt phải và
nhìn qua chiếc kính lúp của thợ vàng. Từ từ ông ta xoay viên đá
ngược phía ánh nắng nghiêng của buổi chiều rồi buộc miệng:
“Đúng
là một viên đá đẹp, màu sắc thật tuyệt vời. Tôi không thấy
khuyết điểm nào cả. Do đâu mà ông có vậy?”
Tôi
đáp, “Nó được sản xuất từ một phòng thí nghiệm ở cách đây khoảng
20 dặm.”
Ông ta
hạ chiếc kính lúp xuống, đưa mắt nhìn tôi một chốc, rồi lại nhíu
mày coi kỷ lại viên đá. Cuối cùng ông thở dài nói:
“Thật
tình mà nói không ai có thể cho rằng đây là hột xoàn nhân tạo.”
Hơn một
tỉ năm trước, ở độ sâu 200 dặm dưới lòng đất, hỗn hợp của một
sức nóng khủng khiếp cùng với áp suất cực cao đã tôi luyện nên
những hạt kim cương mà người ta khai thác ngày nay. Những đá quí
này theo phún xuất của những trận núi lửa phun thời xa xưa được
đưa lên gần bề mặt trái đất. Sau mỗi trận phun nham thạch như
thế núi lửa để lại một hình trụ bằng đá có hình dáng tựa củ cà
rốt gọi là kimberlite, trong ruột của nó nạm đầy kim cương, ngọc
hồng lựu cùng vô số các thứ đá quí khác. Một kimberlite có niên
đại trẻ nhất được biết có tuổi là 47 triệu năm.
Kim
cương được khai thác từ mọi nơi trên quả đất, từ phía bắc của
vòng địa cực cho đến vùng chí tuyến của miền tây Úc Châu. Đa số
các mỏ kim cương khởi nguồn từ một hố sâu và rộng; nếu trụ
kimberlite có chứa nhiều kim cương, thợ mỏ sẽ đào những đường
hầm sâu chừng 1 cây số hoặc hơn thế nữa. Ở những vùng nơi trước
đây từng có con sông chảy qua, người ta chỉ việc gạn lấy kim
cương từ sạn sỏi. Kim cương rời thường nằm lộ giữa mặt đất ở
miền Trung tây Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 19; chúng do băng hà đưa
đến và tích tụ ở đấy. Các nhà địa chất tin rằng kim cương mới
vẫn tiếp tục được hình thành trong lớp vỏ trái đất nhưng ở quá
sâu các tay thợ mỏ không thể với tới được.
‘Kim
cương’ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ ‘adamas’ có nghĩa là vô
song. Người Ấn đã từng khai thác kim cương từ hơn 2000 năm
trước, và người La Mã thuộc thế kỷ thứ nhất đã biết dùng đá quí
này để khắc những đồ trang sức đá chạm. Dần dà qua các thời đại,
kim cương được lưu truyền là vật huyền bí tượng trưng cho quyền
uy và phú quí. Vào thế kỷ thứ 16, viên kim cương 109 cà rá có
tên Koh-I-Noor tìm được ở mỏ Kollur, miền nam Ấn, được coi như
là vật quí báu nhất của toàn bán lục địa Ấn Độ. Bấy giờ người ta
truyền tụng rằng ai sở hữu nó thì sở hữu cả địa cầu. Một văn sĩ
thời ấy nhận định: “Nó cực kỳ quí giá đến nổi một người chuyên
định giá hột xoàn có tiếng lượng định nó có giá trị bằng nửa số
tiêu dùng của toàn cầu trong một ngày.” Nước Anh chiếm được viên
đá năm 1849 khi hai xứ Lahore và Punjab trở thành thành viên của
Đế quốc Anh; viên kim cương này nay đang nằm ở Tháp Luân Đôn, là
viên hột xoàn chính nằm ngay giữa cái vương miện làm riêng cho
Nữ Hoàng Elizabeth vào năm 1937.

Viên kim cương Koh-I-Noor, 109 cà rá gắn trên
chiếc vương miện của nữ hoàng Anh do Anh quốc chiếm từ Ấn Độ
khi quốc gia này trở thành thuộc địa của mình. Người ta tin rằng
xui sẻo cho kẻ nào sở hữu nó nên ngày nay vương miện được lưu
trữ trên tháp Luân Đôn mà không ai còn mang.
Tim Graham /
Getty Images
Kim
cương vốn dĩ là carbon thuần khiết được tinh thể hóa tựa như
thỏi kẹo chẳng qua là đường ở dạng tinh thể hóa - một mảng gồm
các nguyên tử hoặc phân tử được sắp xếp theo thứ tự. Một hình
thức khác của carbon thuần khiết là graphite nhưng ở đây các
nguyên tử dính kết với nhau thành lớp chứ không kết tụ thành
tinh thể; bởi thế carbon bị rời rả dễ dàng, ví dụ đầu bút chì.
Nhờ sự kết dính bền vững của các nguyên tử, kim cương mang đặc
tính vật lý ngoại lệ. Dĩ nhiên kim cương là chất liệu siêu cứng
và không gây phản ứng hóa học với các chất khác. Hơn nữa, kim
cương hoàn toàn trong suốt không ngăn trở ánh sáng thuộc mọi độ
dài sóng, vừa là chất cản điện tuyệt vời vừa là chất bán dẫn
tốt, đồng thời nó có khả năng giữ điện tích. Nhờ những đặc tính
cá biệt, kim cương có nhiều tiềm năng quan trọng trong lãnh vực
kỹ thuật không kém gì thép và silicon trong ngành điện tử và
điện toán. Hiện kim cương đã được áp dụng vào việc chế tạo loa
(tính chất cứng rắn của nó mang lại loại loa cao tần tức tweeter
phẩm chất cao), trong ngành thẩm mỹ về da được dùng làm
exfoliants (hạt kim cương cực nhỏ sử dụng làm dao mổ rất bén),
và trong ngành kỹ nghệ cắt đá như cắt đá hoa cương và cẩm thạch,
kim cương được dùng để chế tạo những lưởi cắt loại thượng hạng
(kim cương có thể cắt bất cứ chất liệu nào). Nhờ giá thành rẻ và
mức cung ứng dồi dào, các kỹ sư hy vọng với kim cương, nhiều thứ
có thể thực hiện như từ những tia laser có cường độ cao cho đến
các mạng cung cấp điện. Họ tiên liệu những máy computer tương
lai sẽ hết sức mỏng, điện thoại cầm tay chỉ lớn bằng mặt đồng hồ
đeo tay và những máy thâu kỹ thuật số nhỏ gọn vừa lòng bàn tay
nhưng có khà năng thâu được hằng ngàn cuốn phim.
Tại
U.S. Naval Research Lab (cơ sở khảo cứu và thí nghiệm thuộc hải
quân Hoa Kỳ) nơi được canh phòng nghiêm ngặt và nằm ngay phía
nam tòa nhà quốc hội Mỹ, James Butler, một hóa học gia và là
người đứng đầu chương trình CVD, anh mang trên ngón út một chiếc
nhẩn vàng đính một viên hột xoàn nhân tạo lấp lánh các ánh sáng
trắng, xanh lục và đỏ. Anh nói:
“Kỹ
thuật ngày nay tân tiến đến độ người ta có thể cấy được loại kim
cương toàn hảo hơn kim cương chúng ta tìm thấy trong thiên
nhiên.”
Butler
kéo từ hộc bàn lấy ra một hộp sắt đầy ắp hột xoàn, trong ấy có
một số viên bé tí, vuông vắn màu vàng nhạt, những viên khác hình
tròn cùng những đĩa nhỏ trong suốt. Anh cầm lên một phiến wafer
mỏng lớn bằng cái đĩa đựng tách trà và nói:
“Miếng
này là kim cương ròng. Nó có thể được dùng trong những ứng dụng
như làm cửa sổ cho phi thuyền con thoi.”
Giới
quân sự cũng quan tâm đến kim cương nhân tạo dùng trong tia sáng
laser, áo giáp, một số ứng dụng khác mà ông Butler không chịu
tiết lộ. Vì kim cương không phản ứng hóa học với các chất khác,
các khoa học gia tin rằng nó có thể được dùng để chế những máy
dò vũ khí hóa học, theo đó máy có một điện cực kim cương rất nhỏ
mang sẳn những phân tử thụ cảm có khả năng nhận biết những mầm
bệnh đặc biệt như bệnh thán thư (anthrax); khi bộ phận thụ cảm
tiếp xúc mầm bệnh, một tín hiệu báo động liền được phát ra. Cùng
hợp tác với hóa học gia Robert Hamers thuộc trường University of
Wisconsin, Butler thí nghiệm thành công một máy cảm ứng dò được
yếu tố di truyền DNA hoặc chất protein.
Viên
kim cương nhân tạo lớn nhất được chế tạo có kích thước 0,7 in x
0,2 in x 0,2 in, tức 15 cà rá. Russell Hemley, giám đốc Phòng
thí nghiệm Địa vật lý thuộc Viện Carnegie (Carnegie Institute’s
Geophysical Lab) khởi sự cấy trồng kim cương bằng tiến trình CVD
từ năm 1995. Ông lấy từ trong túi quần ka-ki ra một viên có hình
chữ nhật, quả thật viên hột xoàn này khó mà phân biệt được với
những viên thật bán ở hệ thống tiệm kim hoàn Tiffany lừng danh.
Henley
cùng các khoa học gia khác thử nghiệm với cả kim cương thiên
nhiên lẫn nhân tạo để có thể hiểu được các chất liệu biến đổi
thế nào dưới áp suất quá lớn như áp suất ở trung tâm quả đất.
Henly thử nghiệm bằng cách ép vật liệu đủ các loại với sức ép
kinh hồn giữa một giàn đe mà hai đầu đe đều làm bằng kim cương.
Vài năm
gần đây, Henley tạo được một thứ kim cương rắn nhất. Thoạt đầu
ông cấy trồng từ trong phòng thí nghiệm, kế đó ông mang đặt vào
trong lò có áp suất lẫn nhiệt độ cực kỳ cao khiến thay đổi cấu
trúc nguyên tử của kim cương. Viên đá quí này trở nên cứng đến
độ nó làm vở máy đo độ cứng dù rằng bộ phận máy cũng được làm từ
kim cương. Với giàn đe bằng kim cương cực rắn, Henley gia tăng
áp suất lên chất liệu được thử nghiệm từ 4 triệu đến 5 triệu lần
lớn hơn áp suất không khí ở mực nước biển. Ông giải thích:
“Dưới
điều kiện cực đại, các chất liệu có tác động khác nhau. Áp suất
khiến mọi chất liệu bị thay đổi trạng thái. Chất khí trở thành
chất siêu dẫn (dẫn điện cực kỳ tốt), các chất liệu trở thành
chất liệu mới có đặc tính cực rắn. Nói chung ở điều kiện cực
đại, ta làm thay đổi được tính chất của các nguyên tố.”
Henley
khám phá ra rằng dưới áp suất cao, khí hydro hợp nhất với các
tinh thể của sắt. Ông ta tin rằng hydro có thể là một thành tố
của lõi trái đất mà xưa nay vốn được tin phần lớn gồm sắt và
kền. Do vậy Henley nghiên cứu chất liệu gồm hydro và sắt để hiểu
thêm về nhiệt độ cùng thành phần cấu tạo ở trung tâm của hành
tinh chúng ta.
Trong
một khám phá bất ngờ khác, Hemley nhận thấy hai loại vi khuẩn
thường gặp gồm E. Coli, loại vi sinh vật sống trong đường ruột,
có thể sinh tồn dưới áp suất cực cao. Ông cùng các cộng sự viên
thử cho chúng vào trong nước rồi đem đặt ở giàn đe bằng kim
cương. Dung dịch nước trở thành đậm đặc dưới dạng đông đá, cuối
cùng chừng 1% số vi khuẩn vẫn còn sống sót. Henley kết luận rằng
cuộc khảo cứu minh chứng rằng sự sống có khả năng hiện hữu trên
các hành tinh trong thái dương hệ của chúng ta, điển hình là
dưới lớp băng đá của các vệ tinh của Jupiter (Mộc Tinh). Henley
nói tiếp:
“Ở dưới
đại dương của các vệ tinh như Europa có thể nào có sự sống
chăng? Điều đó tôi chưa biết chắc nhưng chúng ta ai cũng muốn
xem thử ra sao.”
Henley
hy vọng trong tương lai không xa ông sẽ phá được thành tích mình
đã thực hiện được trước đây để chế tạo được viên kim cương lớn
hơn. Ai đã sản xuất được thứ kim cương đa tinh thể lớn nhất thì
chưa rõ nhưng một công ty có tên Element Six đã làm được những
kim cương lá (wafer) lớn đến 8 inches bề rộng. Viên kim cương
lớn nhất thế giới con người đào được là viên Cullian nặng đến
3000 cà rá, tức khoảng 1,3 cân Anh trước khi được đẻo gọt. Viên
cương lớn nhất vũ trụ được biết đến nay có kích thước của một
tiểu hành tinh nằm trong chòm sao Centaurus, cách chúng ta đến
50 năm ánh sáng. Cách đây vài năm các nhà thiên văn thuộc
Harvard-Smithsonian Center khám phá được viên đá quí hùng vĩ đó,
họ tin rằng trước đây viên kim cương lớn 2500 dặm từng là lõi
của một ngôi sao. Sơ sơ nó nặng 10 tỉ ngàn tỉ ngàn tỉ cà rá. Các
nhà thiên văn đặt cho nó tên là Lucy phỏng theo tên bài hát
‘Lucy in the Sky with Diamonds’ của ban nhạc The Beatles.
Kim
cương thiên nhiên không hiếm quí là bao, riêng năm 2006, khắp
thế giới sản xuất được hơn 75.000 cân Anh. Sở dĩ kim cương quí
giá là do chúng ta ai cũng cho là nó quí. Kim cương có biểu
tượng địa chất tương đương với một bó hồng thanh nhã, đầy sức
quyến rũ nhưng nói cho cùng chỉ tầm thường vậy thôi. Ngày nay
người ta tôn sùng nó, công trạng ấy bắt nguồn từ De Beers, công
ty sản xuất kim cương lớn nhất thế giới ở Nam Phi. Trước thập
niên 40 ít ai dùng kim cương làm lễ vật đính hôn. Thế rồi De
Beers tung ra chiến dịch tiếp thị với ý tưởng rằng kim cương là
vật siêu việt minh chứng cho tình yêu và tình cảm yêu thương.
Khẩu hiệu “Kim cương là bất diệt” lần đầu tiên đưọc tung ra vào
năm 1948 và được coi như là một trong những chiến dịch quảng cáo
thành công nhất trong mọi thời. Bằng sự kiểm soát mức cung cầu
gần như toàn hảo, De Beers hầu như nắm trọn thị trường hột xoàn
trong nhiều thập niên, cẩn thận tích trữ để giữ giá và thu nhiều
lợi nhuận. Trong khi công ty này mất phần nào quyền năng vào tay
các đối thủ như Canada và Úc châu trong vài năm qua, họ vẫn còn
thống trị chừng 2/3 thế giới về mặt hàng kim cương thô.
Các nhà
gây trồng kim cương lấy làm tự hào về sự thách thức đối với De
Beers cũng như nền kỹ nghệ kim cương thiên nhiên nói chung. Khẩu
hiệu của công ty Apollo là “Kim cương cho tất cả mọi người.” Dẫu
sao thì hột xoàn không màu của công ty cũng đồng giá với kim
cương thiên nhiên, trong khi những viên đá màu hồng, xanh,
champagne, mocha và nâu thì giá lẻ 15% rẻ hơn loại thiên nhiên
vì trong thiên nhiên những thứ này rất hiếm và mắc hơn kim cương
trắng nhiều. Đồng thời giới tiêu thụ sẳn sàng tiếp nhận kim
cương nhân tạo loại thượng hạng. Cũng như mọi mỏ lộ thiên, mỏ
kim cương gây xoáy mòn lòng đất, ô nhiễm nước, hủy hoại hệ sinh
thái của thú hoang. Trầm trọng hơn nữa, các lãnh chúa Phi châu
dùng trữ lượng kim cương để mua vũ khí và nuôi dưỡng phiến quân
như đã được bi kịch hóa trong cuốn phim Blood Diamond trình
chiếu vào năm 2006. Nam tài tử Terrence Howard mang một cái kẹp
ve áo bằng kim cương nhân tạo của hảng Apollo tuyên bố với báo
chí:
“Sản
xuất kim cương kiểu này không hại đến ai.”
Có
chừng nửa tá những công ty khác bắt đầu chế tạo kim cương phẩm
chất cao nhưng không theo tiến trình CVD mà theo phương pháp rập
khuôn gần như theo lối kim cương được tạo ra trong thiên nhiên.
Căn bản là tiến trình này được cải tiến nhiều từ phương pháp mà
các nhà khoa học thời thập niên 50 đã áp dụng – đòi hỏi một
nhiệt độ cao hơn 2000 độ F và áp suất 50 lần lớn hơn áp suất
trên bề mặt trái đất. Các máy với kích thước lớn hơn chiếc máy
giặt cho ra được những viên đá quí nặng trên 6 cà rá. Những viên
kim cương có tên HPHT này viết tắt từ chữ high pressure high
temperature (áp suất cao nhiệt độ cao) hàm chứa nhiều khí nitơ
hơn kim cương CVD; chính chất nitơ khiến cho kim cương có được
màu hổ phách. Tiến trình này không những mang lại nhiều phúc lợi
hơn CVD mà giá thành còn rẻ hơn nhiều. Trong khi mỗi viên kim
cương thiên nhiên thông thường loại 1 cà rá, có màu hổ phách giá
thành là 20,000 đô thì một viên nhân tạo do công ty Gemesis ở
Florida sản xuất bán ra chỉ khoảng 6000 thôi. Trên thực tế thì
chẳng công ty nào, kể cả Gemesis, muốn bán kim cương ra với giá
quá bèo e rằng thị trường hột xoàn sẽ trở nên suy sụp.

Các
chuyên viên về đá quí tuy hằng ngày ra sức chế tạo thêm dụng cụ
dò tìm mới nhưng cũng khó lòng phân biệt được kim cương thiên
nhiên với nhân tạo. (Duy chỉ loại kim cương giả như cubic
zirconia là dễ phân biệt mà thôi.) Công ty De Beers có tung ra
hai loại máy dò được đặc tính hóa học và cấu trúc của hai loại
kim cương giả và thật mà đôi khi có sự khác biệt giữa hai loại
đá quí này, nhưng nói chung thì cả hai máy không phải khi nào
cũng nói trúng. Có một cách khác để phân biệt viên đá có phải là
do nhân tạo hay không là làm lạnh nó trong môi trường khí nitơ ở
thể lỏng rồi bắn lên nó một tia laser và khảo sát xem ánh sáng
đi qua như thế nào. Nhưng thiết bị này thì tốn kém vô cùng và
mất rất nhiều giờ để thực hiện tiến trình ấy.
Kim
cương do hai công ty lớn nhất là Apollo và Gemesis chế tạo được
đánh dấu với một phù hiệu khắc lên bằng tia laser có thể nhìn
thấy qua kính lúp của thợ vàng. Năm rồi, viện nghiên cứu về đá
quí của Hoa Kỳ (Gemological Institute of America) bắt đầu phân
hạng kim cương nhân tạo theo tiêu chuẩn 4 C (carat, cut, color
and clarity) thường dành để đánh giá kim cương thiên nhiên là
bao nhiêu cà rá, đường cắt, màu và nước trong. Dựa theo đó họ
cấp một giấy chứng nhận cho mỗi viên đá nhân tạo. Các công ty
khai thác kim cương thiên nhiên liền phản đối ngay với lập luận
rằng những thứ đá lấp lánh rực rỡ ấy không phải là kim cương
thật. Các quảng cáo cùng những trang trên mạng của De Beers
khăng khăng khẳng định rằng kim cương phải là kim cương tự
nhiên, không qua tiến trình chế tạo trong phòng thí nghiệm và có
tuổi thọ hằng triệu năm. Nữ phát ngôn viên của công ty là
Lynette Gould phát biểu:
“Kim
cương là vật hiếm quí đặc biệt, có giá trị thừa kế mà kim cương
tổng hợp do nhà máy sản xuất không thể có được. Khi muốn đánh
dấu một sự liên kết long trọng giữa hai người, người ta chọn kim
cương thật, không ai chọn thứ đá được chế tạo trong ba ngày.”
(Nên nhớ De Beers có phần hùn với Element Six, công ty sản xuất
kim cương lá tức wafers.)
Ủy ban
cảnh giác của giới kim hoàn có tên tắt là JVC (Jewelers
Vigilance Committee), một tổ chức mậu dịch, đã đi cửa sau
(lobby) với Ủy ban Mậu dịch Liên bang (Federal Trade Committee)
cố ngăn đừng để cho các nhà chế tạo kim cương được dùng chữ
“cultured” (được nuôi gầy một cách nhân tạo) cho các thứ đá của
họ, một từ mà xưa nay được dùng cho ngọc trai. (Dân kinh doanh
kim cương mỏ thì gọi kim cương nhân tạo là thứ đá “tổng hợp” tức
“synthetic.”) Ủy ban JVC năm 2006 có đệ trình lên FTC một bản
thỉnh nguyện khiếu nại rằng giới tiêu thụ tỏ ra rất bối rối bởi
danh xưng dùng gọi những thứ đá nhân tạo.
Ngay từ
đầu khi khảo cứu với tiến trình CVD từ hơn 20 năm về trước,
Robert Linares đã hy vọng rằng kim cương sẽ trở nên tương lai
của ngành điện tử. Trọng tâm của mọi thiết bị chạy điện là một
chất bán dẫn, một chất chỉ cho dòng điện đi qua theo một số điều
kiện nhất định. Trong suốt 50 năm qua, các thiết bị hầu như đều
được làm từ silicon, một chất tựa như kim loại lấy ra từ cát.
Tuy nhiên silicon có hai mặt bất lợi quan trọng đó là dễ vở và
dễ trở nên quá nóng. Ngược lại, kim cương chai lì hơn, không bị
xụm ở nhiệt độ cao, các điện tử của chúng có thể tải một dòng
điện thật dễ dàng. Hiện thời trở ngại lớn nhất trong việc thay
thể kim cương cho silicon là tiền. Silicon là một trong những
chất liệu có sẳn tràn đầy trên quả đất và hạ tầng cơ sở để sản
xuất những phiến silicon thì đã được thiết lập ở khắp nơi từ
lâu.
Công ty
Apollo dùng nguồn lợi kiếm được từ đá quí nhân tạo để hổ trợ cho
việc đầu tư vào kỹ nghệ điện tử vốn 250 tỉ Mỹ kim của mình. Công
ty cộng tác là ai Bryant Linaires không chịu tiết lộ, mặt hàng
họ sản xuất là gì anh ta cũng không muốn nói ra luôn. Nhưng
Bryan cho biết Apollo đang khởi sự bán ra những lá kim cương
loại có bề ngang 1 inch, anh ta nói:
“Chúng
tôi tiên liệu rằng với những lá kim cương sơ khởi này, thân chủ
của chúng tôi có thể dùng vào việc khảo cứu và phát triển cho sự
khai triển mặt hàng của họ.”
Trước
khi giả từ Apollo, hai ông Robert và Bryan Linares đưa tôi vào
xem một nhà kho. Bên trong trống trơn ngoại trừ những dây cáp
lớn chạy chằng chịt dưới sàn. Họ cho biết rằng rồi đây phòng này
sẽ lấp đầy bằng 30 máy chế tạo kim cương, thành phẩm như thế sẽ
gấp đôi hiện nay. Đây sẽ là nhà máy sản xuất kim cương đầu tiên
trên thế giới. Bryan kết luận:
“Hồi
xưa có thời kỳ đồ đồng và đồ thép. Kế đến sẽ có thời kỳ đồ kim
cương.”
Ulrich Boser
(Bài
này có nguyên tựa là ‘Diamonds on Demand’ được đăng trong
Smithsonian magazine, số tháng sáu 2008.)
Trở về Trang Chính
|