|
Qua hai
bài kỳ trước của loạt bài Quần Thể Khu Đền Angkor, chúng ta có
dịp đi thăm và làm quen với một số đền của quần thể Angkor này
như Angkor Wat và Angkor Thom với ngôi đền kỳ bí Bayon. Chúng ta
tưởng cũng nên dừng bước nghỉ ngơi một tí vì đã đi bộ và leo
trèo quá nhiều rồi. Kỳ này chúng ta cùng ngồi lại nhâm nhi bên
ly cà phê, hoặc bên tách trà để tìm hiểu xem Angkor rực rỡ ấy đã
bị suy tàn và bị nhân loại lãng quên như thế nào.
Người
Thái tấn công Kampuchia và cướp phá Angkor năm 1431, qua năm sau
Angkor bị bỏ phế và từ đó nhân loại quên lãng nó đi đến vài thế
kỷ. Khi con người rút đi khỏi những phố phường, dinh thự, đền
đài của Angkor, thực vật đủ các loại bắt đầu xâm thực theo mức
độ của vết dầu loang. Khi còn là một đô thị sinh động, rừng bị
tách rời ra khỏi cuộc sống văn minh ở một khoảng cách đáng kể
bây giờ đang tiến đến dần như một đạo quân đang kéo đến vây hãm
thành Angkor. Hằng trung đoàn cây rừng lặng lẽ và theo một nhịp
điệu đều đặn bò sát lại gần hơn và gần hơn, tràn ngập các cánh
đồng lúa nay không còn người canh tác, rồi xâm chiếm thành
Angkor Thom - hạ lần lượt hết tiền đồn này đến tiền đồn khác,
vây khu dinh thự nọ, phủ đền đài kia. Rừng đánh bại hết cứ điểm
này đến trọng điểm khác không gặp chút kháng cự cho đến khi toàn
thể hoàng cung gác tía, đền thiêng, nhà cửa, phố chợ, đường xá
đều đầu hàng.

Đền
Ta Prohm là ngôi đền duy nhất còn được giữ nguyên các cây cổ thụ
mọc leo trên mái đền để nhắc nhở nhân loại khu Angkor đã trong
tình trạng tương tự suốt nhiều thế kỷ bị bỏ hoang phế.
Cây cổ
thụ sinh sôi nhanh nơi vùng nhiệt đới nhờ có nắng vàng rực rỡ,
nhiều mưa và ẩm thấp trước khi các cây con, bụi rậm, cỏ dại, hoa
rừng điền chỗ vào mọi ngỏ ngách trống không của đô thị. Phố
phường, dinh thự, cung điện với hằng loạt khu nhà bằng gỗ bị mục
nát và đổ sụm qua vài mùa mưa nắng, mặt đường bị xóa mất dần
dưới lớp đất bùn của thời gian, những dấu tích của văn minh nhân
loại tồn tại trong suốt sáu thế kỷ bị thời gian với gió và mưa
xóa nhòa khỏi bề mặt trái đất. Sau vài thập niên, còn chăng chỉ
là những kiến trúc bề thế bằng gạch đá là trơ gan cùng tuế
nguyệt nhưng rồi cũng bị phủ lấp dưới những tàng lá rậm rạp của
rừng già thâm u. Chúng bị tràn ngập như cơn hồng thủy làm chìm
đắm những thôn làng nơi thôn dã. Sự xâm thực của rừng nơi
Dunsinane trong bi ca Mặc Biệt (Macbeth) của Shakespeare không
thô bạo bằng rừng ở Kampuchea xâm lấn Angkor. Hạt giống được gởi
đi theo gió, hoặc do chim muông tha đến rơi vào những khe đá của
các miếu đền, len lỏi tìm đường đâm rễ xuống đất, chúng tăng
trưởng nhanh chóng rồi hoặc hất đổ các khối đá làm đổ sụm ngôi
đền như thấy ở Bayon, hoặc ôm phủ lấy tòa kiến trúc như giam hảm
tù nhân như ở Ta Prohm. Cùng với đạo quân cây rừng, có sự xuất
hiện đạo quân thú hoang. Ở những nơi mà con người thường hay
quần tụ thì nay là chốn vãng lai của các bầy cầm thú. Hổ dữ nay
bước trên những lối đi của các vương tôn công tử thường dạo qua,
báo rừng nằm duỗi mình nơi mà các giáo sĩ thường quì cầu nguyện,
những con vẹt đuôi dài đang kêu gào nơi những sương phụ chờ
chồng thường ngồi than thở mong ngóng chồng đi chinh chiến từ xa
trở về, những bầy khỉ náo nhiệt chuyền cành trên các khu phố thị
nơi trước đây dân chúng thường tụ tập mua bán.
Mặc dù
người Khmer không bao giờ trở lại Angkor Thom hoặc lập làng gần
đó trong suốt 400 năm, nhưng kinh đô ấy vẫn còn lưu giữ trong ký
ức họ. Thỉnh thoảng khi được hỏi đến thành phố bị lãng quên này
họ kể lại cho những người Âu nghe, và những người này không bao
giờ tin.
Nhiều
thế hệ về sau, một số ít dân làng tìm về sinh sống gần nơi vùng
phụ cận để đánh bắt cá bên bờ biển hồ Tonle Sap, hoặc trồng hoa
màu dọc theo con sông Siem Reap. Đôi khi trong khi đi săn bắn
hoặc tìm củi, họ kinh sợ khi gặp phải những đền đài kỳ lạ nằm ẩn
mình dưới tàng lá âm u của những cây cổ thụ. Lại có một số tu sĩ
phật giáo do nhận thức được tính chất linh thiêng của khu đền
Angkor Wat bèn lập nên một số am miếu nhỏ gần bên để rồi hằng
ngày lại tiếp tục lặng lẽ trong nếp sống tụng niệm. Nhưng họ chỉ
là một thiểu số dân dã mộc mạc, những kẻ tu hành xa lánh thế
tục, không biết chi đến văn hóa lịch sử và khảo cổ. Phát sinh từ
họ là những huyền thoại thêu dệt về những khu thánh địa kỳ bí,
vĩ đại mà theo họ đã được dựng lên nơi chốn hoang vu bởi các
thần linh.

Khỉ và dơi
là hình ảnh quen thuộc mà du khách đến viếng Angkor Wat thường
thấy. Vào buổi xế chiều từng dơi từ trong đền bay ra thành đàn
trông như những làn khói
Một số
người Bồ hoặc một số người lãng du có biết đến chốn này và
truyền miệng về một đô thị bị chôn vùi trong chốn rừng sâu nhưng
ai nghe qua cũng tỏ vẻ hoài nghi, cho đó chỉ là những nơi tưởng
tượng như khi người ta nhắc đến các kho tàng của vua Solomon,
hoặc lục địa Atlantis bị chìm đắm dưới đáy Đại Tây Dương.
Khi
người Pháp đi tìm lập thuộc địa trên ba nước Đông Dương, họ bắt
đầu chú ý đến những lời truyền miệng ấy ít nhiều. Thế rồi một
buổi sáng của năm 1860, một nhà tự nhiên học người Pháp tên
Henri Mouhot rẽ vào một góc rừng từ một đường mòn của dân tiều
phu để thăm dò và không lâu sau đó qua kẻ lá lùm cây ông nhìn
thấy những ngọn tháp xám xịt của Angkor Wat. Mouhot sững sờ,
không tin những gì mình thấy là thật. Sau đó ông viết lại rằng
giữa chốn thâm u cô tịch bỗng khám phá ra Angkor thấy như giữa
nước Kampuchia lạc hậu của thế kỷ 19 tìm thấy lại nền văn minh
rực rỡ của dân tộc này có từ hằng bao thế kỷ trước, như sự
chuyển đổi giữa u tối sang ánh sáng.
Các sử
gia vẫn chưa chắc chắn vì sao Angkor bỗng nhiên tàn rụi trong
khoảng thời gian giữa hai thế kỷ 13 và 14 nhưng nhiều yếu tố
khác nhau có thể đóng góp phần nào cho lời giải thích:
1.
Chương trình xây dựng ồ ạt của vua Jayavarman VII đã làm kiệt
quệ tài nguyên của đất nước Kampuchia, đồng thời các nước chư
hầu trước đây, nay đã trở thành quốc gia độc lập không chịu
triều cống hằng năm để làm giàu thêm cho kho tàng của vương quốc
Angkor.
2. Vào
cuối thế kỷ thứ 13, một tông phái mới của Phật Giáo là Phật Giáo
Nguyên Thủy tức Tiểu Thừa (Hirayana hay Theravada) được du nhập
từ Tích Lan. Tông phái này coi Phật như là một kẻ mẫu mực để noi
theo nhưng vẫn xem ngài như một người phàm như tất cả mọi người.
Một tính ngưỡng giản dị đến nổi không tin có một đấng thần linh
nào và đặt trọng tâm vào tín điều giải thoát là do nỗ lực của
mỗi cá nhân, do chính mình. Không có giáo sĩ để sùng bái ngoài
một tăng đoàn gồm những người cùng đi tìm một con đường giải
thoát. Tính chất bình đẳng của giáo thuyết này làm suy yếu hẳn
hệ thống đẳng cấp của đời sống xã hội và chính trị Khmer xây
dựng theo Bà La Môn giáo (Hinduism). Louis Finot, nhà khảo cổ
học người Pháp, phản ảnh quan điểm này như sau: “Đây là một tôn
giáo tiết kiệm, các nhà sư tự hiến dâng đời mình cho cuộc sống
thanh bần, họ sống trong những túp lều tranh mộc mạc và tài sản
chỉ là bộ y bát. Đây là một tôn giáo đầy đạo đức mà nguyên tắc
của nó là tìm một sự thanh thản của tâm hồn và cuộc sống an
bình.” Finot tin rằng dân Khmer vốn đã suy kiệt vì chiến tranh
và chịu cảnh nghèo đói do tài nguyên quốc gia đổ vào việc xây
dựng đền đài quá mức cho các hư thần, họ nay hoan hỉ tiếp nhận
một tín ngưỡng mới, cái tín ngưỡng mà tín đồ không cần phải màng
chi đến sự đời.
3. Vì
phải lo phòng thủ chống những cuộc tấn công cướp phá liên tục
của quân Thái khiến vương quốc phải chịu hao tổn nhân lực trầm
trọng, kết quả không đủ người để bảo quản hệ thống dẫn thủy nhập
điền cần thiết cho sản xuất nông nghiệp đủ để nuôi một dân số
xấp sỉ một triệu người.
Theo
khảo sát mới nhất từ các hình ảnh thu thập được từ vệ tinh, máy
bay thăm dò, và khảo sát địa chất, một nhóm khoa học gia quốc tế
đã đưa tới kết luận rằng diện tích đất quần cư của Angkor thời
cổ đại lớn gấp ba lần diện tích người ta vẫn nghĩ trước đây. Bản
đồ mới cho thấy Angkor bấy giờ rộng đến 3000 km vuông, xấp sỉ
diện tích của Los Angeles ngày nay. Chi tiết của cuộc thăm dò
giúp người ta khám phá thêm được 74 di tích miếu đên cùng gần
một ngàn hồ nước nhân tạo khác chưa được biết đến trước đây. Họ
còn khám phá được thêm rằng việc cung cấp nước thời ấy lệ thuộc
vào một hệ thống kênh đào duy nhất chạy từ trung tâm kinh đô
Angkor ra xa đến 20 hoặc 25 km. Cái hệ thống mà mãi đến gần đây
người ta vẫn tưởng để làm mỹ quan đô thị và dùng trong các cuộc
tế lễ, nhưng nay mới hay là dùng để cung cấp nước cho các ruộng
nương đặc biệt dành để sản xuất lúa gạo hằng loạt. Để nuôi dưỡng
một dân số quá đông có nước để dùng và tưới ruộng trong mùa hè,
một hệ thống dẫn và thoát nước tinh vi đã được thực hiện, trong
đó gồm việc chuyển hướng chảy của dòng sông Siem Reap cho đi qua
trung tâm đô thị. Ở dọc các hồ chứa nước cũng như các kênh, hai
bên bờ được củng cố bằng đất nện, nhưng ở các chổ giao nhau,
hoặc những nơi trọng yếu, đá tảng được thay vào. Công trình cực
kỳ tinh vi đến nổi dân Khmer có thể trồng và thu hoạch nhiều vụ
lúa mỗi năm chứ không phải một lần vì phải trông vào mùa mưa để
có nước cho ruộng. Ông Saturno phát biểu, “Việc di dời đất để
hoàn tất một hệ thống dẫn thủy quả là một việc quá động trời,”
ông tiếp. “Thật là một dấn bước quá táo bạo!” Việc này đòi hỏi
phải có một đội ngũ chuyên viên kỳ cựu về quản trị, phải có đầu
óc của những kỹ sư, chuyên gia thâm hiểu thấu đáo vấn đề, và dĩ
nhiên phải có một nguồn nhân lực lao động vô tận.

Angkor Wat với cây rừng lấp đầy chung quanh, nơi mà trước đây
dân cư quần tụ trên một vùng có diện tích rộng bằng Los Angeles
ngày nay. - Courtesy of wilkipedia.org.
Những
phân tích mới nhất về hệ thống dẫn thủy hé rạng cho thấy phần
nào nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của một nền văn minh huy
hoàng. Ông Evans, một khoa học gia, trả lời cuộc phỏng vấn với
thông tấn xã AFP trong năm 2007 như sau: “ Chúng tôi tìm thấy
nhiều vết tích cho thấy có sự vở đê, cùng những nỗ lực sửa chữa
các hệ thống cầu cống, kinh đập. Điều đó cho thấy hệ thống dẫn
thủy nhiều lúc trở nên ngoài tầm kiểm soát.” Evans còn nói thêm
rằng cuối cùng thì việc bảo quản hệ thống dẫn thủy trở nên ngoài
tầm tay, khi mà sau khi cây rừng bị tàn phá quá nhiều gây nên
nạn đất chuồi đổ thẳng xuống các kênh ở mức độ quá nhanh không
đủ nhân lực để nạo vét hoặc ngăn lại kịp, gây nên bế tắc. Nhiều
ke bờ hai bên bị sạt lỡ. Thêm vào đó nạn dân cư quá đông, việc
phá rừng bừa bãi, đất màu mỡ trên mặt bị bào mòn góp phần cho sự
đột ngột biến mất của cư dân trên kinh đô này. Ông Evans tiếp,
“Angkor đã bành trướng quá mức, một nền nông nghiệp đã bị khai
thác quá mức, chừng đó cũng đủ góp phần cho những vấn đề môi
sinh cực kỳ nghiêm trọng.”
Lý
thuyết nào nêu trên cũng có lý lẽ của riêng nó nhưng không có
thuyết nào giải thích rõ Angkor Thom bị vua quan cùng dân chúng
bỏ phế mà đi lập kinh đô ở nơi khác như thế nào. Một giả dụ hợp
lý nhất là phải có một biến cố nào đó thật kinh thiên động địa
đã xảy đến với Angkor khiến cả dân Khmer lẫn quân thù của họ là
người Thái vì quá sợ hải mà không còn dám lưu lại sinh sống nữa
(Sau thời kỳ Angkor Thom, người Thái chiếm phía tây của
Kampuchia ngày nay gồm luôn Angkor và Battambang đến năm 1915
mới chịu giao trả). Không rõ nguyên nhân đó là gì mà mọi người
đều đồng loạt bỏ cái kinh đô lớn bậc nhất thế giới thời đó mà
đi. Điều đó vẫn chưa ai biết rõ. Cũng chẳng ai biết được người
ta kéo nhau đi bỏ lại Angkor sau lưng trong một ngày, một tháng
hay một năm. Không một tài liệu, chứng tích, hay ngay cả lời
khẩu truyền còn lưu lại nhắc nhỡ đến cuộc ra đi vĩ đại ấy. Hơn
một triệu người bồng bế nhau ra đi, không một lời kể lại. Một
điều đáng suy ngẫm thay.
Tất cả
những bài viết trong loạt bài Quần Thể Đền Angkor đều tham khảo
từ những sách vở, tài liệu ghi rõ dưới đây:
1.
Ancient
Angkor by Michael Freeman & Claude Jacques
2.
Angkor by
Malcolm MacDonald
3.
The Khmers
of Cambodia, the Story of a Mysterious People by I. G. Edmonds
4.
A Short
History of Cambodia by Martin F. Herz
5.
A Guide to
the Angkor Monuments by Maurice Glaize
6.
Angkor, an
Introduction by George Coedès
7.
The Art of
Southeast Asia by Philip Rawson
8.
National
Geographic of May 1982, Aug 2000, Oct 1964.
Ngoài
ra trong kỳ này, bài cũng được tham khảo thêm từ mạng lưới
internet:
9.
Was the
First Urban Sprawl Medieval City of Angkor? StarTribune.com
10.
Vastness of
Medieval City of Angkor Is Uncovered. SFGate.com
11.
The Ancient
Metropolis of Angkor. Planetizen.com
12.
Ruins of
Giant City Found around Angkor Temples. Spiegel Online
13.
Angkor Wat
Was a City ahead of Its Time. Los Angeles Times
14.
Angkor Wat
as Big as Los Angeles. Harekrsna.com
Đã đăng:
Angkor Wat
Angkor Thom và Đền Bayon
Trở về Trang Chính
|