|
Ở chỗ
nhà chứa xe không có một ánh đèn, còn bụi cây mọc chung quanh
vào ban ngày là một lùm màu xanh lá cây sậm, màu đồng phục của
học sinh, giờ này đứng lù lù như hù dọa và đổ bóng xuống phủ lối
đi như những ngón tay đen điu.
Hôm nào
ở lại trường đến khuya mới về thì việc ra đây kiếm xe quả là
việc mà Alison ghét nhất. Bình thường nàng thường đi chung với
Joanne nên cũng vui, có hai đứa thì cảm giác sờ sợ lại là điều
thích thú. Hôm nay Joanne bị đau cổ họng, mặc dù cô nàng cứ nhất
định là sẽ đi học vì hôm nay có lớp Anh Văn, cô nàng muốn tới
lấy bài luận đã nạp kỳ trước về, nhưng đến giờ tập thánh ca thì
còn giọng đâu mà vào hát.
“Cũng
đáng công đó thấy không,” cô nàng nói với Alison, mặt nàng đỏ
bừng lên vì sung sướng và vì nàng đang hơi muốn sốt nữa. “Được
điểm A trừ, thêm với lời phê là dùng từ trong sáng.”
Với
người khác mà làm vậy thì coi như khoe khoang, nhưng Alison hiểu
rõ Joanne mà đạt kết quả tốt lớp Anh Văn là vấn đề quan trọng
đối với cô nàng lắm. Nó bù lại cho sự kém cỏi trong lớp thể dục
vì quá nhút nhát sợ nhảy rào và leo dây.
“Mày mà
có lửa đốt dưới đít thì chắc mới lẹ hơn được,” Cô giáo Barry phê
bình Joanne bằng một giọng thiếu thiện cảm; trong khi mấy đứa
ganh tị với Joanne thì xúm lại cười khúc khích.
Joanne
không màng tới chuyện ruồi bu đó. Cô nàng tự thấy mình liễu yếu
đào tơ không leo trèo được, thế thôi; mà nhỡ thực có chuyện nguy
biến trong đời thì sẽ có anh chàng cứu hỏa đẹp trai nào đó ra
tay cứu, lo gì. Joanne lại là tổ sư phịa chuyện nữa. Chính cô
nàng đã kháo rằng chiếc xe đạp cũ xì để ở cuối dãy kia giống như
bộ xương, hễ sau chập tối tên gát dan sẽ rình đó để chụp đứa nào
múp máp để làm bữa cho buổi ăn tối của hắn.
Dĩ
nhiên chuyện Joanne kể đối với Alison là vô nghĩa. Lão khứa
Trayner xấu xí thật, hàm răng thì bị sâu hư gần hết khiến người
ta phải nhìn chằm vào đó mỗi khi lão cười, nhưng chắc vì lão cô
đơn quá nên muốn bắt chuyện cho vui đấy thôi.
Dầu sao
thì Alison cũng thấy cần phải vội hơn thường lệ, nàng loay hoay
lục tìm chìa khóa mở xe đạp. Sáng nay đến trường trễ nên nàng đã
phải đậu xe tuốt luốt dưới cùng tận bãi, gần bên “bộ xương.”
Không ai biết chiếc xe có tên bộ xương đó là của ai cả, mà cũng
không ai biết vì sao nó lại bị bỏ rơi ở đó, vậy mà có người đã
gỡ mấy cái dè chắn bùn và sợi xên rồi; thay vào đó là chỗ của
bùn đất và mạng nhện.
Alison
giật mạnh xe mình ra. Sáng nay vì vội lo vào lớp nàng quên tháo
cất cây đèn trước, giờ thì đã bị kẻ nào chôm mất. Trời đánh
thánh đâm! Quên không cất đèn và cái bơm là mất ngay, tai hại
thật. Có thể Trayner chuyên chôm đèn và bơm để bán lại, nhưng đa
số ai cũng nghi là băng tụi Finn là thủ phạm. Thôi được rồi, có
gì ba mình sẽ mua cho cái khác.
Nàng
lại lục tìm sợi dây an toàn (dây có gắn tu-huýt để đêm hôm đi
một mình, có gì bất trắc cứ thổi lên mà kêu cứu. LND). Nàng thấy
trong cặp nào là sách vở, nào thước kẻ, nào bút viết, nào cả cái
thứ gì như đồ vụn vở, và cả cát nữa nhưng sợi dây thì không thấy
đâu. Rồi nàng nhớ là đã ràng nó quanh một cuốn sách, mà cuốn
sách đó thì lại để quên trên lớp mất rồi. Cửa vào tòa nhà chắc
còn mở nhưng ai mà dám phiêu lưu trong bóng tối qua hành lang,
rồi lên lầu, qua thêm dãy hành lang khác trước khi đến lớp 2B.
Người ta xây trường học để chứa nhiều người nhưng khi không có
ai cả thì trông thê lương lắm, yên lặng ghê rợn như thể ai cũng
chết hết cả rồi. Nàng đành đánh liều không cần tới sợi dây an
toàn. Lâu lâu một lần chết chóc gì, mặc dù nàng có hứa với má
khi nào cũng mang theo hằng ngày. Má nàng đã nhắc đi nhắc lại đó
là điều kiện tiên quyết mới được đi học bằng xe đạp.
Nàng
nhét cái túi xách vào trong giỏ xe rồi đưa tay vỗ lên yên. Tuy
không khuyến khích Joanne làm như mình, nhưng Alison tin tưởng
xe mình là một chiến mã đáng tin cậy, nàng thấy nhẹ nhõm khi
nghĩ rằng nàng có một đồng minh khi cần sẽ giúp nàng thoát thật
nhanh.
Nàng
quyết định đi băng xuống lối khu nhân viên nhà trường. Biết đây
là điều cấm kị nhưng phòng Hiệu Trưởng đã tắt hết đèn rồi, có
còn ai đâu. Cô Cliffe, nhà ở đối diện trường, đâu có dư công mà
ra ngồi canh sau giờ làm việc, cổ đâu có huỡn mà ngồi bên song
cửa vào một buổi chiều đông. Giờ này đập chết cổ cũng đang hong
chân bên lò sưởi thì có.
Không
có đèn trước trời trông có vẻ tối hơn dù rằng chỉ là một cây đèn
nhỏ xíu và lắc lư. Không khí ẩm thấp làm rối tóc Alison và xoắn
lại từng lọn, nàng run lẩy bẩy. Ngày nay không thấy có thứ sương
mù như nghe kể trong truyện của Dicken, người đi đường phải mò
mẫm mà tiến. Thứ sương bây giờ mỏng hơn và đèn đường tỏa một ánh
hào quang vàng vọt chói mắt.
Alison
vừa đạp vừa hát.
“Thiên sứ ôm quả mọng đỏ như máu,
Và Maria thì mang thai Jesus để cứu chuộc tội
lỗi kẻ có tội.”
Ban
thánh ca đang tập dượt vào thời kỳ cuối, chuẩn bị cho buổi hát
chính thức. Trong đầu nàng rộn rã tiếng các tấu khúc vui nhộn.
Không đầy một tháng nữa là lễ Giáng Sinh rồi, nghĩ đến đó nàng
thấy ấm người hẳn lên.
Nàng đi
đến một khúc rẽ, và bây giờ phải rẽ mặt để đi vào đường chính.
Bao giờ đến chặng này nàng cũng thấy hồi hộp vì xe cộ chạy thật
nhanh, còn nàng thì không đủ can đảm để vào thật nhanh.
Nàng
nhìn phải, rồi trái, rồi qua phải lần nữa, và đưa tay ra làm
hiệu dẫu biết rằng làm vậy hơi ngớ ngẩn vì ai mà thấy nàng được.
Vừa ló ra được một chút thì một chiếc xe từ hướng bên kia phóng
vù qua làm nàng hốt hoảng, xe nàng chao đảo, chân trượt khỏi bàn
đạp, kéo lê trên mặt đường, ngay lúc ấy lại một xe hàng lớn cao
như cả tòa nhà, dài như một đoàn tàu lao tới. Xe chạy thật
nhanh, lực vút mãnh liệt như cuốn hút nàng vào giữa những chiếc
bánh khổng lồ. Tất cả diễn ra thật nhanh: nàng cảm tưởng như bị
kéo vào khoảng tăm tối của hư vô, trong khi hai con mắt đỏ rực
mà sau đó nàng mới định thần nhận biết đó là đèn thắng của chiếc
xe nhá lên rực lửa, rồi tắt ngúm dần trong sương đêm.
Alison
lại thấy mình đang lủi thủi trên đường. Nàng run lắm, không giữ
nổi thăng bằng như thể cơ thể không hoàn toàn thuộc về nàng. Tim
nàng vẫn đập mạnh khi nàng bắt đầu dẫn xe đi, đường còn dài,
nàng đâu có thể dẫn bộ đi được. “Cứ coi như té ngựa,” nàng tự
nhủ. “Mình phải lên yên trở lại nếu không mình sẽ mất bình tĩnh
ngay.”
Ước gì
có má ở nhà khi mình vừa về đến, nhưng má phải làm bán thời gian
và hôm nay có họp phải về trễ. Peter có thể đang ở nhà, mà thằng
đó lúc này ít ưa chuyện trò lắm, nhất là với chị em gái như
mình. Alison khoái nấu ăn một mình, nghẹt một nỗi là ở nhà một
mình thì ớn lạnh lắm, biết đâu có ai núp sẵn trong nhà, đang nín
thở chờ nàng.
Nàng rẽ
xe qua một đại lộ, rồi rẽ phải lần thứ ba sau đó mới đổ xuống
đường Fernhead. Nhà ở khu này toàn là nhà duplex (đơn vị gia cư
với từng hai căn chung tường với nhau. LND), mỗi nhà có cửa sổ
đưa hẳn ra ngoài, với vườn trước xum xuê cây, ngăn với đường
bằng hàng dậu cây Thủy Lạp. Má hứa để đèn sáng trước hiên vậy mà
bây giờ thấy tối om, chắc là má quên.
Alison
dùng xe đẩy cổng trước mở ra. Hàng dậu có vẻ cao hơn nhiều và
nhiểu nước mưa đọng rơi xuống khi nàng bước qua. Đã tới lúc ba
mình phải cắt ngắn bớt cho dù ba vẫn hay nói mùa đông cây không
mọc ra nhiều. Nàng sờ soạng túi kiếm xâu chìa khoá. Nàng rờ thấy
nào là giấy lau miệng đã ướt nhẹt, bóp giấy tờ, hột nút áo mưa
bị đứt,...à, đây rồi. Alison đưa tay tìm ổ khóa rồi mở cửa. Công
tắt đèn nằm khoảng giữa của bức tường, có nghĩa là nàng phải
lao vào trong bóng tối dày đặc mới rớ được nó.
Trong
khi đang vội vã, nàng va đầu gối vào một vật gì cứng có góc
nhọn. Vật này gây kinh ngạc cho nàng, và tim nàng đập liên hồi
trong khi tay nàng sờ soạng kiếm cái công tắc đèn.
Thì ra
nàng va trúng cái tủ bằng gỗ chạm lớn mà nàng chưa hề thấy trước
đây. Lập tức nàng có cảm giác là cái hành lang cũng có vẻ khang
khác nữa. Thảm trải vẫn thế. Ở đó có một vệt màu mà trước đây do
Peter gây nên khi nó đá phải lon sơn. Tường cũng màu đó chỉ có
khác là hai bức tranh nước mà Ngoại đã vẽ hồi đi nghỉ mát nay
biến đâu mất, thay vào đó là một tấm hình lớn quảng cáo viện bảo
tàng tàu hỏa.
Alison
ngỡ ngàng nhìn quanh. Nàng phân vân trước khi khép cửa lại vì
nàng cảm thấy đi trở ra ngoài có lẽ còn an toàn hơn là nán lại
trong nhà. Phải chăng những gì nàng đang nhìn thấy là thật? Phải
chăng đây đúng là nhà nàng? Nàng nhìn xuống chiếc điện thoại gát
trên cái tủ bí mật. Đúng rồi, số điện thoại nhà nàng đây mà. Má
nàng thường nói bà thích có sự thay đổi trong nhà, vậy thì thay
đổi mấy tấm tranh đúng là sở thích của bà. Tuồng như bà không
báo trước bà mới mua cái tủ vì bà không muốn ba phàn nàn nhà đã
quá nhiều thứ lỉnh kỉnh không cần thiết rồi. Phải rồi, chắc là
như vậy chứ chẳng sai.
Nàng
đóng cửa lại rồi đi thẳng lên phòng ở lầu trên.
Có điều
là phòng nàng không còn là phòng của nàng nữa. Phòng nàng bây
giờ là của ai đó cỡ tuổi nàng, người này có chiếc tủ có ngăn kéo
và tủ đựng áo quần màu đỏ tía, xen giữa là chiếc bàn học. Quá
nhiều thứ đúng sở thích của Alison đến nỗi nàng phải đứng tần
ngần nghĩ phải chăng ba má nàng đã tống khứ cái tủ áo quần cũ kỹ
trước đây của Gran và cái bàn ọt ẹt nàng dùng làm bàn học; thay
vào bằng những thứ mát mắt này làm quà Giáng Sinh hậu hĩ cho
nàng.
Nhưng
còn đồ đạc của nàng thì đâu cả rồi? Mấy bộ đồ treo trong tủ đâu
có cái nào của nàng đâu. Nàng không mặc váy dài, nàng không
thích hàng có nền hồng rực rỡ. Sách vở của nàng má đem đi đâu cả
rồi, kể cả những đồ chơi lâu đời mà không bao giờ nàng có can
đảm đem quăng hết đi.
Nàng
bước dọc hành lang sang phòng của Peter. Phòng này có vẻ lộn xộn
hơn bao giờ: từng đống tạp chí về máy điện toán, bàn làm việc
ngổn ngang nào là lọ sơn, cọ vẽ, keo dán, và mô hình máy bay
đang ráp dở dang. Đó là thứ mà Peter không bao giờ có đủ kiên
nhẫn để chơi.
Alison
đang đứng trước cửa phòng cha mẹ nàng thì nghe dưới lầu có tiếng
cửa trước đang mở.
Chắc
Peter về, nàng toan lên tiếng và chạy bổ xuống thì hình như có
cái gì đó làm nàng khựng lại. Cái gì cũng hoàn toàn khác lạ, quá
đỗi bất ngờ, cả Peter cũng khác lạ nữa kìa.
Nàng
rón rén đi trở về phòng, chưa muốn ai nhìn thấy mình vội. Nàng
nghe có tiếng người rồi cửa đóng sầm lại thật mạnh.
Có
tiếng một người đàn bà nói, “Danny, mày lại để cho mèo chạy ra
ngoài nữa rồi.”
“Đâu
phải tại con. Nó vụt ra nhanh quá con chụp không kịp.” Cậu thanh
niên nghe giọng non hơn Peter.
“Được
rồi, xe cán nó chết thì đừng đổ thừa tau. Mày có biết đường
trước nhà nguy hiểm lắm không. Con mèo nhà Walkers mới bị cán
chết tuần trước đó. Đường nhà mình nay thành một chiều nên xe đi
nhanh lắm.”
“Mày
cho nó ra ngõ vườn sau cũng không có chi khác, mèo nó cũng biết
tìm cách đi trở ra đằng trước được chứ.” Giọng một đứa con gái
nói. Kế đó cô ta đi vào phòng trước để xem truyền hình trong khi
cậu trai và bà mẹ biến vào nhà bếp. Alison nghe có tiếng mở nước
rồi ai đó đặt ấm nước lên lò.
Nàng có
cảm giác mình là kẻ xâm nhập gia cư người khác. Mọi sự diễn tiến
như thể một gia đình đang sinh hoạt bình thường, họ sẽ làm gì
nếu bất thần phát giác có người lạ trong nhà? Họ có tin nàng
không nếu nàng nói chỉ mới hồi sáng nay thôi đây là nhà của
nàng, rằng nàng và Peter và ba má nàng đã sống nơi đây suốt bảy
năm nay? Điều chắc chắn là họ sẽ nghĩ rằng nàng lẻn vào nhà họ,
rồi họ sẽ gọi cảnh sát. Rồi cảnh sát có tin những gì nàng biện
bạch không? Nàng tưởng tượng hình ảnh mình đang phân trần với
một viên thanh tra lạnh lùng, ánh mắt hoài nghi khi nàng cố
trình bày nàng đã rời chính ngôi nhà này sáng nay để đi học, và
rồi chìa khóa mở được cửa vào nhà này vẫn của nàng đây...
Không
xong rồi, mình phải ra khỏi đây càng sớm càng tốt.
“Con để
trên lầu má à. Con lên lấy xuống ngay.” Cậu thanh niên xuất
hiện ngoài hành lang, và Alison rút ngay vào phòng mình. Nàng cố
nín thở khi anh chàng chạy lên cầu thang. Làm ơn cho hắn tìm ra
đồ hắn cần kiếm bên phòng của hắn!
Cửa vụt
mở, và nàng thấy người thanh niên đi ngang phía ngoài với cái áo
len trên tay. Từ dưới lầu, mùi chiên xào bốc lên khiến Alison
nghĩ đến buổi ăn tối của mình. Nàng tính tối nay sẽ làm món cá
nướng với đậu, ăn với khoai chiên.
“Mày ăn
trong này hay ngoài đó?” Người đàn bà hỏi.
“Ngoài
này. Con muốn coi TV luôn.”
“Vậy
thì cứ vô bếp mà lấy đồ ăn.”
Có
tiếng dao nĩa kêu rổn rảng, và tiếng người xào xạt đi vô đi ra
bếp. Alison bắt đầu nhích ra đầu cầu thang nhìn xuống. Cửa phòng
khách đang đóng, mọi người chắc đang cắm cúi ăn. Làm ơn đừng ai
quên muối, quên ớt rồi đi ra bất ngờ!
Nàng
lướt nhẹ xuống cầu thang, phóng nhanh tới cửa trước, rồi biến
ngay ra ngoài trời đêm. Có cái gì đó chồm lên nàng khiến nàng
suýt bật thành tiếng kêu, rồi nhận ra đó là con mèo. Nó cũng
khiếp đảm không thua gì nàng, và vụt nhanh dưới hàng dậu.
Ít nhất
xe đạp của nàng cũng vẫn còn đó, đang nằm nép trong bóng tối
không ai thấy. Nàng cầm chặc xe rồi loạng choạng bước ra đường.
Xe cộ có vẻ nhiều hơn trước và chạy hai chiều; nàng nhớ lại
người đàn bà nói nay là đường một chiều. Có lẽ nào, ngay hồi
sáng cũng vậy thôi.
Chắc
mình về nhà mà trật đường rồi, nàng tự nhủ. Khác đường mà mình
loay hoay sao đó lại mở cửa vào nhà người ta được. Có thể nào
như vậy được không? Nhưng số điện thoại đúng hết mà, và kia kìa,
ở góc đường tên của nó là “Fernhead Road” còn lầm đâu nữa.
Alison
muốn khóc oà cho hả. Nàng cảm thấy lạnh, sợ hãi và cô đơn quá,
nàng muốn được có má, nàng cần sự bình an, kể cả nhà nàng cũng
vậy. Giá bây giờ có cả Peter nàng cũng mừng nốt. Thế nào Peter
cũng sẽ về nhà, rồi nó sẽ khám phá ra những đổi thay như nàng
vừa gặp phải.
Nàng
đạp xe đi qua công viên nhỏ nơi mà người ta thường đóng cửa sớm
vào mùa đông. Nơi đây nàng thấy không có chi khác. Bây giờ nàng
sắp đi vào đường phố chính với những hàng quán hai bên. Kia là
tiệm Aziz nơi gia đình nàng thường ra mua kẹo và nhật báo, tiệm
ăn to-go của người Tàu, tiệm bán đồ ăn vặt, và kia là bar rượu
tên Con Ếch và Đồ Ngủ. Làm gì có chỗ nào tương tự với tên đặc
biệt như vậy được! Vậy thì nhà mình chắc ở gần đâu đây thôi. Có
lẽ vòng lại đường Fernhead nàng sẽ nhận ra tất cả mọi sự vừa qua
đều là do nhầm lẫn, hay là mơ mà thôi.
Thế rồi
Alison để ý thấy có sự thay đổi. Hôm Thứ Bảy, nàng để ý thấy có
một tấm bảng dựng trên khoảng đất trống ở đầu đường. Tấm bảng
ghi rằng đất này nay thuộc một hệ thống siêu thị. Vậy mà mới có
bốn bữa, nơi đây đã thành một siêu thị mới rồi.
Bằng sự
lạ lùng, Alison vòng xe đi vào xem. Bên ngoài có sẳn một giá để
xe đạp, thấy như trong mơ, nàng cho xe vào đó rồi bước vào bên
trong.
Thật là
một siêu thị lớn nàng chưa hề thấy trong đời. Từng lối đi với kệ
chứa hàng cả hai bên chạy tới xa tít. Những tủ đông đá dài cả
nửa dặm chứa nào là thịt gà tây, vịt, ngỗng. Thùng bánh nướng và
bánh trái cây chất cao như kim tự tháp, viền quanh bằng những
cây giáng sinh bằng nhựa với đèn chớp đỏ, nhạc giáng sinh nghe
khắp nơi như phát ra từ một ban hòa nhạc vô hình.
Hầu hết
khách hàng ai cũng đẩy xe với hàng mua chất đầy ắp như thể họ
đang chuẩn bị cho một cuộc du hành lên Bắc Cực hay vùng núi
Andes, mấy cậu trai tráng thì mặc đồ có tấm tạp dề trước ngực
màu xanh lễ thánh đang lăng xăng chất hàng lên những kệ đã vơi
đồ hoặc đi tới đi lui liên lạc bằng máy hội thoại
(walkie-talkie). Những thanh niên này trông không lớn hơn Alison
là bao nên nàng lấy can đảm tính chận hỏi một anh chàng đang đẩy
đồ vào quầy ngũ cốc. Thấy nét quen quen, nàng nhận ra ngay.
Người này gợi nàng nhớ đến một người cùng lớp tên Sean Maloney,
nhưng không lẽ nào, vì học sinh không được phép đi làm cho dù
chỉ làm tạm ít giờ thôi. Nàng biết là có nhiều người tên
Maloney, vậy thì đây chắc là anh của Maloney mình quen biết vì
cũng có mái tóc màu đồng quăn sát vào đầu.
Nhưng
hỏi gì bây giờ? Không lẽ tự dưng đi thắc mắc làm sao mà người ta
có thể xây xong siêu thị này, vừa chất đầy hàng hóa, và có đủ
người phục vụ chỉ trong bốn ngày. Mình sẽ bị người ta cho là ở
cõi trên mới xuống mất.
Nàng
vừa định hỏi quầy sữa nằm đâu thì lại trông thấy một người quen
ở cuối dãy. Kia là má của Joanne, bà Cullen, đang vói tay lấy
bánh nướng.
Thật
mừng hơn được quà Giáng Sinh hậu hĩ. Mọi sự rồi ra sẽ tốt đẹp
dẫu rằng hơi rắc rối một tí. Nàng sẽ kể cho bà Cullen nghe về
chuyện nhà mình, sau đó chắc sẽ theo bả về ăn tối với Joanne
trong khi giải quyết dần dần chuyện của mình.
Nàng
chạy ù xuống cuối dãy. Bà Cullen đang xây lưng lại nên chưa thấy
nàng chạy đến.
“Bác
Cullen, gặp được bác cháu mừng quá. Không biết hôm nay sao
mà....”
Alison
không nói thêm được nữa vì vừa thấy nàng thì má của Joanne đã
làm điệu bộ tức cười như bị nghẹn họng và té quỵ tới trước như
thể mới bị nàng bắn trúng. Bà ngã xuống trên hàng hóa đang chưng
bày gần đó, trong khi cây thông đổ nghiêng qua một bên và đèn
báo bắt đầu chớp.
“Bà ta
bị ngất,” một người đàn bà nói. “Bị xỉu đó,” người khác nói vào,
nhưng không người nào tới đỡ bà. Một cô gái ngoài quầy tính tiền
có học qua lớp cấp cứu chạy vào, làm hô hấp cho bả, và hỏi xin
ai đó mang nước tới.
Bà
Cullen mở mắt ra. Trông như mê muội.
“Bà chỉ
ngất đi thôi,” cô gái nói. “Có ai mang đến cho bà ta cái ghế
được không?”
Sean
Maloney mang ghế tới, anh chàng có vẻ vừa ngượng nghịu vừa tò
mò.
Bà
Cullen nhận ra anh ta liền yếu ớt hỏi. “Con có nhìn thấy cô con
gái không?”
“Dạ
thấy ai?”
“Cô con
gái ấy. Cái cô chạy xộc tới bác đó. Cô ta ... cô ta...” Bà
Cullen khóc.
“Con có
thấy cô nào đâu.” Sean trả lời; mọi người đều đổ dồn mắt nhìn
qua anh ta như thể muốn ám chỉ anh là người khiến cho bà ta ngất
xỉu.
“Đâu
phải ai xa lạ đâu. Con biết cô gái ấy mà. Nó học cùng lớp với
con. Nó là bạn của Joanne con gái bác. Con Alison Potter đó mà.”
“Alison
Potter à!” Sean Maloney vừa nói vừa bước giật lùi. “Nhưng không
thể được. Cô ấy...” anh chàng không muốn nói ra hẳn.
“Chết
rồi,” bà Cullen nhún vai nói. “Phải, nó bị xe đụng chết khi đang
đi học về. Gia đình họ Potter ở cùng đường với bác, họ dọn ra
sau khi tai nạn.”
“Chắc
bác bị ám ảnh rồi thấy cô ta đó,” Sean nói. “Hay bác thấy ai
giống cô ta đấy thôi.”
Anh ta
nhìn đảo quanh mấy người khách trong siêu thị, đa số đều đã bỏ
đi nơi khác; có gì để coi nữa đâu ngoài một người đàn bà đang
ngồi trên ghế, trông có vẻ hãi hùng. Chàng vẫn còn nhớ Alison
chứ nhưng hôm nay nào còn thấy lại cô ta nữa hay cô nào khác từa
tựa nàng đâu.
Trở về Trang Chính
|