Câu Chuyện về Những Nàng Apsaras

Bài thứ sáu trong loạt bài Quần Thể Khu Đền Angkor


 

Triệu Phong

E-Mail: trieuphong@khoahoc.net

28 tháng 12 năm 2007

Vào khoảng thời gian năm năm sau khi Henri Mouhot khám phá ra Angkor, Anna Leonowens một mình cởi voi đi suốt 200 dặm đường từ Bangkok để đến viếng di tích của kinh đô cổ xưa này. Bà ta là người không xa lạ gì đối với chúng ta vì bà ta chính là nhân vật trong câu truyện mà cũng là cuốn phim nỗi tiếng Anna and the King of Siam (từng chiếu ở Việt Nam trong khoảng thập niên 50 & 60 dưới tựa đề Vua Xiêm và Thiếp do nam tài tử Yul Brunner thủ vai chính). Ở cái thời khi mà tất cả phụ nữ đều phải ở trong nhà làm công việc tề gia nội trợ thì bà không những đến sống ở Bangkok để dạy học cho hoàng tử của hoàng gia Thái, mà sau đó còn trở nên một phóng viên chiến trường.

Sau khi trở về bà viết một bài tường thuật mô tả về cái “công trình tuyệt mỹ từ bàn tay của một chủng tộc mà các nước Tây Phương hoàn toàn mù tịt chưa hề nghe nhắc nhở đến, một chủng tộc không có tên trong lịch sử nhân loại nhưng đã làm nên một loạt kiến trúc vô cùng diệu kỳ, tuyệt mỹ và trường tồn; vượt xa mọi công trình hiện đại của cả thế giới.”

 

   Phù điêu các nữ vũ công thiên thần apsaras tạc trên các hốc tường ở đền Angkor Wat. Đáng chú ý là có hằng ngàn hình tượng tương tự ở khắp các đền thời Angkor nhưng không có hình nào hoàn toàn giống nhau. Ảnh Nguyễn Lộc.

 

Thoạt đầu, các nhà nghiên cứu khoa học không tìm ra được lời giải thích về nguồn gốc của kinh đô bị lãng quên này. Họ cho rằng người Khmer là một chủng tộc đã bị tuyệt diệt vì họ tin chắc dân Căm Bốt sơ khai ngày nay không thể nào là hậu duệ của một giống dân làm nên kỳ công rực rỡ ấy được. Nhưng rồi thời gian cũng chứng tỏ được rằng họ là sai. Nhà khảo cổ học người Pháp George Coedés, từng làm việc lâu năm ở Angkor, đã so sánh các ảnh chụp của người Căm Bốt ngày nay với các khuôn mặt khắc trên tường ở Angkor Thom; ông xác nhận họ đều cùng một chủng tộc.

Anna Leonowens trong thời gian lưu lại ở hoàng gia Thái vào thế kỷ thứ 19 đã từng nhiều lần được xem những điệu vũ apsaras mà bà miêu tả các vũ công với những động tác uốn cong cánh tay, bàn tay mềm như cành liễu, một động tác tưởng chừng như con người bình thường như chúng ta không thể  nào làm được. Thân hình họ lắc lư mềm mại như những chiếc lá lay động nhè nhẹ trong cơn gió thoảng. Bà còn thêm rằng “Mắt họ lung linh sáng như tỏa ra từ bên trong…” Anna cho đây là một phép lạ của nghệ thuật.

 

<< Sau thời gian bị mai một dưới chế độ Polpot, vũ điệu apsaras được phục hồi, mầm non mới được đào tạo trở lại. Photo courtesy of Images.Google.com

 

Trong các đền ở Angkor, những apsaras được tạc ở các hốc tường, bên cửa sổ, với trang trí khung viền tuyệt mỹ bằng các hoa văn hình cánh hoa. Apsaras biểu tượng cho sự tuyệt đỉnh của nền nghệ thuật Khmer về vẽ đẹp lý tưởng của người phụ nữ, chúng mang hình ảnh quyến rũ có tính cách tôn giáo cung đình mà phần quan trọng nhất của nét duyên dáng ấy là những đường nét tinh vi nơi y phục, đồ trang sức, lẫn cách bới chải mái tóc. Đường nét thật phong phú nếu không muốn nói là khác biệt nhau nữa. Tuồng như nét lịch lãm cao tuyệt nhất của nghệ thuật Khmer được biểu hiện nơi các đường cong đi xuống, lượn ra ngoài thân thể. Váy dài, khăn choàng cổ, cho đến những lọn tóc bới dài kiểu dáng tỉ mỉ, thảy đều tuân theo qui ước ấy. Một số apsaras mang đồ trang sức, những vương miện chóp cao mà tóc của các nàng được đánh lên đến cả chục lọn tạo thành một vòng quanh đầu.

 

Malcolm MacDonald, tác giả cuốn Angkor xuất bản năm 1958, hỏi quốc vương Sihanouk về lối phục sức của các nàng apsaras, vua Sihanouk đáp rằng các vũ công cung đình thời Angkor ăn mặc rất giản dị mà nữa phần thân thể trên không có y phục, hệt như thấy ở các tượng khắc ở Angkor. Hỏi vì sao ngày nay họ mặc kín từ đầu đến chân thì quốc vương Căm Bốt trả lời rằng, hơn năm thế kỷ trước đây Angkor bị quân Thái xâm chiếm, hoàng gia Khmer trong khi lo hối hả chạy nạn đã lỡ lầm bỏ quên không dẫn theo đoàn vũ công cung đình, để họ ở lại bơ vơ nơi một khu riêng biệt. Tất cả bọn họ gồm khoảng 4000 người đều rơi vào tay quân xâm lược và bị mang về kinh đô Ayuthia cùng với vô số đồ quí giá khác. Ở đây họ du nhập vào đất nước này điệu múa truyền thống Khmer và trở nên vũ công cung đình cho bao triều đại về sau. Apsaras trở thành điệu múa của Thái từ đó. Tuy nhiên, quan niệm về y phục của người Thái khác với người Khmer. Họ vốn là giống dân xuất phát từ miền Vân Nam lạnh lẽo ở phương Bắc nên quen với việc mặc nhiều quần áo; hơn nữa, y phục hoàng gia Thái chuộng sự lộng lẫy, rực rỡ không như lối phục sức đơn sơ giản dị của người Khmer mà họ đánh giá là hạ cấp. Ăn mặc để trần nửa phần thân thể như thế đối với họ là quê mùa nếu không muốn nói là man rợ. Do thế ở kinh đô Ayuthia, các thợ may hoàng gia Thái phải vẽ lại trang phục cho các nàng vũ công hoàn toàn theo lối Thái. Ngày nay, khi điệu múa du nhập trở lại với xứ chùa tháp, lối vũ vẫn như hằng bao thế kỷ về trước  khác chăng là các nàng vũ công vẫn còn mặc trang phục ngoại lai mang vào từ Thái dầu rằng hoàng hậu Căm Bốt là Kossamak Nearireath (mẹ của vua Sihanouk) đã cho phục hưng phần nào cho thích hợp với người Khmer.

 

 Đầu thế kỷ thứ 20, Tây phương lần đầu tiên được xem vũ apsaras khi đoàn vũ công dưới thời vua Căm-Bốt Sisowath được mang qua trình diễn trong cuộc Hội chợ Thuộc địa của Pháp tại Marseilles; nơi đây apsaras đã chinh phục được tâm hồn của nhà danh họa August Rodin người về sau đã vẽ một số tranh màu nước về các nàng vũ công apsaras này.

 

<< Lối múa xoè ngón tay tượng trưng búp lá non của apsaras. Photo courtesy of Images.Google.com

 Apsaras lại một lần nữa bị mai một dưới thời Khmer đỏ của Polpot. Điệu vũ này được xem như thuộc giai cấp quí tộc phong kiến đưa đến hậu quả nhiều vũ công bị giết chết và điệu vũ bị cấm trình diễn. Ở trại tị nạn trên đất Thái, một số ít vũ công trốn thoát được qua biên giới đã nuôi dưỡng được điệu múa qua sự đào tạo thêm mầm non mới ở nơi đây. Ngày nay Kampuchea đã trở lại thanh bình, ngoài Đoàn vũ Hoàng gia Căm Bốt, nhiều đoàn chuyên nghiệp và tài tử khác bắt đầu vươn lên trở lại.

 

Apsaras là điệu vũ cung đình thời Angkor, chỉ được diễn trong cung cho hoàng gia xem và mang nặng tính cách tôn giáo. Đến khoảng giữa thế kỷ thứ 20 apsaras mới trở thành điệu múa dân gian của Căm Bốt và còn là biểu tượng cho nền văn hóa Khmer, thường được trình diễn vào các dịp lễ lạc hoặc biểu diễn cho du khách. Các vũ công qua điệu bộ hoặc cử chỉ nói lên một câu chuyện nhưng chuyển động của họ có tính cách mơ hồ hơn lối diễn kịch điệu bộ thông thường nên khán giả khó lòng hiểu thấu được hết. Vũ công không hát hoặc nói nhưng chỉ hơi nhếch miệng cười và không bao giờ hở miệng. Điệu vũ cung đình cổ điển apsaras có thể so sánh với vũ ballet của Pháp vì nó đòi hỏi phải mất rất nhiều năm để tập múa và luyện cho thân thể được mềm mại mà các vũ công uốn ngược những ngón tay cũng như các ngón chân khi múa. Điệu vũ duyên dáng của các nàng apsaras còn được điểm tô thêm bằng chiếc mũ miện vàng, áo dài thắt lưng lụa mà ta có thể nhìn thấy trên các hình tượng tạc ở khắp các đền Angkor. Điệu vũ apsaras thời Angkor bao gồm cả đoàn đông đảo các nữ vũ công, họ để ngực trần không ăn mặc kín đáo như ngày này. Apsaras mang ảnh hưởng của Ấn độ rồi về sau lại du nhập thêm vài phong thái từ Java dần dần trở nên thăng hoa thành một điệu vũ tôn giáo cung đình trong suốt 600 năm cho đến khi người Thái xâm lăng Kampuchea. Qua hằng thế kỷ, điệu vũ Khmer này đã tạo một ảnh hưởng  lên vũ điệu truyền thống của các nước láng giềng mà điệu bộ cũng như chuyển động của thân thể và tứ chi của vũ công từ các quốc gia đông nam á đều từa tựa nhau.

Theo công chúa Bopha Devi, nay là bộ trưởng văn hóa Kampuchea mà cũng là vũ công apsaras thiện nghệ, thì vương quốc Khmer bắt đầu vũ điệu truyền thống này vào thế kỷ thứ 8, tức trước Thái Lan đến 500 năm. Trong thế kỷ thứ 15 khi Angkor bị quân Thái cướp phá, tất cả vũ công apasara bị bắt mang theo về nước để rồi apsaras trở thành vũ điệu truyền thống của mình.

 

Từ trên những bức tường bằng sa thạch nơi các ngôi đền ở khắp Angkor, các nàng apsaras vẫn đứng đó mĩm cười như mãi mãi mua vui cùng các đấng thần linh. Các nàng bị hư hại nhiều bởi thời gian, chiến tranh và bởi những hành động phá hoại do những kẻ thiếu ý thức. Tại Angkor Wat có đến 1700 phù điêu tạc hình các nàng apsaras, và hằng ngàn bức nữa ở các đền khác ở Angkor. Mong sao nhân loại có được một phương cách hữu hiệu để giữ cho các tượng apsaras ấy khỏi bị thất thoát thêm, và làm sao để bảo tồn vẽ đẹp của các nàng nói riêng cũng như Angkor, một kỳ quan của nhân loại, nói chung tồn tại được dài lâu, không bị ảnh hưởng bởi những xáo động chính trị, thời cuộc của toàn cầu.

 

 

 

Tất cả những bài viết trong loạt bài Quần Thể Đền Angkor đều tham khảo từ những sách vở, tài liệu ghi rõ dưới đây:

1.      Ancient Angkor by Michael Freeman & Claude Jacques

2.      Angkor by Malcolm MacDonald

3.      The Khmers of Cambodia, the Story of a Mysterious People by I. G. Edmonds

4.      A Short History of Cambodia by Martin F. Herz

5.      A Guide to the Angkor Monuments by Maurice Glaize

6.      Angkor, an Introduction by George Coedès

7.      The Art of Southeast Asia by Philip Rawson

8.      National Geographic of May 1982, Aug 2000, Oct 1964.

 

Riêng trong kỳ này một số chi tiết và hình ảnh được trích dẫn thêm từ Images.Google.com.

 

Đã đăng:

Angkor Wat

Angkor Thom và Đền Bayon

Angkor Bị Lãng Quên Như Thế Nào?

Công Trình Bảo Tồn Angkor và Nạn Mất Cổ Vật

Đời Sống Thời Đại Angkor

 

Trở về Trang Chính