|

Illustration for
TIME by Jonathan Burton
Ngày
trở nên ngắn dần. Gió làm lay động những chiếc lá vàng khô, và
có những buổi sáng các vườn nho điểm tô bởi nét băng giá. Tuy
nhiên trên khắp nước Pháp, cuộc sống đang khởi sự tươi mới: đất
nước trong độ thu hoạch của năm 2007. Sự gặt hái được nhiều biết
bao. Nào là thu hoạch ít nhất 727 tác phẩm mới, một sự đi lên so
với 683 thuộc vụ gặt văn chương của mùa thu trước. Nào là hằng
trăm albums nhạc, hằng chục phim mới ra lò. Nào những cuộc triển
lãm nghệ thuật ở các viện bảo tàng lớn thành công vượt bực. Nào
những chương trình hòa nhạc, các buổi diễn operas, kịch nghệ mới
mẻ tại những đại sảnh thanh lịch làm tăng thêm niềm tự hào cho
các đô thị. Mùa thu có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với nhiều
quốc gia, nhưng đối với nước Pháp nó là dấu hiệu của một năm văn
hóa mới.
Không đâu quí trọng văn hóa bằng ở Pháp. Văn hóa
được nâng đở một cách hào phóng, được nâng niu bằng chỉ tiêu và
được miễn thuế. Ngành truyền thông Pháp dành riêng cho nó thời
lượng phát thanh, phát hình thật phong phú. Ngay đến cả các tạp
chí chuyên về thời trang cũng được đem ra điểm sách một cách
trân trọng. Cả đến buổi công bố giải Goncourt, một trong hơn 900
giải văn chương của Pháp, hôm 5 tháng Mười Một cũng chiếm cột
tin hàng đầu trên toàn quốc. (Giải nhất vào tay Gilles Leroy với
tác phẩm Alabama Song.) Hơn nữa, mỗi đô thị lớn, nhỏ của Pháp
hằng năm đều có tổ chức buổi diễn opera hay kịch nghệ, và gần
như mỗi nhà thờ có buổi hát thánh ca cuối tuần.
Sinh hoạt văn hóa sôi động đến thế mà lại có sự trục
trặc. Tất cả những thân sồi đồ sộ này đang đổ xuống trong khu
rừng văn hóa Pháp nhưng không tạo được một tiếng vang nào đối
với thế giới bên ngoài bao la hơn. Vốn từng một thời được ngợi
ca là nơi sản sinh ra các văn nghệ sĩ lẫn nhạc sĩ xuất sắc trổi
vượt, nước Pháp ngày nay là một sức mạnh héo úa trong thị trường
văn hóa toàn cầu. Điều đó nay đặc biệt là một vấn đề nhạy cảm mà
vị tổng thống mới Nicolas Sarkozy đầy sinh động đang khởi sự cố
gắng phục hồi chỗ đứng của Pháp trên thế giới.
Với lượng sáng tác mới hằng năm, chỉ một số nhỏ tìm
được nhà xuất bản ở nước ngoài. Chừng một chục vào được thị
trường Mỹ, trong khi có đến 30% số sách đang bán tại Pháp là
sách dịch ra từ tiếng Anh. Ở Đức con số phần trăm cũng tương tự,
nhưng trong nửa thập niên qua, tổng số được dịch từ tiếng Anh
chiếm gần phân nửa, trong khi ở Pháp con số này vẫn tiếp tục gia
tăng. Tuy vậy, các văn sĩ Pháp thuộc thế hệ trước từ Molière,
Hugo, Balzac và Flaubert đến Proust, Sartre, Camus và Malraux
vẫn không thiếu độc giả ái mộ ở nước ngoài. Quả vậy, Pháp đoạt
đến cả chục giải Nobel về văn chương - vượt hẳn bất cứ một quốc
gia nào.
Kỹ nghệ phim ảnh của Pháp dẫn đầu thế giới một thế
kỷ trước đây nay vẫn chưa lấy lại được danh vị Đợt Sóng Mới (New
Wave) của thời thập niên 60. Tuy vẫn còn đang tung ra chừng 200
phim mới mỗi năm, nhiều hơn bất cứ quốc gia Âu Châu nào khác
nhưng phim Pháp chỉ thuộc dạng phim tình cảm, ít tốn phí nhắm
vào khán giả quốc nội. Phim Mỹ choán hết nửa số thu vé bán được
ở các rạp chiếu bóng. Một phim có vẻ là phim Pháp đang tạo thành
tích về số thu ở thị trường Mỹ năm nay là phim hoạt hình
Ratatouille – nhưng phim này lại do hãng Pixar ở Mỹ sản xuất.
Về mặt hội họa ở Paris nơi ra đời của phái Ấn Tượng,
Siêu Thực, kể cả những trường phái chính khác nữa, cũng đang bị
New York và London hất cẳng ít nhất là về mặt thương mại. Alain
Quemin, một nhà khảo cứu thuộc trường đại học Marne-La-Vallée
làm một con toán so sánh cho thấy các trung tâm đấu giá Pháp chỉ
thu được tổng số 8% số bán của công chúng về các tác phẩm nghệ
thuật đương thời so với 50% ở Mỹ, và 30% ở Anh. Trong bản chiết
tính hằng năm của tạp chí Capital của Đức thì Hoa Kỳ và Đức mỗi
nước có bốn trong mười nghệ sĩ xuất hiện nhiều nhất; Pháp chẳng
có được người nào. Theo nghiên cứu của ArtPrice về thị trường
nghệ thuật đương thời của năm 2006, thì các tác phẩm của họa sĩ
hàng đầu của Âu Châu là Damien Hirst (Anh Quốc) có giá bán được
trung bình là US $180.000, trong khi họa sĩ hàng đầu của Pháp là
Robert Combas chỉ thu được $7.500 cho mỗi tác phẩm.
Pháp có nhiều nhà soạn nhạc và nhạc trưởng tiếng tăm
quốc tế, nhưng tầm vóc không thể so sánh được với Debussy,
Satie, Ravel và Milhaud của thế kỷ thứ 20. Về nhạc phổ thông,
Pháp có các nam nữ ca sĩ như Charles Trenet, Charles Aznavour và
Edith Piaf từng vang danh khắp thế giới nhưng ngày nay nhạc Mỹ,
nhạc Anh chiếm lĩnh nền nhạc phổ thông. Dầu rằng trong năm qua
kỹ nghệ âm nhạc Pháp bán được 1,7 tỷ Mỹ kim tiền đĩa nhạc và lệ
phí tải xuống từ mạng, nhưng ít có nghệ sĩ nào tiếng tăm bay xa
ra khỏi ranh giới quốc gia. Bạn thử kể tên một ca sĩ ngoại trừ
Johnny Hallyday.
Nền văn hóa mờ nhạt dần có thể chỉ là một nốt đen
đáng quan tâm khác của quốc gia – như nói đến Ý là nói đến mức
sinh sản thấp, nói đến Nga là nói đến sự yêu chuộng rượu vodka -
nước Pháp không còn là Pháp nữa thì sao. Đây là một quốc gia mà
sự khuyến khích phát huy về mặt văn hóa đã thành quốc sách từ
hằng mấy thế kỷ trước, nơi mà các triết gia được nhắc nhở đến
nhiều nhất cùng những tân bảo tàng viện lộng lẫy là biểu tượng
của niềm tự hào và lòng ái quốc. Hơn nữa Pháp dẫn đầu chính sách
“văn hóa biệt lệ” theo đó cho phép các chính quyền ngăn cấm các
sản phẩm văn hóa ngoại lai, trong khi nâng đở cho hàng nội địa
cây nhà lá vườn. Các giới chức Pháp tin rằng chính sách bảo vệ
đó là cần thiết để ngăn cho nền văn hóa đa dạng khỏi bị ảnh
hưởng của Hollywood tàn phá độc hại. Năm 1993, họ từng kết án
phim Jurassic Park của Steve Spielberg là một “sự đe dọa cho bản
sắc của Pháp.” Trong thỏa ước với cơ quan văn hóa quốc tế UNESCO
năm 2005 họ bảo vệ được ý niệm “văn hóa biệt lệ” ấy, và thường
xuyên đấu tranh để bảo vệ nó trong những cuộc hiệp thương mậu
dịch quốc tế.
Nêu bật điểm tích cực
Thêm
vào đó, đã từ lâu Pháp tự phong cho mình cái “sứ mệnh khai hóa”
để mang lại cho phe đồng minh lẫn thuộc địa của mình được tiến
bộ hơn. Năm 2005, chính phủ còn ra đạo luật buộc các trường
trung học ở Pháp phải dạy cho học sinh cái “vai trò tích cực”
của chủ nghĩa thuộc địa Pháp, như nâng cao dân trí thuộc địa là
một ví dụ. (Về sau đạo luật này bị hủy bỏ.) Tựa như một vài quốc
gia mà nguyên tắc nền tảng xuất phát từ kỷ nguyên Khai Sáng
(Enlightenment) của thế kỷ thứ 18, qua đó Pháp cũng tự hào về
cái giá trị của mình. Như Sarkozy vừa nhận định gần đây: “Ở Hoa
Kỳ cũng như ở Pháp, chúng ta đều hướng đến việc khai sáng cho
thế giới.”
Sarkorzy rất sốt sắng trong việc theo đuổi vận mệnh
ấy. Vị tân tổng thống cam kết nâng đở không những nền kinh tế
Pháp, đạo đức làm việc và vị thế ngoại giao – mà còn hứa hẹn
“hiện đại hóa và gia tăng hoạt động văn hóa của Pháp.” Chi tiết
tuy còn sơ sài nhưng chính phủ đã chính thức đề nghị bỏ việc thu
lệ phí vào cửa các viện bảo tàng, trong khi cắt giảm ngân sách
từ các nơi khác, gia tăng cho Bộ Văn Hóa thêm 3,2% lên thành con
số 11 tỷ Mỹ kim.
Những nỗ lực như vậy có tác động
gì không trên nhận thức của nước khác là một chuyện khác. Trong
một cuộc thăm dò với 1310 người Mỹ hồi tháng Chín do tạp chí Le
Figaro thực hiện thì chỉ 20% cho rằng văn hóa là lãnh vực mà
Pháp ở vị thế ưu việt, kém xa so với lãnh vực nấu nướng. Thống
kê ở quốc nội cũng cho một kết quả thấp tương tự. Nhiều người
Pháp tin rằng đất nước và nền văn hóa của họ đã xuống dốc từ khi
- chọn một thời điểm: 1940 với sự chiếm đóng ô nhục của Đức;
1954, bắt đầu một thời kỳ phân hóa vì cuộc xung đột ở Algeria;
hoặc 1968, năm của cuộc cách mạng mà những kẻ bảo thủ như
Sarkozy cho là đã đưa nước Pháp rơi vào ách thống trị của một
thế hệ mới buông thả, coi thường các tiêu chuẩn giáo dục và cách
hành xử thông thường.
Đối với dân Pháp thuộc mọi màu sắc chính trị thì suy
đồi văn hóa là đề tài nóng bỏng được bàn thảo đến thường xuyên
trong những năm gần đây. Các tiệm sách không thiếu gì những sách
mang đề tài ai oán thống thiết như: Nước Pháp Đang Sụp Đổ, Sự
Hoang Phí Vĩ Đại, Trận Chiến của Hai Nước Pháp, Giai Cấp Trung
Lưu Phiêu Bạt. Những chương trình hội thoại trong đó diễn
giả chế diễu về những kho báu đang lu mờ dần của nước Pháp, và
ngay như đội bóng Pháp bị bại trận trong giải World Cup năm nay
được xem như là chỉ dấu suy tàn của quốc gia. Nhưng những điều
oán thán đó đều được cho là do bởi tình trạng kinh tế mà Sarkozy
khi lên nhậm chức hứa hẹn sẽ săn sóc kỹ mọi sự.
Sự suy đồi văn hóa lại càng khó
để lượng định và đề cập đến hơn. Nói theo truyền thống, nhìn về
phía hữu tức là nói đến sự luyến tiếc quá khứ của một số người
Pháp mơ trở lại một xã hội khắc khe, có tôn tri trật tự của thế
kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20. Nghịch lý thay, cái kỷ nguyên
cứng ngắc ấy lại truyền sinh khí theo sau vào sức sống văn hóa
của nước Pháp. “Nhiều nghệ sĩ Pháp được tạo nên nghịch với hệ
thống giáo dục,” Christophe Boicos, một diễn giả về nghệ thuật
và đồng thời là chủ nhân của khu trưng bày mỹ thuật ở Paris phát
biểu. “ Những nghệ sĩ của các trường phái Lãng mạn, Ấn tượng,
Hiện đại - thảy đều là những kẻ nổi loạn chống lại những tiêu
chuẩn đầy tính cách lý thuyết vào thời của mình. Nhưng những
tiêu chuẩn ấy đủ cao để góp phần tạo nên cái phẩm chất nơi những
con người nghệ sĩ để họ nổi loạn chống lại chúng.”
Dấu Vết của căn bệnh nói
Chất
lượng, hiển nhiên được định giá theo cái nhìn của kẻ thưởng
ngoạn - thế thì ý nghĩa của văn hóa (culture) nó
cũng chính xác như vậy thôi. Từ này nguồn gốc của nó có nghĩa là
vun trồng giống như ở từ nông nghiệp (agriculture). Đồng thời nó
bao gồm luôn sự vun trồng nghệ thuật, âm nhạc, thi phú và những
đeo đuổi “văn hóa cấp cao” (high-culture) khác của một thành
phần ưu việt có đầu óc của đỉnh cao trí tuệ (high-minded élite).
Ngày nay, các nhà nhân chủng và xã hội học mở rộng thêm ý nghĩa
của từ này bao gồm luôn sự ưa chuộng “văn hóa cấp thấp”
(low-culture) của quần chúng, cũng như hệ thống đẳng cấp, tục lệ
tống táng và các tập quán khác.
Người Pháp chuộng nó bằng mọi cách. Chính quyền quốc
gia này đã chi ra 1,5% tổng sản lượng quốc gia để trợ giúp rộng
rãi các hoạt động văn hóa và giải trí (so với 0,7% ở Đức, 0,5% ở
Anh và 0,3% ở Mỹ). Bộ Văn Hóa Pháp với 11.200 nhân viên đã hoang
phí tiền của cho cái “văn hóa cấp cao” trụ cột như viện bảo
tàng, nhà hát lớn trình diễn opera, những buổi liên hoan kịch
nghệ. Vào thập niên 80, bộ này còn bổ nhiệm một thứ trưởng
chuyên lo về lãnh vực nhạc kích động Rock ‘n’ Roll để giúp nước
Pháp đương đầu với thứ nhạc trẻ Anglo Saxons này (tiếc rằng đã
không thành công). Tương tự như thế, quốc hội Pháp vào năm 2005
cũng biểu quyết khẳng định foie gras (gan ngỗng) như là món ẩm
thực quốc hồn quốc túy, là di sản văn hóa quốc gia cần phải được
bảo tồn.
Ở Pháp trợ cấp văn hóa có mặt ở khắp mọi nơi. Những
nhà sản xuất các phim không thuộc loại hoang dâm được chính phủ
ứng cho tiền trước (đa số các nợ này không bao giờ thấy hoàn trả
đủ). Tiền thuế 11% đánh vào vé bán ở rạp chiếu bóng cũng được
chuyển thành món phụ cấp của chính phủ. Canal Plus, đài truyền
hình coi phải trả tiền hàng đầu của Pháp phải trích ra 20% tiền
thu nhập để mua bản quyền chiếu phim Pháp. Theo luật định, 40%
show diễn trên truyền hình và nhạc truyền thanh phải là sản phẩm
nội địa. Chỉ tiêu riêng biệt khác quy định giờ phát hình ưu tiên
không để phim Pháp bị đem chiếu lúc nửa đêm khuya khoắt. Ca,
nhạc, kịch sĩ hành nghề tự do được ưu đãi miễn thuế. Họa sĩ,
điêu khắc gia được chính phủ nâng đỡ việc thuê, mua studio làm
việc. Nước Pháp còn cho hoạt động một chương trình ngầm từ Bộ
Ngoại Giao mà chương trình này vượt xa nỗ lực về văn hóa của các
nước lớn nào khác. Chính phủ dùng máy bay đưa họa sĩ, nghệ sĩ
cùng tác phẩm của họ ra hải ngoại, và phụ cấp cho 148 toán hoạt
động văn hóa, 26 trung tâm nghiên cứu, và 176 địa điểm khai quật
về khảo cổ ở nước ngoài.
Với nhiều mặt thuận tiện như vậy
nhưng sao văn hóa Pháp không khá chi hơn ở hải ngoại? Một trở
ngại là phần nhiều các sản phẩm văn hóa ấy sử dụng bằng tiếng
Pháp, trong khi trên thế giới ngày nay mức độ phổ thông của thứ
tiếng này chỉ đứng hạng 12 (tiếng Tàu đứng nhất, tiếng Anh hạng
nhì). Còn bết bát hơn nữa là các cơ sở chính yếu chuyên phê bình
và phổ biến văn hóa - bộ máy truyền bá toàn cầu - ngày càng tập
trung nhiều hơn ở Mỹ và ở Anh. “Vào thập niên 40, 50, ai cũng
biết Pháp là trung tâm nghệ thuật thế giới, ông muốn người ta
biết đến tác phẩm của ông thì ông phải chịu khó mang qua đây,”
Quemin nhận định. “Bây giờ thì ông phải đến New York.”
Một vấn đề khác có thể do chính sách phụ cấp mà
người ta chế diễu bảo đảm là chúng đến tay những kẻ tầm thường.
Trong cuốn sách được bàn cãi nhiều hiện nay nhan đề Bàn về
Văn Hóa ở Hoa Kỳ xuất bản năm 2006, Frédéric Martel tỏ ra
kinh ngạc làm sao ở Mỹ có thể sản sinh được nền văn hóa “cao”
đến thế với phẩm chất tuyệt vời, trong khi chẳng hề được phụ cấp
nào của chính phủ. Ông ta kết luận rằng chế độ phụ cấp chỉ làm
nản chí những người muốn hoạt động riêng lẽ - và ngăn trở đồng
tiền không đổ vào không gian văn hóa. Martel nhận xét: “Khi
người ta không tìm đâu ra Bộ Văn Hóa thì đời sống văn hóa sẽ tìm
thấy ở khắp nơi.”
Nhiều lời phê bình khác cho rằng bảo vệ nền kỹ nghệ
văn hóa chỉ làm giảm đi sức hấp dẫn của chúng. Với một thị
trường quốc nội được bảo bọc bởi các chỉ tiêu và một hàng rào
ngôn ngữ, các nhà sản xuất phim ảnh Pháp có thể vững mạnh nhưng
không thể bán sản phẩm ra thị trường thế giới. Trong 5 phim thì
có 1 phim đưa được qua Mỹ, và 1 trong 3 phim qua thị trường Đức.
“Nếu Pháp là quốc gia độc nhất có quyền quyết định cái gì là
nghệ thuật, cái gì là không thì bấy giờ các nghệ sĩ Pháp sẽ làm
tốt được mọi việc,” Quemin nói. “Nhưng chúng ta nào có phải là
tay chơi duy nhất đâu, bởi thế các nghệ sĩ của chúng ta phải học
để biết nhìn ra bên ngoài.”
Một số khía cạnh của nét đặc trưng quốc gia cũng góp
phần trong vai trò. Trừu tượng và lý thuyết từ lâu được đánh giá
cao trong đời sống trí thức của Pháp và cũng được đặt nặng cả ở
học đường. Không đâu khuynh hướng ấy thấy rõ nét hơn trong các
tiểu thuyết Pháp, vốn cưu mang từ phong trào tân tiểu thuyết
(nouveau roman movement) hướng về nội quan của thập niên 50.
Nhiều tiểu thuyết gia Pháp đáng kính và được nhắc đến nhiều ngày
nay cũng chỉ viết những tiểu thuyết văn phong thanh nhã mà không
vượt xa hơn. Những văn sĩ khác ưa dùng thể loại autofiction
(*). Christine Angot trong tác phẩm mới nhất của cô đoạt
giải Prix de Flore năm 2006 có nhan đề Rendez-vous, phân
tích nội quan tỉ mỉ và toàn diện về cuộc tình của cô. Một trong
vài văn sĩ Pháp hiện đại có tác phẩm được xuất bản nhiều ở hải
ngoại là Michel Houellebecq, được biết với tính ghét người, ghét
kết hôn, và bị ám ảnh bởi tính dục. “Ở Hoa Kỳ nhà văn nào cần cù
thì thành công,” Francois Busnel, tổng biên tập của tạp chí
Lire, một tạp chí ăn khách chuyên khảo về sách (chỉ sách Pháp
thôi!) phát biểu. “Trong khi văn sĩ Pháp thì cho rằng họ cần
phải là kẻ uyên thâm.”
Ngược lại, tiểu thuyết ngoại quốc, đặc biệt tiểu
thuyết chuyên mục về thời sự, hiện thực thì bán chạy ở Pháp.
Những tác giả người Anh với cốt truyện lôi cuốn như William
Boyd, John le Carré và Ian McEwan dẫn đầu các sách bán chạy
nhất. Trong khi nhà văn Mỹ thì có Paul Auster và Douglas
Kennedy. “Đây là xứ nơi người ta vẫn đặt nặng về văn chương,”
Kennedy với tác phẩm The Woman in the Fifth mà bản dịch
ra Pháp ngữ gần đây bán rất chạy, nhận định. “Nếu xem kỹ bạn sẽ
thấy ở sách Mỹ bằng cách này hay cách khác chúng nói về thân
phận của người Mỹ. Tiểu thuyết gia Pháp viết đề mục rất hấp dẫn
nhưng điều họ không làm là nói về chính nước Pháp.”
Phim ảnh Pháp cũng chịu nỗi ê chề từ phức hợp tân
tiểu thuyết trên. “Phim Pháp tiêu biểu của thập niên 80 và 90
mang hình ảnh những người đang ngồi ăn trưa tranh luận
vì bất
đồng ý kiến nhau,” Marc Levy, một trong những nhà văn Pháp có
tác phẩm thuộc loại rất ăn khách chua chát nói. “Một tiếng rưởi
sau thì họ đang ăn cơm tối, và có người đã tán đồng nhưng vẫn
còn kẻ bất đồng.” (Tiểu thuyết của Levy nhan đề Et si c’Etait
Vrai…, với bản dịch Anh ngữ là If Only It Were True, và vào
năm 2005 trở thành phim của Hollywood có tên Just Like Heaven
với tài tử Reese Witherspoon và Mark Ruffalo.) Nước Pháp ngày
nay có thể thực hiện được những phim thú vị, hốt bạc như Amélie,
Brotherhood of the Wolf – nhưng theo nhận xét của người nước
ngoài thì dấu vết của bệnh nói vẫn còn.
Hành Động Kế Tiếp
Làm sao để đưa nước Pháp trở lại ngôi vị quốc gia
văn hóa vĩ đại? Chỗ khởi điểm chính là hệ thống giáo dục nơi mà
một loạt những cải tổ liên tiếp trong nhiều năm đã đưa nghệ
thuật ra khỏi chương trình giảng dạy. Pierre Rosenberg, cựu giám
đốc viện bảo tàng Louvre than phiền: “Ở trường người ta dạy bạn
đọc nhưng không dạy bạn nhìn.” Tới mức ấy Sarkozy gần đây mới đề
nghị mở thêm các lớp về lịch sử nghệ thuật vào các năm ở trung
học. Ông còn đề nghị sẽ đưa ra các biện pháp nhằm khuyến dụ sinh
viên đi theo chương trình cử nhân văn chương nhiều hơn. Một thời
ngành này vốn rất được ưa chuộng nay đã bị các ngành như khoa
học và kinh tế xã hội lấn át. Bộ trưởng Giáo dục Xavier Darcos
nói: “Chúng ta cần những con người văn chương, những học sinh
biết diễn thuyết, biết lý luận. Chúng ta luôn luôn cần họ.”
Hè rồi Sarkozy gây ớn lạnh giới trí thức Pháp khi
kêu gọi sự “dân chủ hóa” văn hóa. Nhiều người cho vậy có nghĩa
là chính sách văn hóa sẽ dựa vào lực thị trường chứ không còn
vào nơi sự đánh giá chuyên nghiệp về phẩm chất. Còn nhiều đối
thủ phải đương đầu khác – đáng kể là các hiệp hội dân vụ rất
được nhà nước nuông chìu – Sarkozy chưa chắc dám đụng tới những
phụ cấp văn hóa hiện đang hết sức phổ biến.
Chính quyền có thể cỗ vũ tư nhân tham dự bằng chính
sách thuế khóa. “Ơ Mỹ khi ông hiến tặng bức họa của ông cho viện
bảo tàng ông được khấu trừ thuế trọn số tiền.” Boicos, nhà
chuyên môn về mỹ thuật nói. “Nhưng ở đây thì rất hạn chế. Ở đây
chính phủ nắm nhiều quyết định quan trọng. Nếu lãnh vực tư nhân
dự phần và các cơ sở văn hóa được tự lập hơn, nước Pháp sẽ thấy
lại sự hồi sinh của nền văn hóa.” Việc Sarkozy chỉ định
Christine Albanel làm Bộ trưởng Văn hóa coi như là một lá phiếu
cho bước đầu với tư nhân: khi còn là giám đốc của Điện
Versailles, bà đã chủ trương nhân sự quyên tặng của tư nhân và
cộng tác với các cơ sở thương mại. Viện bảo tàng Louvre còn đi
một bước xa hơn khi cấp phép thêm cho các chi nhánh ở Atlanta và
Abu Dhabi.
Một việc khó khăn hơn nữa là sự thay đổi lối suy
nghĩ kiểu Pháp. Mặc dầu động viên một dân số 60 triệu không phải
là một chuyện đơn giản nhưng tinh thần quốc gia có một khuynh
hướng thiếu tin tưởng về thành công thương mại. Thăm dò dư luận
cho thấy phần nhiều thanh niên Pháp thiết tha kiếm việc công sở
hơn chọn một nghề thương mãi tư nhân. Quemin phát biểu: “Người
Mỹ nghĩ rằng một nghệ sĩ thành công đồng nghĩa với sự xuất sắc
trong tay nghề. Trong khi người Pháp chúng tôi cho là thành công
tức là thương mại quá mức. Sự thành công ấy được coi như là dỡ
tệ.”
Còn nữa, phải biết lấy lối suy
nghĩ của nước khác để cập nhật làm của mình. Đặc biệt là Anh,
Đức và Hoa Kỳ vì quá tập trung vào sản phẩm văn hóa ồ ạt của họ
mà đã không màng gì đến tiếng Pháp. Guy Walter, giám đốc của
trung tâm văn hóa Villa Gillet ở Lyon nói: “Khi tôi đưa cho một
nhà xuất bản ở New York xem một tác phẩm mới bán rất chạy ở
Pháp, thì tôi nghe câu trả lời là cuốn này có vẻ ‘Tây quá’.
Nhưng người Mỹ do không đọc được tiếng Pháp thì làm gì họ có thể
hiểu được.”
Điều mà những người ngoại quốc đó bỏ sót không biết
đến là nền văn hóa Pháp sinh động đến không ngờ. Phim Pháp nay
đầy sáng tạo và gần gũi hơn. Hãy xem loạt phim Taxi của
Luc Besson và Gérald Krawczyk, loại phim theo lối tiếu lâm hành
động của Hồng Kông; hay các phim gây thích thú quần chúng như
L’Auberge Espagnole của Cédric Klapisch và The Beat That
My Heart Skipped của Jacques Audiard là những phim đoạt số
thu cao ở các rạp chiếu bóng ở nước ngoài. Tiểu thuyết gia Pháp
nay ngày càng viết theo thể loại miêu tả đời sống hiện thực: như
một trong những cuốn sách tầm cỡ năm nay là cuốn L’Aube le
Soir ou la Nuit (Dawn Dusk or Night) viết về chiến
dịch tranh cử gần đây của Sarkozy. Một cuốn nổi bật khác là cuốn
A l’Abri de Rien (In the Shelter of Nothing) nói
đến những di dân ở trại tỵ nạn Sangatte đầy tai tiếng. Các họa
sĩ truyện tranh theo lối Nhật đã đưa đất nước thành quốc gia
hàng đầu về thể loại văn chương nóng bỏng nhất: tiểu thuyết bằng
hình. Những ca sĩ như Camille, Benjamin Biolay và Vincent Delerm
đã giúp hồi sinh lại các loại tình ca. Các nghệ sĩ nhạc Hip-hop
như MC Solaar, người gốc Sénégal, Diam người từ đảo Cypre và Abd
al Malik con của một di dân người Congo đã diễn giải những ca từ
của hè phố thành những bài ca thể loại Rap của Mỹ quốc đầy thi
phú và sắc bén hơn.
Ở chỗ này có thể đặt nước Pháp trở lại cái vinh
quang thuở nào. Những sắc tộc thiểu số phẫn nộ và đầy tham vọng
đang dự phần vào nền văn hóa ở khắp mọi nơi. Pháp nay trở thành
một chợ trời nghệ thuật, âm nhạc và văn bút đa sắc tộc xuất phát
từ các miền ngoại ô và khắp các ngõ ngách của thế giới không da
trắng. Nhạc Phi châu, Á và Nam Mỹ có lẽ tìm thấy Pháp thích hợp
hơn bất cứ nơi nào trên thế giới về lãnh vục buôn bán lẽ. Phim
từ A Phú Hản, Á Căn Đình, Hung Gia Lợi và từ những miền đất xa
lạ khác chiếm đầy các rạp chiếu bóng. Tác phẩm của các tác giả
thuộc mọi quốc gia được dịch sang tiếng Pháp sẽ gây ảnh hưởng
lên thế hệ các nhà văn Pháp trong tương lai. Pháp là thiên đường
của những tay thành thạo văn hóa nước ngoài. “Pháp vẫn luôn là
một quốc gia nơi mà người ta bất kể từ đâu đến có thể khởi sự
ngồi xuống để vẽ hoặc viết bằng tiếng Pháp - hoặc ngay cả không
bằng Pháp ngữ,” Marjane Satrapi, một người Iran có cuốn phim dựa
theo tiểu thuyết bằng hình Persepolis của bà, được nằm
trong danh sách phim Pháp tham dự giải Oscar 2008 cho loại Phim
Ngoại Quốc Hay Nhất, phát biểu tiếp. “Văn hóa Pháp phong phú nhờ
ở nét đặc trưng đó.”
Cái gì giúp cho một quốc gia vẫn giữ được vẻ bề thế
nếu không phải nhờ sự tiếp sức từ bên lề? Nới rộng lối định
nghĩa về văn hóa một chút bạn sẽ thấy ba lãnh vực mà Pháp xuất
sắc nhờ hấp thụ ảnh hưởng từ bên ngoài. Thứ nhất Pháp dẫn đầu
thế giới về thời trang, nhờ đầu óc bén nhạy của các nhà vẽ kiểu
quốc tế. Thứ hai là ẩm thực của Pháp - xây dựng trên nền tảng
của Ý và không ngừng mang ảnh hưởng Á Châu – nay vẫn còn là tiêu
chuẩn của toàn cầu. Thứ ba, các nhà làm rượu Tây biết sử dụng kỹ
thuật triển khai từ nước ngoài để vẫn giữ cho mình được tiếng
tăm ưu việt trước nguy cơ cạnh tranh với các khu vực trồng nho
mới hơn. Nói mạnh mẽ nhất là cây nho Tây từ lâu đã được tháp
trên những gộc cây chống bệnh nhập từ Mỹ. Guy Walter, giám đốc
trung tâm văn hóa Villa Gillet nói: “Chúng ta phải liều lĩnh với
sự toàn cầu hóa. Chúng ta phải dang tay đón nhận từ thế giới bên
ngoài.”
Jean Paul Satre, năm 1946 đã viết những lá thư thời
hậu chiến để đời, cám ơn Mỹ quốc về Hemingway, Faulkner cùng
những văn sĩ khác bấy giờ đã góp phần ảnh hưởng lên tiểu thuyết
Pháp – rồi trở lại ông ta cũng trở thành người được dân Mỹ đón
nhận. Satre hứa hẹn: “Chúng tôi sẽ hoàn trả lại cho quí quốc
những kỹ thuật mà quí quốc đã cho chúng tôi vay mượn. Chúng tôi
hoàn trả sau khi đã lĩnh hội, tri thức hóa, ít tác động, ít thô
bạo hơn – thích ứng một cách có ý thức theo khẩu vị của người
Pháp. Nhờ sự trao đổi không ngừng này khiến nhiều quốc gia tìm
thấy lại nơi những nước khác những gì thoạt đầu họ đã đầu tư vào
nhưng rồi bị loại ra, có lẽ quí vị sẽ tìm thấy lại nơi những tác
phẩm (của Pháp) mới này tuổi thanh xuân bất diệt của một
Faulkner ‘xưa cũ’ ấy.”
Thế thì thế giới có khám phá lại cái tuổi thanh xuân
bất diệt của nước Pháp, một quốc gia vốn tìm kiếm lâu dài cho sự
vinh quang đã nhận thức rõ cái giá trị của nghệ thuật vay mượn.
Ngưng phiền muộn cho sự trụt lùi mà hãy tán dương cho sự đóng
góp sinh động ở chung quanh, rồi nước Pháp sẽ tìm lại tiếng tăm
của một cường quốc văn hóa, một miền đất nơi mà mỗi vụ mùa mới
đều mang lại một sự thu hoạch thêm những thiên tài.
(The
Death of French Culture, Time Magazine Online, Nov 21, 2007)
(*)
Autofiction: Dùng trong phê bình văn chương. Một hình thức tiểu
thuyết hóa tiểu sử. Tác giả dùng ngôi thứ ba để kể lại đời mình.
Một thể loại thông dụng với những nhà văn hiện đại Pháp như
Alice Ferney, Annie Ernaux, Michel Houellebecq, Olivia
Rosenthal, Anne Wiazemsky, và Vassilis Alexalis. Catherine
Millet trong tập hồi ký xuất bản năm 2002 Cuộc Đời Tình Dục
của Catherine M nỗi bật trong lối dùng thể loại này để dò
sâu vào kinh nghiệm tình dục của chính tác giả.
Trở về Trang Chính
|