|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Còn chăng một nền ngoại giao “bán bòng”?
Biến động bất
ngờ xẩy ra ở Li-băng đã khiến Ngoại trưởng Condoleezza Rice,
phải hủy bỏ chuyến công du Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Thay vào đó Dr. Rice, phụ nữ da đen đầu tiên làm Ngoại trưởng
Mĩ (U.S. Secretary of State), đã thực hiện chuyến du hành
chớp nhoáng sang gặp các vị lãnh đạo trong vùng Trung Đông
(Middle East) trong đó có nước Li-băng (Lebanon) và nước
Israel là nước mà ngoài dân Palestines ra thì đa số là dân Do
Thái (Jews). Mục đích của Mĩ qua Tiến sĩ Rice là tìm kiếm
một nền hoà bình lâu dài, chứ không phải chỉ là một cuộc
ngưng bắn (ceasefire) mong manh như trong quá khứ cho vùng
Trung Đông. Có được hay không điều Mĩ trông đợi phải để hậu
hồi phân giải (it remains to be seen). Chỉ biết giờ này đây
Tiến sĩ Rice đang tiếp tục sang các nước Liên Âu
(European Union) để vận động ngoại giao (diplomacy).
Qua những diễn
biến chính trị ngoại giao hiện thời nhắc nhở chúng ta đến nước
Hoa Kì dưới thời Nixon và chính sách ngoại giao con thoi
(shuttle diplomacy) thực hiện bởi Ngoại trưởng Henry Kissinger
của Mĩ. Một trong những dấu hiệu công khai cho thấy mối quan hệ
bang giao giữa Hoa kì và Trung Cộng được cải thiện khởi đầu vào
Tháng Tư, năm 1971, khi đoàn Bóng Bàn Mĩ (American
Ping-Pong team), đang tham dự Giải Vô địch Bóng bàn Thế giới tại
Nhật Bản lần thứ 31, thì nhận được lời mời sang thăm viếng
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China)
với mọi chi phí sẽ được đấu thủ đồng nghiệp Trung Quốc đài thọ.
Vào ngày 10, Tháng Tư, phái đoàn gồm chín
đấu thủ, bốn viên chức, và hai vị phối ngẫu (two spouses)
của họ đi băng qua một chiếc cầu từ Hồng Kông sang lục địa Trung
Hoa mở đầu một kỷ nguyên mà giới truyền thông gọi là kỷ nguyên
“ngoại giao Bóng bàn” (Ping-Pong
diplomacy). Họ là nhóm người Mĩ đầu tiên
được phép vào Trung Hoa kể từ khi đất nước này thuộc vào tay
Trung Cộng (the Communist take-over).
Thủ tướng Chu Ân
Lai đã chứng tỏ tài ngoại giao khéo léo tuyệt vời khi ông đãi
tiệc người Mĩ trong Đại Sảnh Đường Nhân Dân vào ngày 14 Tháng
Tư. Cùng ngày hôm đó, Hoa Kì công bố
bãi bỏ lệnh cấm vận mậu dịch 20 năm (to remove 20-year
embargo on trade) với Trung Cộng. Sau đó một đoàn bóng bàn Trung
Quốc đáp lễ lại bằng một chuyến thăm viếng Mĩ Quốc.
Sự kiện này đánh dấu sự hòa hoãn/tan băng/hết
lạnh nhạt trong quan hệ (a thawing in relations) với Hoa Kì
và để rồi được tiếp nối bằng chuyến viếng thăm của Tổng thống
Richard Nixon vào năm 1972, tức là hơn một năm sau sứ mạng bí
mật (secret mission) của Kissinger tới Bắc Kinh
(Beijing).
Trở lại bài học
Anh Ngữ tuần này với chủ đề “bán bòng” là “bóng bàn”.
Tại sao lại bàn về “bóng bàn”? Một phần cũng vì qua Đài
SBS-Radio, tôi được nghe Phan Bách phỏng vấn danh thủ bóng bàn
Lê Văn Inh về Giải Bóng Bàn Truyền thống (Ping Pong/Table
Tennis Classic Tournament) trong Cộng Đồng được tổ chức hai ngày
Thứ Bảy 22-7 và Chủ Nhật 23-7-2006 vừa rồi. Một phần khác là
Tuần Báo Dân Việt của Lưu Dân có dự phần tổ chức trong
đó. Được biết là Thứ Bẩy tranh giải vô địch Cộng đồng Việt Nam,
còn Chủ Nhật là tranh giải vô địch Mở rộng cho cả các sắc tộc
khác nữa (other ethnic communitites) tham dự.
Sáng Thứ Bẩy
tôi đã “lết” đến tận nơi để được “tai nghe mắt thấy”, coi sơ qua
tình hình đánh vòng loại rồi về. Tôi phải “lết” đến đó là vì
tôi bị tai nạn xe cộ khá nặng (rather bad car accident)
cách đó đôi ba ngày--xe Toyota Seca của tôi bị “nát bấy”
(write-off/written-off). Tại Trung tâm Sinh hoạt Cộng đồng, tôi
may mắn gặp được một khuôn mặt quen thuộc là Hùng “líp” (một cựu
danh thủ bóng bàn, nay thỉnh thoảng cũng đánh ‘tennis’ với chúng
tôi), và đã nhờ anh ta chỉ cho biết ai là Trần Song Kiệt, vô
địch bóng bàn trong cộng đồng người Việt từ nhiều năm nay, để
chụp tấm hình kỉ niệm. Tôi còn được giới thiệu thêm một tay vợt
tên tuổi khác là Trần Nhạc Xuyên. Không hiểu hai anh này có làm
nên cơm cháo gì trong lần tranh giải kì này không? Tin giờ chót
cho biết Trần Song Kiệt, hạ Trần Nhạc Xuyên, đương kim vô
địch (defending champion) bóng bàn cộng đồng Người Việt ở
vòng chung kết, và anh Kiệt cũng là vô địch Giải Bóng Bàn Truyền
thống Toàn Quốc Úc lần 1, 2006, khi anh hạ Daryn Lu trong một
trận đấu vô cùng gay go 11/6, 11/8, 11/6, 8/11, 12/14,12/10,
11/9 (tức là thắng 4 thua 3). Đồng hạng Ba Đơn Nam Mở Rộng là
Trần Nhạc Xuyên và Geoge Tang. Trần Song Kiệt được công nhận là
đấu thủ xuất sắc nhất trong ngày Chủ Nhật 23-7-2006, và nhận
chức vô địch với Chiếc Cúp Vàng (Golden Trophy/Cup) và
1000 Úc kim.
Ngày tôi còn
nhỏ, gần vào trạc tuổi choai choai (teenager) đá bóng khá
giỏi. Có 7, 8 thằng bạn cùng trong xóm, thằng nào cũng giỏi đá
bóng, cùng đều nhanh nhẹn, 'sút' đẹp, 'bon' banh hay, tài nghệ
rất tương đồng, nên chúng tôi mến phục, thích nhau lắm. Bố tôi
thấy tôi mê đá bóng, ham vui bạn bè nên cụ hơi lo, vả lại mình
là con một (the only son), lại là cháu đích tôn. Cụ muốn
tôi nên 'người', nghĩa là phải có ít chữ nghĩa thánh hiền, không
nhất thiết phải học ra làm quan như thời ông cụ thân sinh ra
ông, nhưng ít nhất thì cũng phải giật được mảnh bằng Tú Tài
(HSC/VCE), Cử Nhân (BA, BS) cho oai với người ta, cho
được no cơm ấm cật! Ðể đạt được mục đích thâm sâu thầm kín của
mình, Cụ không ngần ngại nói thẳng cho tôi biết rằng "Ðá bóng
đâu có ăn cái 'giải' gì? Mình có đá giỏi lắm thì người ta cũng
chỉ gọi mình bằng 'thằng', chẳng ai họ gọi mình bằng 'ông' đâu?"
Nói cách khác, đá bóng là cái nghề dành cho bọn "giá áo túi
cơm". Ở vào cái thời trước di cư 1954, trên cái đất nước nghèo
đói loạn lạc hình chữ S của chúng ta thì "lời ông chẳng chê được
nào"!
Tôi bỏ 'nghề'
đá bóng khi tài năng còn mới chớm, quay ra đánh 'bóng bàn'.
Thích bóng bàn thì chơi, nhưng rồi cũng ham mê không ít. Hồi
hơn 10 tuổi ở Hải-Phòng, thường ở nhà thì lấy phản, lấy giường
làm “bàn”, tới trường thì mang vợt theo, đánh lúc ra chơi. Tôi
còn nhớ học trường tư thục Phùng Hưng năm 1953, 1954, do ông Chu
Văn Bình (sau này là nhà văn Chu Tử) làm Hiệu Trưởng
(Principal). Khi vào trong Nam, tôi thường đánh ở Câu Lạc Bộ
Tổng Hội Học Sinh ở Đường Cống Quỳnh (sau này là trụ sở Trường
Trung Học Hưng Đạo, do Giáo sư Nguyễn Văn Phú làm Hiệu Trưởng).
Gọi là thắng giải to lớn thì không có nhưng giải nhỏ thì cũng có
lai rai. Chẳng hạn như vào được bán kết (xếp hạng ba) Giải Câu
Lạc Bộ Tổng Hội Học Sinh đó. Tôi thua Hậu (về sau là cây vợt có
tiếng của Hải Quân, còn Khanh (con Bác Văn Hớn, tiệm chụp hình ở
Đường Cống Quỳnh) là vô địch giải này. Khanh sau này cũng là một
trong 5 cây vợt hàng đầu Miền Nam Việt Nam. Tôi cũng đã có dịp
cùng đoàn tuyển thủ của Hội Bóng Bàn Lam Sơn, trụ sở là Đền thờ
Đức Trần Hưng Đạo ở Đường Hiền Vương, Sàigòn xuống đánh giao hữu
với đội tuyển thủ của Bến Tre, tỉnh Kiến Hoà mà cây vợt số 1 tôi
còn nhớ tên là Lan, công thủ rất đẹp, cú “rờ-ve”/nghịch tay
(backhand) của chàng ta thật tuyệt vời. Tôi cũng đã từng theo
đoàn bóng bàn này, cùng với đoàn võ thuật Lam Sơn đi tham dự Hội
Chợ Cao Nguyên Ban Mê Thuột năm 1956, khi đó Tổng Thống Ngô Đình
Diệm bị ám sát hụt. Tại Hội Chợ này, những tay vợt bóng bàn quốc
tế Việt Nam như Mai Văn Hoà và Trần Văn Đức cũng được mời lên
đánh biểu diễn (exhibition matches).
Tôi
được Cúp Bạc trong xóm ở Đường Trần Hưng Đạo gần Chợ Quán. Tôi
cũng ghi danh thi đấu giải hạng nhì (thời đó gọi theo Tây
là ‘deuxième série’) nhiều lần, mà thường thì cũng vào được
vòng 2, vòng 3 (second round, third round). Thế thôi. Kể
từ sau năm Đệ Tam, lên Đệ Nhị, tôi đành phải bỏ chơi bóng bàn để
tập trung vào việc học thi Tú Tài. Niên học Đệ Nhất Trung Học
Chu Văn An, tôi là cây vợt số 1, và một anh nữa (quên tên) cây
vợt cố 2 đại diện Trường, dự tranh giải giữa các trường trung
học với nhau, trong khi đó Phạm Gia Anh và Cao Lê Hùng là cây
vợt số 1 và số 2 của Trường Trung Học Pétrus Ký. Cả hai tay vợt
này lúc đó hình như đã là tuyển thủ đại diện Việt Nam Cộng
Hoà (Republic of Vietnam) tranh giải trong khu vực Á Châu.
Thật ra tôi đã cũng có nhiều dịp tập dượt bóng bàn với hai anh
chàng này mấy năm trước đó, nhất là với Cao Lê Hùng, khi họ
chưa nổi tiếng. Giải bóng bàn nói trên được tổ chức tại Hội
Quán Bóng Bàn Nam Việt, do thân sinh của nữ danh thủ số 1 bóng
bàn Việt Nam là cô Kim Ngôn làm chủ. Khi sang đến Úc du học Cao
học đầu năm 1974, thì khoảng năm 1976, 77 (?) mặc dù không tập
dượt gì mấy tôi là cây vợt số 2 của Đại học Macquarie University
tranh Giải Bóng Bàn Liên Đại học (Inter-Varsity Table
Tennis Tournament), còn anh chàng người Tân gia Ba
(Singaporean), tên Edward, là cây cợt số 1 đại diện Trường.
Phải
nói là tôi hưởng được phần nào cái "gien" (gene) của ông
cụ thân sinh ra tôi về bộ môn bóng bàn. Bố tôi, tên cúng cơm là
Trịnh Văn Ứng, đứng chung với ông bạn tên Thi, đã đoạt chức
vô địch đôi nam (Men’s Doubles title) trong Giải Vô địch
Bóng bàn Ðông Dương (Indochina Men’s Table Tennis
Championship) năm 1935, tại Huế, lúc ông 24 tuổi, dưới sự chủ
toạ của Hoàng Ðế Bảo Ðại (Emperor Bao Dai). Biến cố lịch
sử này đã được kí giả thể thao lão thành Nguyễn Duy Dưỡng ở
Sàigòn sau này kể lại, có cả hình ảnh (tôi còn cất giữ đâu đó),
trong một tờ báo đăng tại Việt Nam cách đây khoảng 15 năm.
Cầu chúc cho
phong trào “bán bòng” trong Cộng Đồng Việt Nam tại Úc “lên cao
như diều gặp gió!”
Trịnh Nhật
Sydney, tháng
7, 2006
Kết hợp ngữ (Collocations)
table
noun
1 cái bàn
·
adj
big
lớn, high cao, huge khổng lồ,
large lớn, long dài | little nhỏ, low
thấp, small nhỏ, bé |
circular (hình)
bán nguyệt, vòng cung, rectangular chữ nhật, round
tròn, square vuông | drop-leaf, fold-away
gấp, folding gập, trestle (bàn kê
trên) niễng
We arranged the party food on a trestle
table in the garden
Chúng tôi sắp dọn thức ăn cho tiệc liên hoan trên
cái bàn kê trên niễng ỏ ngoài vườn..
| baize-covered
phủ dạ (xanh), glass-topped (mặt bàn) thuỷ
tinh,
white-clothed, white-napped
(phủ) vải
trắng | glass kính/kiếng, plastic nhựa pờ-lát-tíc,
wooden gỗ, cây |
polished đánh bóng, scrubbed chùi sạch | ramshackle xập xệ, hư nát,
rickety ọp ẹp, rough nhám, ráp |
empty
trống
We found an empty table at the back of the
restaurant
Chúng tôi tìm thấy mốt cái bàn trống ở đằng sau
nhà hàng.
| bare
trơ trọi | corner trong góc (phòng),
window (bên/gần) cửa sổ
We'll take the corner table near the bar, please
Cho
chúng tôi chọn cái bàn trong góc gần quầy rượu nhe
| dining (room)
phòng ăn,
kitchen (trong) nhà bếp
She often does her homework at the kitchen table
Cô ta thường làm bài tập (cho về nhà làm) ở bàn
trong bếp.. | breakfast (ăn) bữa sáng, điểm
tâm, dinner
(ăn) bữa tối, lunch
(ăn) bữa trưa We never discuss politics at the breakfast table
Chúng tôi không bao giờ bàn chuyện chính trị ở bàn ăn sáng.
| conference
hội nghị, negotiating thương thuyết
They spent hours around the
negotiating table
Họ dùng nhiều thời giờ quanh
bàn thương thảo.
| billiard
bi-da, ping-pong bóng
bàn, pool, snooker bi-da, sì-núc-kơ,
table-tennis
bóng bàn,
| makeshift
tạm
We turned the box upside down and used it as a makeshift table
Chúng tôi lật ngược cái hộp rồi lấy hộp dùng tạm làm cái bàn.
·
verb
+ table
sit around/round, sit (down) at ngồi quanh, ngồi
xuống tại They
were all
five of them sitting round the kitchen table
Bọn họ
tất cả năm người ngồi quanh cái bàn trong nhà bếp.
| get
up from, leave
đứng dậy rời khỏi (bàn)
He left the table in a hurry
Anh ta vội vã rời khỏi bàn. I lay, set
đặt, xếp, bầy Please
lay the table for six
Làm ơn xếp bàn cho sáu người.
| clear
dọn dẹp
You clear the table and I’ll
wash the dishes
Anh dọn sạch bàn còn tôi sẽ rửa chén bát.
| book, reserve
đặt, đặt trước, giữ trước
We booked a table in our
favourite
restaurant for 8 p.m.
Chúng tôi
đặt một cái bàn trong nhà hàng chúng tôi ưa thích cho 8 giờ tối.
·
table
+ noun
decorations (vật dụng) trang trí, trang hoàng
| edge cạnh, mép
·
prep
across the ~
ngang qua
She leaned across the table towards
him
Cô ta nghiêng mình qua cái bàn về phía hắn ta.
around/round the
~ quanh
We gathered round the table to
hear his news Chúng tôi
quây quanh cái bàn để nghe tin tức của anh ấy, at the ~ ở to sit down
at the table ngồi xuống tại cái bàn đó on the ~
She put the
vase on the table
Cô ta đặt chiếc bình trên
bàn, over
the ~ trên
They flirted over the
dinner table
Họ tán tỉnh nhau ở bàn
ăn under the ~ dưới
The potato rolled
under the table
Củ khoai tây
lăn dưới gầm bàn.
·
PHRASE
the centre/middle of the table
giữa bàn, the edge/end/head of the table
mép, dìa/cuối/đầu bàn
My father always sits at the
head of the table
Cha tôi bao giờ cũng ngồi ỏ đầu bàn,
a round table discussion/meeting
một cuộc
thảo luận/hội nghị bàn tròn,
round table talks
những cuộc thảo luận bàn tròn
All
parties took part in the round table
discussions on the peace process
Tất cả các phe nhóm tham dự vào các cuộc thảo luận bàn tròn về
tiến trình hòa bình..
2 bảng liệt kê/kê khai dữ kiện/con số
-
ADJ statistical
thống kê, liệt kê (số liệu) | league liên đoàn
The league table shows the Danish team in first place
with eight points Bảng liên đoàn cho thấy toán/đội Đan
Mạch đứng hạng nhất với tám điểm.
·
VERB
+ TABLE compile, draw (up) làm, thiết lập
| see xem See Table
XII for population figures
Xem Bảng XII để biết các con số về dân số.
·
TABLE + VERB shows sth cho thấy/trình bày cái gì
·
prep
in a/the
~ He showed the price
fluctuations in a
statistical table
Anh ta cho thấy những thay đổi về giá cả trong một bảng thống kê
o United are second in the table Đội United đứng hạng
nhì trong bảng xếp hạng.
·
PHRASE the bottom/top of the table
cuối/đầu bảng, mid-table giữa bảng
The
team will be lucky to finish the season mid-table
Toán/đội đó sẽ may mắn kết thúc mùa thi đấu xếp ở
giữa bảng.
Print this site

Trở về Trang Chính |