Anh Ngữ Học Mà Vui

Bài Số 3



 

  

LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo. 

 

Còn chăng một nền ngoại giao “bán bòng”?

 

Biến động bất ngờ xẩy ra ở Li-băng đã khiến Ngoại trưởng Condoleezza Rice, phải hủy bỏ chuyến công du  Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Thay vào đó Dr. Rice, phụ nữ da đen đầu tiên làm Ngoại trưởng Mĩ  (U.S. Secretary of State), đã thực hiện chuyến du hành chớp nhoáng sang gặp các vị lãnh đạo trong vùng Trung Đông (Middle East) trong đó có nước Li-băng (Lebanon) và nước Israel là nước mà ngoài dân Palestines ra thì đa số là dân Do Thái (Jews). Mục đích của Mĩ qua Tiến sĩ Rice là tìm kiếm một nền hoà bình lâu dài, chứ không phải chỉ là một cuộc ngưng bắn (ceasefire) mong manh như trong quá khứ cho vùng Trung Đông. Có được hay không điều Mĩ trông đợi phải để hậu hồi phân giải (it remains to be seen). Chỉ biết giờ này đây Tiến sĩ Rice đang tiếp tục sang các nước Liên Âu (European Union) để vận động ngoại giao (diplomacy).

 

Qua những diễn biến chính trị ngoại giao hiện thời nhắc nhở chúng ta đến nước Hoa Kì dưới thời Nixon và chính sách ngoại giao con thoi (shuttle diplomacy) thực hiện bởi Ngoại trưởng Henry Kissinger của Mĩ.  Một trong những dấu hiệu công khai cho thấy mối quan hệ bang giao giữa Hoa kì và Trung Cộng được cải thiện khởi đầu vào Tháng Tư, năm 1971, khi đoàn Bóng Bàn Mĩ (American Ping-Pong team), đang tham dự Giải Vô địch Bóng bàn Thế giới tại Nhật Bản lần thứ 31, thì nhận được lời mời sang thăm viếng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc  (People’s Republic of China) với mọi chi phí sẽ được đấu thủ đồng nghiệp Trung Quốc đài thọ. Vào ngày 10, Tháng Tư, phái đoàn gồm chín đấu thủ, bốn viên chức, và hai vị phối ngẫu (two spouses) của họ đi băng qua một chiếc cầu từ Hồng Kông sang lục địa Trung Hoa mở đầu một kỷ nguyên mà giới truyền thông gọi là kỷ nguyên “ngoại giao Bóng bàn” (Ping-Pong diplomacy).  Họ là nhóm người Mĩ đầu tiên được phép vào Trung Hoa kể từ khi đất nước này thuộc vào tay Trung Cộng (the Communist take-over).

 

Thủ tướng Chu Ân Lai đã chứng tỏ tài ngoại giao khéo léo tuyệt vời khi ông đãi tiệc người Mĩ  trong Đại Sảnh Đường Nhân Dân vào ngày 14 Tháng Tư. Cùng ngày hôm đó, Hoa Kì công bố bãi bỏ lệnh cấm vận mậu dịch 20 năm (to remove 20-year embargo on trade) với Trung Cộng. Sau đó một đoàn bóng bàn Trung Quốc đáp lễ lại bằng một chuyến thăm viếng Mĩ Quốc. Sự kiện này đánh dấu sự hòa hoãn/tan băng/hết lạnh nhạt trong quan hệ (a thawing in relations) với Hoa Kì và để rồi được tiếp nối bằng chuyến viếng thăm của Tổng thống Richard Nixon vào năm 1972, tức là hơn một năm sau sứ mạng bí mật (secret mission) của Kissinger tới Bắc Kinh (Beijing).  

 

Trở lại bài học Anh Ngữ tuần này với chủ đề “bán bòng”“bóng bàn”.  Tại sao lại bàn về “bóng bàn”?  Một phần cũng vì qua Đài SBS-Radio, tôi được nghe Phan Bách phỏng vấn danh thủ bóng bàn Lê Văn Inh về Giải Bóng Bàn Truyền thống (Ping Pong/Table Tennis Classic Tournament) trong Cộng Đồng được tổ chức hai ngày Thứ Bảy 22-7 và Chủ Nhật 23-7-2006 vừa rồi. Một phần khác là Tuần Báo Dân Việt của Lưu Dân có dự phần tổ chức trong đó.  Được biết là Thứ Bẩy tranh giải vô địch Cộng đồng Việt Nam, còn Chủ Nhật là tranh giải vô địch Mở rộng cho cả các sắc tộc khác nữa (other ethnic communitites) tham dự.

 

Sáng Thứ Bẩy tôi đã “lết” đến tận nơi để được “tai nghe mắt thấy”, coi sơ qua tình hình đánh vòng loại rồi về.  Tôi phải “lết” đến đó là vì tôi bị tai nạn xe cộ khá nặng (rather bad car accident) cách đó đôi ba ngày--xe Toyota Seca của tôi bị “nát bấy” (write-off/written-off).  Tại Trung tâm Sinh hoạt Cộng đồng, tôi may mắn gặp được một khuôn mặt quen thuộc là Hùng “líp” (một cựu danh thủ bóng bàn, nay thỉnh thoảng cũng đánh ‘tennis’ với chúng tôi), và đã nhờ anh ta chỉ cho biết ai là Trần Song Kiệt, vô địch bóng bàn trong cộng đồng người Việt từ nhiều năm nay, để chụp tấm hình kỉ niệm. Tôi còn được giới thiệu thêm một tay vợt tên tuổi khác là Trần Nhạc Xuyên. Không hiểu hai anh này có làm nên cơm cháo gì trong lần tranh giải kì này không?  Tin giờ chót cho biết Trần Song Kiệt, hạ Trần Nhạc Xuyên, đương kim vô địch (defending champion) bóng bàn cộng đồng Người Việt ở vòng chung kết, và anh Kiệt cũng là vô địch Giải Bóng Bàn Truyền thống Toàn Quốc Úc lần 1, 2006,  khi anh hạ Daryn Lu trong một trận đấu vô cùng gay go 11/6, 11/8, 11/6, 8/11, 12/14,12/10, 11/9 (tức là thắng 4 thua 3). Đồng hạng Ba Đơn Nam Mở Rộng là Trần Nhạc Xuyên và Geoge Tang.  Trần Song Kiệt được công nhận là đấu thủ xuất sắc nhất trong ngày Chủ Nhật 23-7-2006, và nhận chức vô địch với Chiếc Cúp Vàng (Golden Trophy/Cup) và 1000 Úc kim.

 

Ngày tôi còn nhỏ, gần vào trạc tuổi choai choai (teenager) đá bóng khá giỏi.  Có 7, 8 thằng bạn cùng trong xóm, thằng nào cũng giỏi đá bóng, cùng đều nhanh nhẹn, 'sút' đẹp, 'bon' banh hay, tài nghệ rất tương đồng, nên chúng tôi mến phục, thích nhau lắm.  Bố tôi thấy tôi mê đá bóng, ham vui bạn bè nên cụ hơi lo, vả lại mình là con một (the only son), lại là cháu đích tôn. Cụ muốn tôi nên 'người', nghĩa là phải có ít chữ nghĩa thánh hiền, không nhất thiết phải học ra làm quan như thời ông cụ thân sinh ra ông, nhưng ít nhất thì cũng phải giật được mảnh bằng Tú Tài (HSC/VCE), Cử Nhân (BA, BS) cho oai với người ta, cho được no cơm ấm cật!   Ðể đạt được mục đích thâm sâu thầm kín của mình, Cụ không ngần ngại nói thẳng cho tôi biết rằng "Ðá bóng đâu có ăn cái 'giải' gì?  Mình có đá giỏi lắm thì người ta cũng chỉ gọi mình bằng 'thằng', chẳng ai họ gọi mình bằng 'ông' đâu?"  Nói cách khác, đá bóng là cái nghề dành cho bọn "giá áo túi cơm".   Ở vào cái thời trước di cư 1954, trên cái đất nước nghèo đói loạn lạc hình chữ S của chúng ta thì "lời ông chẳng chê được nào"!  

 

Tôi bỏ 'nghề' đá bóng khi tài năng còn mới chớm, quay ra đánh 'bóng bàn'.  Thích bóng bàn thì chơi, nhưng rồi cũng ham mê không ít.  Hồi hơn 10 tuổi ở Hải-Phòng, thường ở nhà thì lấy phản, lấy giường làm “bàn”, tới trường thì mang vợt theo, đánh lúc ra chơi. Tôi còn nhớ học trường tư thục Phùng Hưng năm 1953, 1954, do ông Chu Văn Bình (sau này là nhà văn Chu Tử) làm Hiệu Trưởng (Principal).  Khi vào trong Nam, tôi thường đánh ở Câu Lạc Bộ Tổng Hội Học Sinh ở Đường Cống Quỳnh (sau này là trụ sở Trường Trung Học Hưng Đạo, do Giáo sư Nguyễn Văn Phú làm Hiệu Trưởng). Gọi là thắng giải to lớn thì không có nhưng giải nhỏ thì cũng có lai rai.  Chẳng hạn như vào được bán kết (xếp hạng ba) Giải Câu Lạc Bộ Tổng Hội Học Sinh đó. Tôi thua Hậu (về sau là cây vợt có tiếng của Hải Quân, còn Khanh (con Bác Văn Hớn, tiệm chụp hình ở Đường Cống Quỳnh) là vô địch giải này. Khanh sau này cũng là một trong 5 cây vợt hàng đầu Miền Nam Việt Nam. Tôi cũng đã có dịp cùng đoàn tuyển thủ của Hội Bóng Bàn Lam Sơn, trụ sở là Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo ở Đường Hiền Vương, Sàigòn xuống đánh giao hữu với đội tuyển thủ của Bến Tre, tỉnh Kiến Hoà mà cây vợt số 1 tôi còn nhớ tên là Lan, công thủ rất đẹp, cú “rờ-ve”/nghịch tay (backhand) của chàng ta thật tuyệt vời. Tôi cũng đã từng theo đoàn bóng bàn này, cùng với đoàn võ thuật Lam Sơn đi tham dự Hội Chợ Cao Nguyên Ban Mê Thuột năm 1956, khi đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt. Tại Hội Chợ này, những tay vợt bóng bàn quốc tế Việt Nam như Mai Văn Hoà và Trần Văn Đức cũng được mời lên đánh biểu diễn (exhibition matches).

 

Tôi được Cúp Bạc trong xóm ở Đường Trần Hưng Đạo gần Chợ Quán. Tôi cũng ghi danh thi đấu giải hạng nhì (thời đó gọi theo Tây là ‘deuxième série’) nhiều lần, mà thường thì cũng vào được vòng 2, vòng 3 (second round, third round).  Thế thôi.  Kể từ sau năm Đệ Tam, lên Đệ Nhị, tôi đành phải bỏ chơi bóng bàn để tập trung vào việc học thi Tú Tài.  Niên học Đệ Nhất Trung Học Chu Văn An, tôi là cây vợt số 1, và một anh nữa (quên tên) cây vợt cố 2 đại diện Trường, dự tranh giải giữa các trường trung học với nhau, trong khi đó Phạm Gia Anh và Cao Lê Hùng là cây vợt số 1 và số 2 của Trường Trung Học Pétrus Ký.  Cả hai tay vợt này lúc đó hình như đã là tuyển thủ đại diện Việt Nam Cộng Hoà (Republic of Vietnam) tranh giải trong khu vực Á Châu. Thật ra tôi đã cũng có nhiều dịp tập dượt bóng bàn với hai anh chàng này mấy năm trước đó, nhất là với Cao Lê Hùng,  khi họ chưa nổi tiếng.  Giải bóng bàn nói trên được tổ chức tại Hội Quán Bóng Bàn Nam Việt, do thân sinh của nữ danh thủ số 1 bóng bàn Việt Nam là cô Kim Ngôn làm chủ.  Khi sang đến Úc du học Cao học đầu năm 1974, thì khoảng năm 1976, 77 (?) mặc dù không tập dượt gì mấy tôi là cây vợt số 2 của Đại học Macquarie University tranh Giải Bóng Bàn Liên Đại học (Inter-Varsity Table Tennis Tournament), còn anh chàng người Tân gia Ba (Singaporean), tên Edward, là cây cợt số 1 đại diện Trường.

 

Phải nói là tôi hưởng được phần nào cái "gien" (gene) của ông cụ thân sinh ra tôi về bộ môn bóng bàn.  Bố tôi, tên cúng cơm là Trịnh Văn Ứng, đứng chung với ông bạn tên Thi, đã đoạt chức vô địch đôi nam (Men’s Doubles title) trong Giải Vô địch Bóng bàn Ðông Dương (Indochina Men’s Table Tennis Championship) năm 1935, tại Huế, lúc ông 24 tuổi, dưới sự chủ toạ của Hoàng Ðế Bảo Ðại (Emperor Bao Dai). Biến cố lịch sử này đã được kí giả thể thao lão thành Nguyễn Duy Dưỡng ở Sàigòn sau này kể lại, có cả hình ảnh (tôi còn cất giữ đâu đó), trong một tờ báo đăng tại Việt Nam cách đây khoảng 15 năm. 

 

Cầu chúc cho phong trào “bán bòng” trong Cộng Đồng Việt Nam tại Úc “lên cao như diều gặp gió!”

 

Trịnh Nhật

Sydney, tháng 7, 2006

 

Kết hợp ngữ (Collocations)

table noun

1          cái bàn

·         adj  big lớn, high cao, huge khổng lồ, large lớn, long dài | little nhỏ, low thấp, small nhỏ, bé | circular (hình) bán nguyệt, vòng cung, rectangular chữ nhật, round tròn, square vuông | drop-leaf, fold-away gấp, folding gập, trestle (bàn kê trên) niễng We arranged the party food on a tres­tle table in the garden  Chúng tôi sắp dọn thức ăn cho tiệc liên hoan trên cái bàn kê trên niễng ỏ ngoài vườn.. | baize-covered phủ dạ (xanh), glass-topped (mặt bàn) thuỷ tinh, white-clothed, white-napped (phủ) vải trắng | glass kính/kiếng, plastic nhựa pờ-lát-tíc, wooden gỗ, cây | polished đánh bóng,  scrubbed chùi sạch | ramshackle xập xệ, hư nát, rickety ọp ẹp, rough nhám, ráp | empty trống We found an empty table at the back of the restaurant Chúng tôi tìm thấy mốt cái bàn trống ở đằng sau nhà hàng. |  bare trơ trọi | corner trong góc (phòng), window (bên/gần) cửa sổ We'll take the corner table near the bar, please Cho chúng tôi chọn cái bàn trong góc gần quầy rượu nhe | dining (room) phòng ăn, kitchen (trong) nhà bếp She often does her homework at the kitchen table Cô ta thường làm bài tập (cho về nhà làm) ở bàn trong bếp.. | breakfast (ăn) bữa sáng, điểm tâm, din­ner (ăn) bữa tối, lunch (ăn) bữa trưa  We never discuss politics at the breakfast table Chúng tôi không bao giờ bàn chuyện chính trị ở bàn ăn sáng. | conference hội nghị, negotiating thương thuyết They spent hours around the negotiating table Họ dùng nhiều thời giờ quanh bàn thương thảo. | billiard bi-da, ping-pong bóng bàn, pool, snooker bi-da, sì-núc-kơ, table-tennis bóng bàn, | makeshift tạm We turned the box upside down and used it as a makeshift table Chúng tôi lật ngược cái hộp rồi lấy hộp dùng tạm làm cái bàn.

·         verb + table  sit around/round, sit (down) at ngồi quanh, ngồi xuống tại They were all five of them sitting round the kitchen table Bọn họ tất cả năm người ngồi quanh cái bàn trong nhà bếp. | get up from, leave  đứng dậy rời khỏi (bàn) He left the table in a hurry Anh ta vội vã rời khỏi bàn. I lay, set  đặt, xếp, bầy  Please lay the table for six Làm ơn xếp bàn cho sáu người. | clear dọn dẹp You clear the table and I’ll wash the dishes Anh dọn sạch bàn còn tôi sẽ rửa chén bát. | book, reserve đặt, đặt trước, giữ trước We booked a table in our favourite restaurant for 8 p.m. Chúng tôi đặt một cái bàn trong nhà hàng chúng tôi ưa thích cho 8 giờ tối.

·         table + noun decorations (vật dụng) trang trí, trang hoàng | edge cạnh, mép

·         prep  across the ~ ngang qua She leaned across the table towards him Cô ta nghiêng mình qua cái bàn về phía hắn ta. around/round the ~ quanh We gathered round the table to hear his news Chúng tôi quây quanh cái bàn để nghe tin tức của anh ấy,  at the ~  ở to sit down at the table  ngồi xuống tại cái bàn đó on the ~ She put the vase on the table Cô ta đặt chiếc bình trên bàn, over the ~ trên They flirted over the dinner table Họ tán tỉnh nhau ở bàn ăn  under the ~ dưới The potato rolled under the table Củ khoai tây lăn dưới gầm bàn.

·         PHRASE the    centre/middle    of    the    table giữa bàn,   the edge/end/head of the table mép, dìa/cuối/đầu bàn My father always sits at the head of the table Cha tôi bao giờ cũng ngồi ỏ đầu bàn, a round table discussion/meeting một cuộc thảo luận/hội nghị bàn tròn, round table talks những cuộc thảo luận bàn tròn  All parties took part in the round table discussions on the peace process Tất cả các phe nhóm tham dự vào các cuộc thảo luận bàn tròn về tiến trình hòa bình..

2    bảng liệt kê/kê khai dữ kiện/con số

  • ADJ statistical thống kê, liệt kê (số liệu) | league liên đoàn The league table shows the Danish team in first place with eight points Bảng liên đoàn cho thấy toán/đội Đan Mạch đứng hạng nhất với tám điểm.

·         VERB + TABLE compile, draw (up) làm, thiết lập | see xem See Table XII for population figures Xem Bảng XII để biết các con số về dân số.

·         TABLE + VERB   shows sth cho thấy/trình bày cái gì

·         prep   in a/the ~ He showed the price fluctuations in a statistical table Anh ta cho thấy những thay đổi về giá cả trong một bảng thống kê o United are second in the table Đội United đứng hạng nhì trong bảng xếp hạng.

·         PHRASE  the bottom/top of the table cuối/đầu bảng, mid-table giữa bảng The team will be lucky to finish the season mid-table Toán/đội đó sẽ may mắn kết thúc mùa thi đấu xếp ở giữa bảng.

Print this site

Trở về Trang Chính