Tiếng Anh Tiếng Em

Giãy như đỉa phải vôi



 

LTS. Mục “Tiếng Anh Tiếng Em” nhằm tạo cơ hội cho độc giả nâng cao trình độ Anh ngữ qua những mẩu chuyện tiếu lâm, mẩu tin vui cười viết bằng tiếng Anh hay tiếng Việt liên quan đến tình yêu, hôn nhân, thời trang, văn nghệ, giải trí, du lịch v.v… Độc giả thường khi sẽ được hướng dẫn về mặt ngôn ngữ và văn hoá Anh-Úc, Việt để có thể thưởng thức những điều mình đọc tới mức tối đa.

 

Giãy như đỉa phải vôi

 

Chuyện “ăn vã”  trong bài “Xin anh chớ tưởng tiếng Em nghèo!” lần trước quả là một “cú hích” cho Quí độc giả cùng các bạn hữu thân thương của tôi, và kết quả là những “phản hồi” (feedback) lí thú mà tôi đã nhận được. Tôi xin tóm tắt như sau:


Cám ơn anh viết bài đọc vui và làm ta thêm tự hào về tiếng Việt của mình.
Tôi mong có dịp mời anh một bữa có nhiều thức ăn để anh “ăn vã”, nhưng hi vọng anh sẽ không “ăn vạ”, nếu anh ăn không đủ  “no”!
(NPD, Canberra)

Thanks anh Điền đã khéo chơi chữ. Từ  “ăn vạ” theo từ điển của Bùi Phụng có nghĩa là (= to make a scene in order to get what one wants). 

 

Riêng anh Viên, đã từng làm Tuỳ Viên Quân Lực VNCH ở Đài Bắc, nay cư ngụ tại Hoa Thịnh Đốn, còn quả quyết:

And neither the Chinese nor the French have it (ăn vã). It's a concept unique to Vietnamese culture, me thinks. (CXV, Washington, D.C.)

 

Còn anh Bình, bạn nhậu ở Burwood, thì đã không tiếc lời “áo thụng vái nhau”:

Thế mới biết tiếng Việt ta cũng "giàu" quá phải không ông bạn?  Nói vậy thôi, chứ muốn biết nó có "giàu" hay "nghèo", mình cũng phải rất thông thạo "English" như ông bạn thì may ra mới có thể khám phá ra được. Cám ơn bạn đã cho đọc những " khám phá dzí dzỏm " của ngôn ngữ. (NAB, Sydney)

 

Anh Dũng, trong nhóm bạn nhậu “The Gang of Five” ở Burwood của chúng tôi, đã góp í:

… “Snacking” là "ăn vặt". “Đầy bụng” là "bloated". “Ăn vã” hay “ăn dỗ mồi” không có dạng từ Anh Ngữ tương đương vì cách ăn uống khác nhau. Xứ của ta nghèo nên cơm là chính. Thức ăn cốt là để có mùi vị để dễ ăn cơm, nên ai “ăn thức ăn không” là ảnh hưởng tới mọi người khác. Bởi vậy các cụ mới đặt ra danh từ điển hình để khi nhắc tới là mọi người trong cuộc đều phải chú ý tới và xác định lại tình hình ăn uống của chính mình. (ĐQD, Sydney)

 

Anh Thịnh, người bạn trẻ (tôi quen mà chưa gặp), thì cũng có lời bàn:

Cảm ơn anh cho xem một bài viết thú vị. Xin phép được góp vài ý vụn chủ quan: Chữ "ăn vã" thật hay, thường vì người dọn mâm cơm muốn mọi thứ được thanh toán cả cho gọn và đỡ việc phải xử trí mấy món còn lại trong mâm cơm đã dọn lên, nên khuyến khích việc “ăn vã”, tức là ăn đồ ăn không kèm theo cơm vốn là món chính của người mình.“Having snacks” hay “snacking” là “ăn vặt”, “ăn nhẹ” vào khoảng giữa ba bữa ăn chính. “No bụng” có khi khác với “đầy bụng”. Từ "đầy bụng" có lúc dùng cho trạng thái hay triệu chứng bệnh hoạn, "bị chứng đầy bụng". Nó có ý nghĩa cảm giác, có thể ăn 8 phần, 9 phần bụng cũng cảm thấy no được. Trong ý nghĩa này thì nó giống như đủ (Tri túc tiện túc). Trong khi đầy có ý nghĩa vật lý hơn, tức là đã đến mức tối đa, 10 phần 10 rồi, không chứa thêm được nữa. Quả thật về những sự việc căn bản của con người và sinh hoạt cơ bản, thì tiếng Việt mình giàu hay dư dả. Nhưng đời sống dân mình càng văn minh hơn, thì còn cần du nhập rất nhiều những từ ngữ mới. Xin tha tội nói leo.
(PVT, Sydney)

 

Còn anh Thông, ở Melbourne, cũng không ngại ngần cho í kiến đại loại như sau:

Very interesting article. Some minor points: 1. lươn lẹo = tricky (cf. slippery; 2. đày bụng (literally,full stomach”) which has  its  positive meaning as  “no bụng” and its negative meaning as “đày bụng”. “Empty stomach” (literally, “bụng trống”,  not a Vietnamese usage) which means “đói bụng” or  “đói”; 3.  tốt bụng (literally, “good stomach”) which does not mean “ a (biologically) healthy stomach”,  but a good-natured person. (NCT, Melbourne)

 

Với í kiến của ba anh bạn trên, sau khi tham khảo, tôi xin viết thêm đôi điều về hai từ “bloated” và “indigestion” như thế này:

 “To be bloated” means to be distended (= bị căng phồng) with air or water. It does not always refer to “indigestion” (= chứng khó tiêu/đầy bụng), which means an inability or difficulty in swallowing food (= nuốt thức ăn). When you suffer from indigestion, often the symptoms are gagging (= nghẹn), burning [= nóng ran (ở dạ dầy)]. Women often complain of “bloating” during their periods (= có kinh nguyệt; hành kinh), because of water retention (nước chứa/giữ lại) in the body.

 

Còn anh Danh tại Melbourne thì bảo:

Đọc bài của anh cảm thấy rất vui và hay vì học được danh từ mới, chính tôi cũng chưa nghe từ "ăn vã" lần nào.  Người Sài Gòn thường gọi từ này một cách dễ hiểu là "ăn không" (ăn thức ăn không có cơm) và có lẽ đúng theo nghĩa của nó hơn. Cheers. (HCD, Melbourne)

Theo tôi, thì “ăn không” lại có nghĩa là “ăn cơm không, mà không ăn thức ăn” trong tiếng Bắc, và như vậy là trái hẳn với nghĩa hiểu theo tiếng Sài Gòn. Đấy là chưa kể đến “ăn không” theo Đại Từ Điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì là: 1) Ăn tiêu mà không làm ra tiền, của cải (vd. Cứ ngồi nhà ăn không thì của núi cũng hết); 2) Lấy không của người khác bằng thủ đoạn, mánh khoé (vd. Kiểu kí kết như thế này thì quả là làm để cho chủ ăn không).

 

Chị Uyên Hạnh, ở Đan Mạch, lại lê thê, kể lể khúc nhôi như sau:

to take someone out for a bite (to eat) = đưa ai/người nào ra ngoài/ra phố đi ăn/đi đớp (a bite = miếng cắn; miếng ngoạm)
  
… tôi xin "bàn vô bàn ra" với anh cho vui. Anh dùng chữ "đi đớp" nghe "dễ sợ" quá! Trong bạn bè với nhau, rủ nhau đi ăn tiệm, có thể nói: "mình đi kiếm cái gì nhét vào bụng", "rủ ai ra phố kiếm chút gì ăn", hay "đi kiếm cái gì đớp một phát". Tuy chữ "a bite" hàm ý nghĩa bình dân và số lượng không lớn, nghĩa là ăn gì cũng được, hay là ăn qua loa cho no bụng thôi, không là bữa ăn trịnh trọng, nhưng dùng chữ "đưa người nào ra phố đi đớp" thì tôi chưa hề nghe, đến khi nghe anh nói, nó "lạ tai" quá.  Ở xứ Huế của chúng tôi, trước 75, bạn bè đi học, thường gọi nhau đi "kéo ghế" . Từ này trong gia đình bà con, người giàu có hay trung lưu, đều dùng (bởi người nghèo không có tiền để đi “kéo ghế”). Từ nầy dùng cho "for a bite" cũng được mà dùng cho việc đi ăn “restaurant” cũng được, và có tính cách rất thân mật, sang cĩng được mà bình dân cũng được. Vài lời "nhiều chuyện" với anh cho vui. Anh có đầu óc dí dỏm hài hước nên bài viết của anh rất thực dụng
(UH, www.khoahoc.net)

Người đẹp UH ơi! Tôi học được cụm từ “kéo ghế” của chị. Lạ quá, mới với tôi quá! Còn cụm từ “đi đớp” thì chị cứ hỏi bất cứ người Bắc nào là chị muốn kéo họ “đi đớp” là họ hiểu liền. Chẳng hạn như chị nói: “Bọn mình bây giờ ra phố tìm cái gì đớp một cái đi!” Trong tiếng Bắc “đớp cái gì” nghĩa là “ăn cái gì”.

 

Kính thưa Quí độc giả, Quí thân hữu, nếu tôi nói có điều gì sàm sỡ, thất thố trong khi bàn đến tiếng Em, thì xin Quí Vị Quí Bạn thứ lỗi giùm cho. Câu chuyện tiếng Anh tuần này liên quan đến bà chị tên Thư Hương, 68 tuổi, của tôi, cựu nữ sinh Trưng Vương, Sài Gòn, mới từ bên Mĩ sang Úc chơi, du lịch, thăm viếng con cháu:
Recently my sister who lives in Southern California came to Australia to visit her son and daughter-in-law and to see her newly born second grandchild. She was staying not far from my home, so I took the opportunity to invite her out for the day to entertain her during her visit to Australia. She had previously been here before so I figured that a good day out would be a visit to Star City Casino, as her favourite “sport” is playing poker machines. When I suggested this outing she appeared embarrassed in the presence of other relatives. She told me she played poker machines every week in Orange County, so she has had enough of it, and she appeared to be adamant that she didn’t want to visit our casino.

 

Her reaction reminded me of a saying we have in Vietnamese; i.e. “giãy như điả phải vôi” (Wriggling around like a leech with lime on its body). Deep down I knew if I insisted she would accompany me regardless, which she eventually did. As pensioners we had the benefit of transport concessions, so we took a bus from outside my home in Casula to catch the train at Liverpool Station. We alighted at Cabramatta Station to go to John Street to arrange a money transfer ($200) to her eldest son in Vietnam. It was advantageous to do so, because the Australian currency rate is the highest in the last 24 years (somewhere between 93 and 94 cents to one US dollar), and we knew her son would receive the money the very same day, as there is only a 4-hour difference between Australia and Vietnam.

We headed back to Cabramatta Station and on the way we stopped at our favourite Vietnamese bread shop “Lâm Thiên”, owned by the lovely Thảo and her husband, to buy two chicken rolls which cost $3.80 each. We also bought drinks to accompany the chicken rolls, and the bill came to about $10 altogether.

We took the train to Central Station, a ride of about 50 minutes, and ate our brunch on the train. On alighting from the train we took the light rail tram to the Star City Casino. This cost only $4.20 return for a senior citizen like me, as the train concession ticket did not cover this journey. We arrived at the Casino at 12.45 pm and I told my sister she could go wherever she wanted to, and we would rendezvous in 2 hours’ time at the front staircase. I headed for my favourite ‘sport’, roulette.

We bumped into each other throughout that time to check on our winnings, and she told me that she was on a losing streak. I told her that I had won more than $2000 and, after cashing in, I had one $25 chip and two $5 chips left, which I gave her as a gift. I had previously given her $50 as she had forgotten to bring her purse with her.

My sister is sort of superstitious, and believes in Chinese horoscope. After my winning, she said that Monday was a propitious day for my animal sign, as well as the number two. I won twice at roulette on the doubles, first on 33 and then not long after, a double on number 2. I don’t know if she is psychic or not, but the omens for good luck were not so at the beginning of our journey, as I had sent money to her son in Vietnam and I had given her $50 to gamble. It just goes to show that I’m not superstitious, even if she is.

A motto within the gambling circle is: “Sometimes winning is knowing when to stop”, and I for one believe in it. On a particular day-out at the casino, I would stop gambling at some stage, whether I’m winning or losing. When playing my ‘one and only game’ roulette, the most I’m prepared to lose is $500, that’s all there is to it.

My sister and I left Star City at 3 pm after having our day at play. My outlay for this great day was $6.70 return for my fares, $6 for food and drink, and my gambling money, of which I only used $200. All in all, I came away ten times better off, and my sister, in spite of all her wriggling, enjoyed the day. It was a good feeling all around! 

 

Lời bàn:

Có điều đáng chú í là khi người Việt bị đỉa cắn, ta dùng vôi để cho đỉa đau, đỉa xót mà phải chùn, phải giãy, thì đến lúc đó mình sẽ “bứng” đỉa ra dễ dàng, còn Tây phương thì họ dùng muối thay vôi. [In English, there is no association in the saying with leeches or lime, and if a leech is to be prised from a body, salt is used instead of lime.]

 

“Giãy như đỉa phải vôi” hay “Giãy lên như đỉa phải vôi”, hay còn nói “Giãy nảy như đỉa phải vôi” có nghĩa là: “Giãy nảy lên với cử chỉ khua tay, lắc đầu nguây nguẩy, tỏ vẻ không đồng ý, không hài lòng, ví như con đỉa quằn quại trong vôi.” (Từ điển Thành ngữ Việt Nam, Viện Ngôn Ngữ Học, Hà Nội, 1993). Để diễn tả sát nghĩa thành ngữ tiếng Em đó sang tiếng Anh thì ta có thể nói: “Wriggling around like a leech with lime on its body”. Nhưng động từ “to wriggle” trong tiếng Anh thường được dùng để chỉ hành động “vặn vẹo, luồn lách” khỏi “chỗ chật hẹp”, “nơi bị mắc kẹt” hòng thoát ra ngoài. Thí dụ:  The eel wriggled out of my fingers (= Con lươn luồn lách khỏi tay tôi). Cụm từ “to wriggle out of something/doing something” hay “to wriggle one’s way out” dùng như thế là với nghĩa đen, nhưng khi dùng với nghĩa bóng thì có nghĩa là “lẩn tránh; tránh né”. Thí dụ:  “She tried to wriggle out of paying me what she owed by saying she didn’t have her purse with her (= Cô ta cố tránh né không trả tiền cô ấy nợ bằng cách nói là quên không mang theo ví/bóp), hay một thí dụ khác: “He wriggled his way out of shouting a beer, by going to the toilet when it was ordered (Hắn lẩn tránh trả tiền mua bao/đãi bia bằng cách đi vô nhà vệ sinh khi người ta kêu bia uống). Theo văn hoá Úc, khi vào “pub” uống bia, với nhóm bạn thì bạn bè lần lượt thay phiên nhau mua bia bao/đãi người khác; bao qua bao lại mà tiếng Úc gọi là “to shout; shouting”. Khi họ nói “Now it’s my shout!” thì có nghĩa là “Giờ đến lượt tôi bao nhe!”

 

Chú thích từ vựng:

 

 1) to entertain = tiếp đãi; chiêu đãi.

 2) to figure (that) = nghĩ (rằng); tính (là).

 3) poker machines = (những) máy kéo (đánh bạc; đánh bài xì); (còn gợi là “pokies”)

 4) outing = cuộc đi chơi ngắn (ngoài trời).

 5) she appeared embarrassed = bà ta có vẻ/xem ra ngượng ngùng/bối rối.

 6) adamant = khăng khăng; nhất quyết (kiểu “em chả! em chả!”; “hổng chịu đâu!”)

 7) her reaction reminded me of = phản ứng của bà ta khiến tôi nhớ đến.

 8) to wriggle = ngọ nguậy; giãy giụa; quằn quại.

 9) leech = con đỉa.

10) lime = vôi.

11) to insist = khẩn khoản; nài.

12) pensioners = (những) người được hưởng tiền trợ cấp.

13) transport concessions = (sự) giảm giá khi di chuyển bằng xe cộ.

14) to alight = (từ trên xe buýt/xe lửa/ngựa) xuống xe; xuống ngựa.  

15) money transfer = chuyển tiền.

16) Australian currency rate  = giá hối suất tiền Úc.

17) chicken rolls = (những) ổ bánh mì gà/thịt gà.

18) the bill = hoá đơn; giá tiền phải trả.

19) light rail tram = xe điện (loại nhỏ, chạy trên đường rày hẹp, không lớn như xe điện ở Melbourne).

20) to rendezvous with someone = hẹn gặp ai tại điểm hẹn.

21) staircase = cầu thang gác.

22) roulette = (môn đánh bạc) ru-lét; cò quay.

23) to bump into each other = đụng đầu nhau; gặp nhau (ngẫu nhiên).

24) to be on a losing streak = đang bị thua; đang gặp vận đen.

25) to cash (in) = đổi tiền “chips” lấy thành tiền mặt.

26) chips =  (những) mảnh tiền dẹp bằng nhựa, hình tròn dùng thay tiền thật để đánh bạc.

27) purse = ví/bóp đựng tiền (của đàn bà/phụ nữ).

28) superstitious = mê tín dị đoan.

29) horoscope = tử vi.

30) propitious day = ngày tốt; tốt ngày; ngày may mắn.

31) psychic = đồng bóng.

32) omen = (cái) điềm.

33) outlay = số tiền vốn bỏ ra; kinh phí.

34) that’s all there is to it = tất cả chỉ có thế thôi, có vậy thôi.

 

Trịnh Nhật, PhD

Sydney, 18.3.2008

 

Trở về Trang Chính